Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011

Nam Bộ thế kỷ XVII và việc chuyển giao chủ quyền

I. Chân Lạp và vùng đất Nam Bộ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI
Các tên gọi "Thủy Chân Lạp'' để chỉ vùng đất Nam Bộ ngày nay có lẽ đã xuất hiện trong sách sử Trung Quốc từ sau khi Chân Lạp đánh bại Phù Nam vào TK VII, để phân biệt với "Lục Chân Lạp", lãnh thổ Căm pu chia ngày nay.

Tuy nhiên Chân Lạp gặp nhiều trở ngại trong việc sở hữu và quản lý vùng đất này.
Đây là vùng đồng bằng mới được bồi lấp, nhiều, không thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn, hơn nữa họ chỉ quen khai thác trên những vùng đất cao. Chính vì vậy việc quản lý vùng đất này vẫn thuộc về những người có dòng dõi vua Phù Nam.
Phù Nam vốn là đế quốc hùng mạnh với nhiều tiểu quốc, trong đó có Srivijaya của
người Java, tiếp tục tồn tại và phát triển sau khi Phù Nam tan rã, Chân Lạp cũng như vùng đất Nam Bộ với tên gọi lúc đó là Thủy Chân Lạp đã có gần 100 năm ( tính cho đến năm 802) thuộc quyền cai trị của người Java.

Từ TK IX đến cuối TK XI Chân Lạp là một quốc gia cường thịnh với văn minh Angkor rực rỡ, điều đó cho thấy sự quan tâm và những nỗ lực của chính quyền Chân Lạp cho vùng đất căn bản mang tính truyền thống ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông, từ đó mở rộng ảnh hưởng về phía Tây, lưu vực sông Chao Phaya
Kết quả nghiên cứu từ các di chỉ khảo cổ học cho thấy ảnh hưởng của văn minh Angkor và dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất Nam Bộ trước TK XVI là không nhiều. Châu Đạt Quan- sứ thần TQ, đến Chân Lạp vào những năm 1926-1927 trong một tài liệu mang tên " Chân Lạp phong thổ ký" đã miêu tả như một vùng đất hoang sơ, không một bóng người.

Từ cuối TK XIV các vương triều Xiêm đã liên tục bành trướng, gây áp lực với Chân Lạp, chiến tranh diễn ra trong suốt 78 năm từ 1353 đến 1431 dưới triều vua Ayuthaya ( Xiêm). Vì vậy trong các TK XVI và XII đã có sự chia rẽ nghiêm trọng trong nội bộ triều đình Chân Lạp, cũng từ đây Chân Lạp bước thời kỳ suy vong.
Cũng như vậy Chân Lạp cũng mất dần khả năng kiểm soát đối với vùng đất Nam Bộ của chúng ta ngày nay.
II.VIỆC CHUYỂN GIAO CHỦ QUYỀN VÀO THẾ KỶ XVII
Từ đầu thế kỷ XVII, lưu dân người Việt từ Thuận-Quảng đã đến Mô Xoài ( Bà Rịa),
Đồng Nai ( Biên Hòa) khai phá vùng đất này, hình thành những làng, xã đầu tiên của người Việt ở đây. Giáo sĩ người Ý có tên là C.Borri đã sống ở thị trấn Nước Mặn( nay thuộc Tuy Phước- Bình Định) từ năm 1618 đến năm 1622 cho biết, dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu người Việt của vua Chân Lạp Chay Chetta II, vùng đất này ngày càng thu hút đông đảo cư dân người Việt, đó chính là cơ sở kinh tế-xã hội để các chúa Nguyễn từng bước hợp thức hóa chủ quyền đối với Nam Bộ trong hòa bình, chứ không phải bằng bạo lực như sự thay đổi chủ quyền vào năm 55o từ Phù Nam sang Chân Lạp.
Có thể nói đã có một thay đổi quan trọng trong bang giao giữa Chân Lạp với Đàng trong của các chúa Nguyễn từ sau cuộc hôn nhân của Chay Chetta II với công chúa Ngọc Vạn, lưu dân người Việt sinh sống và làm ăn ở đây đã có được một hậu thuẫn
quan trọng, một đảm bảo cho công cuộc mưu sinh ở một vùng đất hoang dã, ngập
nước sình lầy. Cũng từ đây một cơ chế quản lý chính thức và bán chính thức mang
tính nhà nước của các chúa Nguyễn được dần dần hình thành trên đất Chân Lạp để đến năm 1698 thiết lập chính hệ thống hành chính đầu tiên của Đàng trong, ghi
nhận một mốc son của việc chuyển giao chủ quyền của Chân Lạp cho các chúa Nguyễn ở vùng đất Nam Bộ ngày nay.
Giai đoạn từ năm 1623 đến 1698 có thể được coi như thời kỳ hình thành và xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất vốn là của Chân Lạp vớih một số sự kiện
chủ yếu sau :
1. Thiết lập trạm thu thuế
Năm 1623 một phái bộ của chúa Nguyễn đến Oudong xin lập thương điếm và mở trạm thu thuế tại Prei Nokor ( Sài Gòn) và Kas Krobei ( Bến Nghé), thành công của
thương vụ này có đóng góp quan trọng của Hoàng hậu người Việt ( Ngọc Vạn!!!). Sự
kiện này được ghi nhận trong Biên niên sử Khmer do người Pháp viết.
2. Thiết lập đồn binh
Việc hình thành các căn cứ quân sự ở một vùng đất ngày càng đông lưu dân người
Việt đến làm ăn, sinh sống, để đảm bảo an toàn về con người và tài sản là một nhu cầu tất yếu. Sự ra đời của các đồn binh được ghi lại cụ thể sử sách nhà Nguyễn.
Một vài chấm phá từ sử liệu đủ cho thấy sự hình thành chủ quyền trên vùng đất
Nam Bộ ngày nay từ Chân Lạp không phải bằng chiến tranh và bạo lực để thôn tính đất đai mà bằng lao động khai phá, hình tượng " Mang gươm đi mở cõi " của
Huỳnh văn Nghệ, vì thế cần phải hiểu lại cho đúng.
31 tháng 5 năm 2011

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Đôi nét về Công nữ của dòng Nguyễn Phúc

Có thể nói câu thơ "... Từ thuở mang gươm đi mở cõi " của Huỳnh Văn Nghệ đã ám ảnh chúng ta gần suốt 1 cuộc đời .Càng về già ta càng ngộ ra cái ý nghĩa lớn lao mang tính sống còn của công cuộc Nam tiến của tiền nhân, đặc biệt vai trò của dòng Nguyễn Phúc - mở đầu bởi Đức Nguyễn Hoàng (1525-1613)
Trong công cuộc khai phá đầy gian truân thử thách ấy,nào mấy ai trong chúng ta ngờ rằng có sự đóng góp tuyệt vời của những ngưới đàn bà dòng Nguyễn Phúc : những Công nữ .

Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) là con trai thứ 6 của Nguyễn Hoàng,lên ngôi Chúa ở tuổi 51, có 11 con tai và 4 con gái .
Theo 1 số nguồn sử liệu thì người con thứ 3 của Chúa Sãi - Công nữ Ngọc Khoa được gả cho vua Chiêm PoRome ở Bình định.Nàng làm Hoàng hậu xứ Chàm đc 20 năm, đưa dc nhiều người Việt vào khai khẩn tại đất Chăm.1651 có chính biến, vua và hoàng hậu Chăm bị giết hại,mở đường cho Chúa Nguyễn vào bình định đất Chiêm , sáp nhập Quảng ngãi , Bình định , Phú yên , Khánh hòa ,Ninh thuận , Bình thuận vào Đàng trong .
Li kì hơn nữa,người con gái thứ 2: Công nữ Ngọc Vạn được gả cho vua xứ Chân lạp Chey Chetta2 năm 1620 khi nàng vừa tròn 18 tuổi .Đây là người con mà Chúa Sãi yêu quí nhất, nàng vừa xinh đẹp tuyệt vời, lại giỏi giang và chí lớn hơn người...đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ cao cả của 1 cuộc hôn nhân chính trị .
Lúc này, Chân lạp ko còn mạnh như cách đó vài thế kỉ,thường bị Xiêm la quấy rối - nên liên minh với Đàng trong đã trở thành 1 quốc sách .Bởi vậy , là Hoàng hậu Chân lạp, với sắc đẹp trời cho và sự thông minh mẫn tiệp,tình yêu nước sâu sắc, Công nữ Ngọc vạn đã từng bước thuyết phục đc nhà vua cho phép dân Việt vào khai khẩn đất ở toàn bộ vùng Thủy chân lạp ( toàn bộ từ nam Phú yên đến hết đồng bằng sông CL ).Tiếp theo với sự khéo léo của mình,Nàng đã vượt qua sự chống đối của triều đình Chân lạp,xin phép Vua cho dân Việt được thành lập những đội vũ trang tự vệ....rồi thành lập thương điếm Pray Ko r ( Saigon-chợ lớn sau này ) - nơi đặc biệt thuận lợi cho công chuyện làm ăn , thu hút ngày càng nhiều cư dân Việt vào sinh sống....và mọc rễ ở đó .
Mặc dầu chỉ sống với vua có 8 năm ( vua chết trẻ ) nhưng với bản lĩnh phi thường Bà luôn đứng vững ở vai trò Quốc Mẫu ( gần 50 năm ), vượt qua bi kịch cá nhân , là cầu nối ,góp phần buộc chặt 1 phần cái triều đình vốn rệu rã và bất hòa này với chính quyền nhà Nguyễn....tạo tiền đề cho hậu thế , 1698 chiếm Sài gòn,1714 chiếm Hà tiên - hoàn thành sư nghiệp Nam chinh .

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Một chút về Khám lớn Sài gòn

Góc đường Lý Tự Trọng và đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa có một tòa nhà mang lối kiến trúc phương Tây, đó là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia khu vực 2. Hơn 60 năm trước, khu đất này là nhà tù của thực dân Pháp có tên Khám Lớn Sài Gòn (Maison Centrale de Saigon).

Khám Lớn Sài Gòn được xây dựng trên khu đất của chợ Cây Đa Còm và xung quanh có 4 con đường là Lagran Diere (đường Lý Tự Trọng); Mac Mahon (đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa); đường Espagne (đường Lê Thánh Tôn) và đường Filippini (đường Nguyễn Trung Trực). Từ Khám Lớn Sài Gòn đi sang Tòa án Sài Gòn không đầy trăm mét và dưới thời Pháp, hai nơi này cùng với Dinh Thống đốc Nam Kỳ tạo thành một “tam giác quỷ”.

Vào ngày 8/3/1953, sau khi Khám Chí Hòa đã xây dựng hoàn chỉnh thì Bảo Đại cho phá Khám Lớn Sài Gòn và xây Trường đại học Văn khoa.

Khám Lớn Sài Gòn xây từ năm 1886 và sau hơn 4 năm thì xong. Khởi đầu, khám dài hơn 30 mét và rộng 15 mét, có lối đi hẹp ở giữa. Hai bên là hai gian nhà giam, có hai bệ xi măng được tráng một thứ nhựa giống như nhựa đường màu đen, trên cùng trổ một cửa sổ nhỏ, nhỏ đến mức không đủ cho ánh sáng mặt trời lọt vào.

Vào những năm đầu thập niên 30, thực dân Pháp cho xây thêm nhiều buồng giam và phân chia thành nhiều khu vực để giam cầm nhiều loại tù nhân khác nhau. Khám Lớn Sài Gòn là nhà giam lớn nhất Việt nam thời bấy giờ. Trong khám có khu biệt giam tù chính trị, có nơi giam người bị kết án tử hình, gọi là “xà lim án chém”; có phòng để máy chém. Máy chém của Khám Lớn Sài Gòn được đưa từ Pháp sang. Máy chém cao 4,5 mét, có lưỡi dao vát cạnh nặng 50kg. Rạng sáng ngày 21/11/1931, thực dân Pháp đã dùng máy chém này xử tử Lý Tự Trọng.

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Bài hát yêu cầu (Lê Tiến Dũng K3)



Có những niềm riêng - hát : Sinh Nguyễn
Sáng tác: Lê Tín Hương


Có những niềm riêng làm sao nói hết
Như mây như mưa như cát biển khơi
Có những niềm riêng làm sao ai biết
Như trăng trên cao cách xa vời vợi.

Có những niềm riêng lệ vương khóe mắt
Như cây sau mưa long lanh giọt sầu
Có những niềm riêng làm tim thổn thức
Nên đôi môi xinh héo hon nụ cười.

Này niềm riêng như nước vẫn đầy vơi
Đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời
Ôi nỗi sầu đong chất ngất
Như một ngày như mọi ngày
Như vạn ngày không thấy đổi thay.

Có những niềm riêng lòng không muốn nhớ
Nhưng sao tâm tư cứ luôn mộng mơ
Có những niềm riêng gần như hơi thở
Nuôi ta cô đơn nuôi ta đợi chờ.

Có những niềm riêng một đời dấu kín
Như rêu như rong đắm trong biển khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi. 

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Họp CB mở rộng. (P2)


Xin giới thiệu phần "động" của buổi gặp mặt CB Bình Ngọng mở rộng nhân ngày Thống nhất đất nước.



Clips quay bằng máy  ảnh sealife D800!

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

Thời cổ đại có bị ung thư không

Các giáo sư, tiến sỹ cãi nhau mấy chục năm nay chỉ vì mỗi chuyện: Con người thời cổ đại có mắc bệnh ung thư không? Dưới đây là một vài ý kiến trong bọn họ:

Ung thư là một trong những căn bệnh phổ biến nhất trên hành tinh, đứng thứ hai sau các bệnh tim mạch. Theo WHO, mỗi năm có hơn 6 triệu người chết vì ung thư và gần 10 triệu trường hợp mới được phát hiện. Các bác sĩ và nhà nghiên cứu khoa học đang tìm cách để đánh bại căn-bệnh-có-nguyên-nhân-đến-nay-vẫn-chưa-được-hiểu-rõ. Đôi khi, phải đi sâu vào quá khứ để cố gắng trả lời các câu hỏi mà giới chuyên viên đặt ra. Đó cũng là công việc của các nhà khoa học Anh đã nghiên cứu gần một nghìn xác ướp cổ Ai Cập và Nam Mỹ. Họ nhận thấy, trong số tất cả các loại bệnh tác động tới con người cách đây 3000 năm, không gặp trường hợp thuộc về bệnh ung thư.

Thời cổ đại, con người không bị bệnh ung thư. Đây là kết luận của các nhà khoa học Anh, đi sâu vào quá khứ hàng nghìn năm để nghiên cứu các nguyên nhân gây nên bệnh ung thư. Theo họ, ung thư là một sản phẩm của nền văn minh.

Giáo sư David Zaridze, Trung tâm nghiên cứu ung thư Viện hàn lâm y học Nga nhận xét, có những cơ sở thực tế cho giả thuyết của các nhà khoa học Anh, cho rằng vào thời thượng cổ, trong môi trường không tồn tại yếu tố gây nên căn bệnh hiểm nghèo. Chỉ cần tham khảo các thống kê liên quan cũng đủ thấy rằng, ngay cả vào đầu thế kỷ 20, rất hiếm gặp trường hợp khối u ác tính.

Theo David Zaridze, những nguyên nhân gây bệnh xuất hiện cùng với sự phát triển của tiến bộ công nghệ, do ảnh hưởng của các yếu tố nền văn minh. "Trước hết, đi liền hoạt động công nghiệp hóa là những biểu hiện ô nhiễm môi trường. Đó không chỉ là không khí mà chúng ta hít thở, mà trước hết là sự ô nhiễm môi trường làm việc. Tiếp đến, giai đoạn Thế chiến thứ nhất, thuốc lá đã được đưa vào sản xuất công nghiệp. Cùng với sự ra đời của công cụ mở rộng khả năng tiêu thụ thuốc lá, tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư phổi và các loại ung thư khác liên quan đến hút thuốc lá đã tăng nhanh".

Tuy nhiên, cũng có giả thuyết là người cổ đại đã không được sống tới lúc bị bệnh ung thư, bởi căn bệnh này có đặc tính tuổi tác. Giáo sư David Zaridze nói "Người cổ đại chết vì bị thú ăn thịt, chém giết nhau trong chiến tranh. Có thể họ chết vì một số bệnh mà ngày nay chúng ta không biết đến. Người cổ đại thường qua đời trước khi ung thư kịp phát triển. Ung thư là căn bệnh của tuổi già và trung niên. Ngay cả vào đầu thế kỷ 20, tuổi thọ trung bình trên thế giới mới chỉ ở mức 40-45 tuổi, còn hiện nay tuổi thọ trung bình ở các nước phát triển là 80-85".

Trong cơ thể con người liên tục diễn ra các sự đột biến của gen. Thông thường những đột biến này được bù đắp, có nghĩa được cơ thể loại bỏ. Nếu điều này không diễn ra sẽ xuất hiện ung thư. Những yếu tố bên ngoài đang làm tăng mạnh nguy cơ nảy sinh đột biến không thể loại bỏ. Dưới thời cổ đại, hầu như không có những mối nguy hiểm như vậy. Kết luận của các nhà nghiên cứu Anh không có ý kêu gọi chúng ta trở về hang động, nhưng nói lên sự cần thiết giảm thiểu tác động có hại của môi trường đối với con người.

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

CHÀO MỪNG NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
 - THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Họp CB mở rộng. (P1)

  Là CB của Bình ngọn nên rất cởi mở và phần nào đó dân chủ. Vì là CB nên về đường lối chung, nó cũng tuyệt đối tuân theo ý chí của Đ ta: Thời kỳ lạm phát với chỉ số tiêu dùng tăng 10% chẳng hề gì! cứ quán triệt nghị quyết là bình ổn được tuốt. Cụ thể nghị quyết: Mỗi đ/c nộp 10% lương hưu để ăn mừng ngày giải phóng MN, thống nhất đất nước. Để đúng với ý nghĩa "kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" Bí thơ mở ngoặc thêm: "Đ/c nào nạp trước 1/5/2011 sẽ được bớt 10% (của cái 10% ý)!" Vậy là anh em hưởng ứng góp đầy đủ ngay sau khi bí thơ gương mẫu nộp đầu tiên. Chỉ là phần trăm lương hưu, nhưng nhờ sức mạnh ĐV của CB nên tổng cũng kha khá. Bí thơ ra nghị quyết tiếp theo: "Tổ chức gặp mặt nhân ngày lễ trọng đại này phải được làm tại địa điểm mới, có phòng biệt lập, máy lạnh mát rượi, phục vụ chu đáo, món ăn ngon và quan trọng nhất là đủ khách thân"
    Nghị quyết phải được quán triệt! Địa điểm là nhà Hàng Kỳ Đồng 2. Địa chỉ quen thuộc của BT! Phòng máy lạnh lầu 1. Khách thì trên cả mong đợi, ngoài đội chị em Minh Oanh Vân Hoa....còn có các đ/c đã lui về "dự bị" như Công còm, Kỳ Nghĩa, Đức Cối...Rồi nhóm Tám Tự, Chí Nhân...và cả các chú em K6, K7. Đặc biệt có sự góp mặt của 2 VIP trong BLL trường là Vinh Voi và Thái Mã.
   Chỉ là qui mô CB nhỏ trong k3, nhưng buổi gặp mặt cực dzui dzẻ. Mời các bạn coi hình trước nha, món ngon để sau, sẽ có trên phần kế tiếp

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Giày đi bộ

Bọ nay đã già. Sáng sáng bọ ra công viên đi bộ (gọi là "đi bộ thể thao") để cho nó khỏe. Nhưng nếu đi giày không đạt chuẩn thì, thay vì đi bộ là tốt, có thể hư chân, hư tuốt lên đầu gối, lên nữa. Vậy làm sao để chọn được giày đi bộ?
Dưới đây là kinh nghiệm của bá tánh:

1. Theo kinh nghiệm của anh Dũng, một người sành về giầy thể thao, thì hầu hết các hãng giầy nổi tiếng trên thế giới đều đúc logo của hãng vào đế. Logo được đúc rất sắc nét, không bị méo. Những đôi giầy nhái thường có kiểu “đầu Ngô mình Sở”, logo khi thì dập, lúc thì thêu trên trên giầy, ít khi đúc ở đế giầy, hoặc nếu có thì rất “nhoè”, hình ảnh không nét. Giầy “xịn” lót thường làm bằng da hoặc vật liệu tổng hợp, được dán keo rất kỹ vào đế, không bị bong tróc hay xô lệch.
Lót giầy của hàng nhái thường làm bằng bìa cứng, nên dễ bung, dễ ngấm nước. Với loại hàng nhái tinh vi thì khó phân biệt hơn, người mua cần kiểm tra kỹ đường nét, mầu sắc, còn lại là... phó mặc cho “may rủi”.

2. Và anh Âu, chủ một cửa hàng giầy thể thao ở đường Nguyễn Trãi thì cho rằng, giầy thể thao hàng xịn rất nhẹ, chỉ khoảng vài trăm gram, đi êm chân, đệm lót mềm, khả năng hút ẩm tốt. Đế giầy được ép nhiệt nên khác với hàng nhái được dán keo, vì thế ít khi có hiện tượng bong tróc hay há mõm. Điều quan trọng nhất khi đi mua giầy nên đặt giầy lên một mặt phẳng, xem chúng có cân đối không. Giầy tốt sẽ không bị nghiêng vẹo, đầu và gót nằm trên một mặt phẳng, khi ấn vào mũi hoặc gót giầy, giầy vẫn không bị bập bênh.

3. Cách lựa chọn giày thể thao: "Nếu luyện tập trên 3 lần/tuần thì giày thể thao là người bạn đồng hành tốt nhất".

- Thử cả hai bàn chân khi đo giày. Vì bàn chân có thể tăng/giảm kích cỡ hơn so với đôi giày cũ.
- Thử giày ở bàn chân lớn nhất. Hầu hết mọi người đều có một bàn chân lớn hơn chân kia.
- Thử giày cùng với loại tất và quần áo thể thao bạn sẽ mặc cùng.
- Ngoáy ngó ngón chân. Nếu các ngón chân có thể tự do ngoáy ngó trong giày thì giày đó phù hợp với bạn.
- Chú ý kích cỡ và kiểu dáng của các thương hiệu giày khác nhau.
- Thấy thoải mái khi đi (thử) giày.
- Nếu có thể hãy đi bộ hay chạy thử.
- Thấy gót chân của bạn thật vững chắc.
- Bạn nên đi mua giày vào buổi chiều để bảo đảm giày không bị chật.

Thời gian tốt nhất để thay giày mới? Thời gian để thay thế một đôi giày thể thao phụ thuộc vào tần suất sử dụng, tình trạng và tuổi của giày. Giày thể thao nói chung nên được thay thế khi:
- đi/chạy được 4.800-8.000km.
- 300 giờ tích cực hoạt động cùng với giày.
- 45-60 giờ bóng rổ, aerobic dance hay quần vợt.

Nên thường xuyên kiểm tra 4 phần chính của giày thể thao là phần ngoài cùng của đế giày; phần giữa giày; phần gót chân – điểm dễ bị tổn thương giúp giữ chân, ngăn cản chuyển động quá mức gót chân; phần giày gần xương ống chân (khu vực giày uốn vòng cung).

Chúc các bọ chọn được đôi giày như ý (còn tui, tui đã chọn Chân Nhái thay vì chọn giày).

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Nhặt nhạnh Tây Nguyên

Tôi đi TN nửa tháng, trời khô khốc, lúc nào cũng như uống không đủ nước. Đề tài báo giao cho làm thì hay: những di sản đang “bay” mất, tiếp theo cái phần chữ Thái nhà Mông hôm trước đã kể với anh em. Nhưng viết cho báo chính thống thì vừa đéo vừa run. Tiếc của giời, đổ ra đây anh em sài tạm…
- TN được giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, văn hóa đánh giá rất cao. Ở chỗ là cái bảo tàng sống. Một xã hội còn nhiều dấu vết thị tộc, gần như không có ảnh hưởng Trung Hoa như phía Bắc, Ấn Độ như phía Nam, còn Pháp để lại có nhưng ko đáng kể lắm. Nó được ví như một văn hóa tương đương Đông Sơn với người Việt. Còn chế độ mẫu hệ. Ê đê – chủ yếu ở Đắc Lắc - được người Pháp đánh giá là tộc thông minh, hùng mạnh nhất. Có thuyết bảo họ từ Nam Ấn xuống đường sông Mê Kông, vượt biển sang Mã Lai, In đô, rồi lại vượt biển về duyên hải ta, đụng người Chăm bật lên TN, đứng chân lại. Tất cả đều là do chiến tranh giành nơi cư trú giữa các thị tộc. Đàn ông Ê đê có miếng đỏ rực trước ngực, tượng trưng cánh buồm vượt biển năm xưa của tổ tiên. Ê đê tiếp tục chèn ép M’nông “bản địa hơn”, đẩy họ từ ĐẮc Lắc xuống Đắc Nông hiện nay, và sang Lâm Đồng thành K’ho.
Người TN quan niệm dòng sông, bến nước, khu rừng, nương rẫy đều có linh hồn, tức họ theo Đa thần giáo.
- TK 19, đây là vùng “Hoàng Triều Cương thổ” của nhà Nguyễn. Sự cai quản rất lỏng lẻo, phó cho hai thủ lĩnh địa phương là chính, gọi “Vua Lửa” và “Vua Nước”, có triều cống sừng tê, ngà voi… Tổ Tây Sơn ở giáp An Khê, là tù binh bị bắt từ Nghệ vào, anh em ông Nhạc, Huệ chuyên đi buôn trầu không, cồng chiêng, quen biết các tù trưởng, nhờ đó, và nhờ những cánh đồng rộng, có lương thực và đội tượng binh hùng mạnh.
Nguyễn Ánh dựa vào Tây lấy giang sơn. Nhưng ông con, Minh Mạng, bình Tây sát Tả, làm đám cha cố miền Trung dạt lên TN, đem theo mấy gia đình Bình Định, lập các làng người Việt đầu tiên. Sau An Khê, thì Kon Tum (làng gò đồi) là chỗ đỗ lại nhiều, nên tòa giám mục địa phận TN lập ở đây, tức cái nhà thờ gỗ nổi tiếng ngày nay.
- Theo tạp chí Ngok Linh của nhà văn Nguyên Ngọc, gần 10 năm trước, người bản địa (Ba na, Ê đê, Gia Rai, Xê đăng, K’ho…) có 1 triệu, còn 3 triệu là Việt, Tày, Nùng, Quảng, Nghệ, Thừa Thiên… Giờ thì đã đứng chân đủ 54 dân tộc.
Đất đai quá tốt, nó thành đất hứa cho nông dân những vùng vừa ít ruộng vừa cằn cỗi. Người ta đi theo quy hoạch, kiểu kinh tế mới, rồi đi tự do, từng làng từng họ kéo nhau vào. Trên răng dưới dái chả thằng đéo nào nghĩ chuyện về, vì làm ăn quá dễ. Dân mới căn cơ, chăm chỉ, táo tợn, nhiều anh đi kiểu trong nghị quyết tỉnh ghi là để “làm trong sạch địa bàn” – tức rách giời rơi xuống.
- Nảy sinh vấn đề sở hữu. Đất đồng bào thành đất công, nhà nước, quay đi quay lại thành đất nông trường, dự án, quay phát nữa thành của riêng ông nào đó. Muốn vào rừng lấy mật trên cái cây mình đã đánh dấu không được. Rẫy cũ không còn. Nhiều khi bán cho dân mới rồi đi làm thuê trên chính đất ấy.
Tất nhiên đồng bào học được cách làm ăn của người mới, cũng cà phê, cao su, có điện đường trường trạm. Nhưng có tiền cho con đi học Sài Gòn thì rất hiếm. Người nông dân Bắc Bộ, nếu cứ ở quê, hay đi công nhân ở Bình Dương, Biên Hòa, chả bao giờ dám mơ đi máy bay về thăm quê như đám TN.
- Về văn hóa là thàm họa rồi. Người Kinh cho nhiều thứ, nhưng muốn đồng bào nghĩ, sống giống mình, cho thế mới là ko lạc hậu. Làm nhà rông bê tông họ không đến, vừa nóng vừa không có linh hồn. Nhiều khu định cư mới họ bỏ, ra nhà ngoài rẫy ở. Mà có ở thì bên nhà bê tông xây sẵn nhất định làm nhà sàn. Nhà sàn sàn tre mái tranh dầy, đỡ nóng, rượu cần rớt ra, rác rưởi rơi xuống dưới cả, hút tẩu thuốc nhổ dễ. Nhổ rất mả, vèo phát đúng khe sàn. Và đống lửa trên nhà sàn ấm áp hơn.
Một điều làm mình bất ngờ: Tin lành là một yếu tố phá văn hóa ác liệt. Cấm cồng chiêng, uống rượu, hút thuốc, cúng lễ, họ làm những sử thi kể nguồn gốc tổ tiên, những cuộc nhảy múa… không còn đất sống. Một già làng ở Lâm Đồng, người K’ ho, giải thích theo TL “vì giảm được nhiều lễ, bớt tốn kém lắm”.
- Không tìm hiểu về các tôn giáo cùng ảnh hưởng, tôi thấy vùng theo Công Giáo còn nhiều di sản văn hóa hơn. Không cấm đoán cúng lễ. Mấy anh đàn ông chỉ vài thanh tre đã lắc lư “lên đồng” được. May mắn vào một làng Ba na nguyên bản, nhà sàn quây quanh nhà rông như đàn gà con quây về mẹ. Còn năm ông già ở lại, trong khi con cái ra khu định cư cả, thỉnh thoảng quay về trông họ, đám gà lợn, và… đưa ma. Đi lại trong cái làng hoang thấy như hồi chiến tranh, làng chạy càn, vài ngày sẽ về. Nghe quả xoài non rụng cái bộp, vắng ơi là vắng.
- Tác giả “Đất nước đứng lên” luôn xót xa cho TN: “Không có không gian văn hóa thì không còn văn hóa”. Một nhà báo khác: “Ngôi bảo tàng sống đang chết lâm sàng”.
Tôi không nghĩ tất cả nên quay về như cũ. Nhưng nắm tay đồng bào lôi xềnh xệch đến văn minh sẽ đánh mất nhiều thứ lắm. Hai không gian văn hóa cơ bản là rừng ở TN, và làng ở Bắc Bộ, nó đang tan ra từng mảnh, mà cái thay thế rất chi nhiều bất ổn.
Vài dòng ghi vội, “đăm chiêu” có khí nhiều?

Trường Chiến

Cảm là gì (Đông y)

(BS.LÊ QUYÊN)

Thuật ngữ "Cảm" theo Ðông y để chỉ những tình trạng bệnh lý gây ra bởi sự xâm nhập của các yếu tố thời tiết, khí hậu bất thường vào cơ thể. Yếu tố thường gặp nhất là lạnh, và những rối loạn cơ thể do nhiễm lạnh được gọi là cảm lạnh. Ðông y gọi cảm lạnh là "Thương hàn" – nó khác với bệnh Thương hàn (Typhoid) của Tây y.

Khi hàn khí lưu hành, nếu cơ thể suy yếu thì chính khí không thể đối kháng được hàn tà, do đó hàn khí sẽ xâm nhập vào kinh lạc và tạng phủ gây ra bệnh thương hàn. Chính khí, tức khí dương (hay còn gọi là khí thái dương), là năng lực tự vệ của cơ thể con người chống lại tất cả mọi sự tấn công của những biến chuyển khí hậu, thời tiết bên ngoài (gió, mưa, lạnh, nóng, khô...). Khí dương này ở trên bề mặt da vào ban ngày và lui vào trong tạng phủ vào ban đêm. Do đó, người ta dễ nhiễm lạnh nếu nằm ngủ suốt đêm trước quạt máy, nơi có gió lùa hoặc trong môi trường quá lạnh.

Khí dương (hay khí thái dương) trong cơ thể do 2 kinh mạch thống lĩnh là kinh Túc thái dương bàng quang và Thủ thái dương tiểu trường. Sự phân bố của 2 kinh này chi phối toàn bộ phần sau cơ thể, được xem như hàng rào ngoài cùng để bảo vệ cơ thể. Khi khí lạnh phá vỡ được hàng rào này và xâm nhập vào cơ thể, các triệu chứng đầu tiên thường là ớn lạnh dọc xương sống, đau nhức cổ gáy, nhức đầu vùng đỉnh và sau gáy, đau ngang thắt lưng, lạnh 2 bàn chân.

Vì sao bị cảm?
Dĩ nhiên thủ phạm chính là khí lạnh, nhưng như đã nói trên, khí lạnh chỉ xâm nhập cơ thể và gây bệnh được khi khí dương của cơ thể suy yếu hoặc khi khí dương "chìm" vào trong. Một số yếu tố thuận lợi làm giảm sức chống đỡ của cơ thể là:
- Lao lực hoặc lao tâm: Làm việc quá sức mà không để ý đến sức khỏe hoặc không có điều kiện bồi dưỡng cơ thể đúng mức sẽ làm khí dương bị phân tán, suy yếu.
- Ăn uống lạnh: Ăn uống quá nhiều đồ lạnh làm cơ thể bị khí lạnh tấn công từ bên trong, do đó khi gặp khí lạnh bên ngoài thì không đủ sức chống đỡ.
- Lo buồn thái quá: Lo nghĩ, buồn bực quá nhiều làm ăn uống kém nên cơ thể suy mòn, khí dương suy giảm.
- Ban đêm khí dương lui vào sâu trong cơ thể (đã nói ở phần trên). Thời gian dễ bị cảm lạnh nhất là từ 11 giờ khuya đến khoảng 3 giờ sáng.

Ðánh gió
Mục đích là đem khí nóng vào cơ thể ngay trên kinh thái dương để cho thấm qua da.
Vật liệu gồm 1 đồng xu tròn (hoặc 1 muỗng bằng kim loại) cạnh tròn, không bén và 1 chai dầu (cù là, dầu nóng...). Có thể dùng 1 củ gừng tươi thay thế cho dầu.

Bắt đầu bôi dầu và dùng tay chà xát dọc 2 bên cột sống, cổ, vai rồi dùng cạnh của đồng xu hoặc muỗng đánh vào vùng đó theo chiều hướng lên hay xuống cũng được. Gọi là "đánh" nhưng thật ra là cạo nhẹ nhiều lần cho mặt da nóng lên. Như đã nói, đây là vùng chi phối của 2 kinh Thái dương trong cơ thể.

"Ðánh" gió đến lúc nào thì ngưng? Thường đánh cho đến khi cơ thể mất cảm giác ớn lạnh, đau nhức cổ gáy. Ða số người dân hiện nay thích đánh gió cho đến khi lưng bầm tím vì cho như thế là "có gió", bầm tím bao nhiêu càng hiệu quả vì "gió" bị trục ra ngoài càng nhiều(!). Ðây là quan niệm sai lầm vì khi bị nhiễm lạnh, cơ thể chúng ta sẽ đáp lại bằng một loạt các chuỗi phản ứng làm những Mastocyte (dưỡng bào) bị vỡ, phóng thích ra một số chất hóa học, trong đó có chất Histamin. Chất này gây ra một số triệu chứng của sự dị ứng và làm tăng tính thấm của các mao mạch dưới da. Do đó, khi đánh gió ta đã vô tình làm vỡ các mao mạch này, gây chảy máu. Vết bầm "có gió" chính là sự xuất huyết dưới da.

Nếu dùng củ gừng tươi, ta nên chọn củ to, rửa sạch, cho vào cối giã nhuyễn (cả vỏ), vắt nước cốt lên vùng cần đánh gió rồi dùng bã chà xát cho đến khi người nóng lên. Dùng khăn khô lau sạch bã gừng. Vùng cơ thể được chà xát sẽ nóng ấm lên rất dễ chịu mà sau đó vùng da tại chỗ lại không bị lạnh như một vài loại dầu nóng khác.

Khi nào không nên đánh gió? Vì mục đích đem sức nóng vào cơ thể nên phương pháp này không thể dùng trong trường hợp cảm nắng, trúng nắng. Nếu làm có thể gây nguy hiểm.

Cháo giải cảm: Tô cháo trắng nấu loãng, thêm một ít rau thơm như tía tô, kinh giới, quế hoặc vài lát gừng tươi. Có khi chỉ cần xắt vài lát hành ta, thêm ít hạt tiêu là đã thành một tô cháo giải cảm.