Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011
HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ
Ngựa cũ quen đường
Đĩ già lậm nết
Việc phế hưng mỗi thủa khác nhau
Mộng bá chủ bao đời y hệt !
Ta thấy ngươi,
Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập trùng ,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất !
Đã biết ,
Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương ,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc .
Vậy mà sao ,
Chẳng lo điều yên nước no dân ,
Lại quen thói xua quân chiếm đất ?
Như nước ta ,
Một giải non sông , Nam Bắc chung giềng ,
Trăm triệu anh em , trước sau như nhất .
Hoàng Liên , Tam Đảo , Hồng Hà , Cửu Long , là máu là xương ,
Phú Quốc , Côn Sơn , Trường Sa , Hoàng Sa là da là thịt .
Máu xương đâu lẽ tách rời ,
Thịt da dễ gì chia cắt ?
Mà là liền Tổ quốc phồn vinh ,
Mà là khối giang sơn gấm vóc .
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng ,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc !
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng ,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất .
Mười năm phục quốc , gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời ,
Ba lượt phá Nguyên , sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt .
Thùng ! Thùng ! Thùng ! Liên hồi giục , trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân .
Đánh ! Đánh ! Đánh ! Luôn miệng thét , điện Diên Hồng vang lời sát thát .
Aỉ Chi Lăng , Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn ,
Sông Nhị Hà , Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật .
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt , Khâm Châu ngàn dặm , không thấy bóng quỉ bóng ma , (1)
Chợt nghe tiếng thét Đống Đa , Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt . (1)
Hùng khí dù dậy trời Nam ,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc :
Thương ngươi binh bại , tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang , (2)
Trọng kẻ trung can , hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút . (3)
Mạc Cửu đem quân lánh nạn , chúa ta vẫn mở dạ đón người ,
Hoa kiều mượn đất ở nhờ , dân ta vẫn nhường cơm xẻ thóc .
Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa ,
Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập .
Giúp các ngươi như kẻ một nhà ,
Thương các ngươi như người chung bọc !
Thế mà nay ,
Ngươi lại lấy oán trả ơn ,
Ngươi lại lấy thù báo đức !
Ăn đằng sóng , nói đằng gió , y như đĩ thúi già mồm.
Lộn bề ngược , tráo bề xuôi , khác chi điếm già bịp bạc .
Kéo neo tuần hạm , ào ào đổ bộ Hoàng Sa ,
Quay súng thần công , ào ào tấn công Đà Bắc .
Chẳng chấp hải qui ,
Chẳng theo công ước
Quen nết xưa xắc láo , giở giọng hung tàn ,
Lậm thói cũ nghênh ngang chơi trò bạo ngược .
Nói cho ngươi biết , dân tộc ta :
Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài ,
Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc .
Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông ,
Từng đuổi Nhật với thanh mác vót !
Vì khát tự do mà uống nước đìa ,
Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt .
Sá chi tóc gội sa trường ,
Đâu quản thây phơi trận mạc .
Hãy liệu bảo nhau ,
Nhìn thấy Gò Đống mà liệu thắng liệu thua ,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước !
Đùng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm ,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa , xương phơi trắng xác !
Nếu ngươi dựa vào hỏa tiễn , phi cơ ,
Thì ta cũng có tuần dương , đại bác .
So vũ khí thì kẻ nhược , người cường ,
Đọ trái tim coi ai gang ai sắt ?
Thư hãy xem tường
Hoàng Sa hạ bút .
( Nguồn : trannhuong . com ) (*)
-------------
Chú thích :
(1) Sử ghi : Khi Lý Thường Kiệt đánh Châu Khâm , Châu Liêm , cũng như khi quân Thanh thua trận Đống đa chạy về , thì dân vùng biên sợ hãi chạy theo , hàng trăm dặm từ ải Nam quan về phía Bắc vắng tanh , ko có cả tiếng gà tiếng chó !!!
(2) Sự kiện Lê Lợi cấp ngựa và lương thảo cho quân Minh cuốn xéo về nước .
(3) Sự kiện dân lập miếu thờ Sầm Nghi Đôngs
(*) Chép bài phú này theo yêu cầu của Thắng k5 và mấy bạn Vườn treo .
Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011
Ôn cố tri tân - Uy vũ Quang Trung đã làm Càn Long nể phục
Trong quan hệ ban giao với triều Thanh, Hoàng đế Quang Trung bao giờ cũng ở tư thế vững vàng của người chiến thắng. Ngài đã từng viết biểu gởi Càn Long vạch rõ bản chất tham lam, tàn bạo của nhà Thanh và nêu rõ quan điểm của mình: Không vì Trung Quốc là nước lớn mà nể sợ, thuần phục:
“… Nếu vạn nhất đánh nhau liên miên không dứt thì thần nhất định không lấy nước nhỏ để trọng nước lớn nữa, buộc phải nghe theo mệnh trời. Việc xảy ra không thể lường trước được; để rồi ra sao thì ra”.
ST
Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011
Chuyên san Tưởng nhớ các AHLS Trường Trỗi.27/07/2011
Kgửi các anh!
Sau thử nghiệm "Chuyên san Trại Hòe" em thấy cái flipbook này cũng tiện dùng, dễ xem nên có ý mở rộng. Trước mắt, nhân ngày 27/7 tới, em chuyển bài "Tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ" bên Blog K6 sang dạng này (Xem: http://issuu.com/nvtk6/docs/
Vì là montage từ các Blog nên nhiều chỗ lủng củng, có thể không phản ánh hết ý tưởng của tác giả các bài viết. Rất mong các bác cho ý kiến. Vì không có email nên em cũng nhờ các TQ xin ý kiến các tác giả có bài.
Cảm ơn nhiều!
TTh
-------------------------------------------------
Kính gửi Bạn Trỗi K3,
Mời các bạn K3 góp ý (và thông báo với các bạn khác) về nội dung,hình thức,bố cục cho Chuyên san,đặc biệt những bạn K3 là tác giả có bài đăng.
. Mọi ý kiến xin gửi tới chủ biên Chuyên san-bạn Tô Thắng K6, theo địa chỉ : ngvtk6@gmail.com
Trong khi chờ đơi nhận góp ý,xin phép thống nhất giữ nguyên các bài như đang được trình bầy ở Chuyên san.
Em kính các bác
Tuấn Linh
Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011
1 bài thơ của Việt Phương

Bây giờ, khi có điều kiện được đọc nguyên văn bài thơ của ông thì ra: Rất Cách mạng. Rất Cộng sản. Nếu ổng là lãnh tụ thì người ta nói: Ổng có tầm nhìn xa trông rộng. Nhưng vì không phải nên người ta nói ổng “ cầm đèn đi trước ô tô”.
Sau đây là nguyên văn bài thơ đó:
Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi
Năm xưa ta nói rất nhiều “cực kỳ” và “hết sức”
Tội nghiệp nhất là ta nói chân thành rất mực
Chưa biết rằng “trời” còn xanh hơn “trời xanh”
Ta thiếu sự trầm lắng đúc nên bởi nhiệt tình
Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương
Đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở giữa
Mạc-tư-khoa còn hơn cả thiên đường
Ta nhất quyết đồng hồ Liên-xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ
Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào
Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao
Một phần tư thế kỷ qua đi và bây giờ ta đã biết
Thế nào là thương yêu thế nào là chém giết
Ta đã thấy những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao
Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao
Sức ta tăng bội phần khi ta say đến trở thành rất tỉnh
Ta đã có thể nói với quân thù những lời bình tĩnh:
“Tất cả những gì xấu xa của tao là thuộc về mày
Tất cả những gì tốt đẹp của mày là thuộc về tao”
Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin
Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa
Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ
Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn
Ta đã gặp những điều không hề chờ đợi gặp
Nào đâu phải chỉ là rắn phục giữa vườn hoa
Những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách
Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta
Ta suy nghĩ tám nghìn đêm đánh giặc
Nghiền tâm tư cùng những hạt ngô bung
Giữa đạn bom ta lọc ra hạnh phúc
Tim dần trong sáng mãi đến vô cùng
Ta đã sống những phút giờ sự thật
Tầm dân tộc ta và kích tấc loài người
Bừng vẻ đẹp chắc và bền của đất
Thung lũng đau xưa vàng rực những mùa vui
Ta hiểu được những ai đã sai và có thể còn sai
Và chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa
Trút vỏ thần tượng đi càng lồng lộng con người
Phía trước, đằng sau, bên ngoài và chính giữa
Như Quảng Bình, Vĩnh Linh càng yêu thương trong khói lửa
Ta nhìn hết sự xấu xa và bỗng nở nụ cười
Mở đài địch như mở toang cánh cẳ
Nghe nó chửi ta mà tin ở ngày mai
Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở
Cuộc đời thân như hơi thở ta ơi
Ta vui lắm những niềm vui cởi mở
Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi
1969
Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011
Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011
Nam Bộ thế kỷ XVII và việc chuyển giao chủ quyền
Các tên gọi "Thủy Chân Lạp'' để chỉ vùng đất Nam Bộ ngày nay có lẽ đã xuất hiện trong sách sử Trung Quốc từ sau khi Chân Lạp đánh bại Phù Nam vào TK VII, để phân biệt với "Lục Chân Lạp", lãnh thổ Căm pu chia ngày nay.
Tuy nhiên Chân Lạp gặp nhiều trở ngại trong việc sở hữu và quản lý vùng đất này.
Đây là vùng đồng bằng mới được bồi lấp, nhiều, không thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn, hơn nữa họ chỉ quen khai thác trên những vùng đất cao. Chính vì vậy việc quản lý vùng đất này vẫn thuộc về những người có dòng dõi vua Phù Nam.
Phù Nam vốn là đế quốc hùng mạnh với nhiều tiểu quốc, trong đó có Srivijaya của
người Java, tiếp tục tồn tại và phát triển sau khi Phù Nam tan rã, Chân Lạp cũng như vùng đất Nam Bộ với tên gọi lúc đó là Thủy Chân Lạp đã có gần 100 năm ( tính cho đến năm 802) thuộc quyền cai trị của người Java.
Từ TK IX đến cuối TK XI Chân Lạp là một quốc gia cường thịnh với văn minh Angkor rực rỡ, điều đó cho thấy sự quan tâm và những nỗ lực của chính quyền Chân Lạp cho vùng đất căn bản mang tính truyền thống ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông, từ đó mở rộng ảnh hưởng về phía Tây, lưu vực sông Chao Phaya
Kết quả nghiên cứu từ các di chỉ khảo cổ học cho thấy ảnh hưởng của văn minh Angkor và dấu ấn Chân Lạp trên vùng đất Nam Bộ trước TK XVI là không nhiều. Châu Đạt Quan- sứ thần TQ, đến Chân Lạp vào những năm 1926-1927 trong một tài liệu mang tên " Chân Lạp phong thổ ký" đã miêu tả như một vùng đất hoang sơ, không một bóng người.
Từ cuối TK XIV các vương triều Xiêm đã liên tục bành trướng, gây áp lực với Chân Lạp, chiến tranh diễn ra trong suốt 78 năm từ 1353 đến 1431 dưới triều vua Ayuthaya ( Xiêm). Vì vậy trong các TK XVI và XII đã có sự chia rẽ nghiêm trọng trong nội bộ triều đình Chân Lạp, cũng từ đây Chân Lạp bước thời kỳ suy vong.
Cũng như vậy Chân Lạp cũng mất dần khả năng kiểm soát đối với vùng đất Nam Bộ của chúng ta ngày nay.
II.VIỆC CHUYỂN GIAO CHỦ QUYỀN VÀO THẾ KỶ XVII
Từ đầu thế kỷ XVII, lưu dân người Việt từ Thuận-Quảng đã đến Mô Xoài ( Bà Rịa),
Đồng Nai ( Biên Hòa) khai phá vùng đất này, hình thành những làng, xã đầu tiên của người Việt ở đây. Giáo sĩ người Ý có tên là C.Borri đã sống ở thị trấn Nước Mặn( nay thuộc Tuy Phước- Bình Định) từ năm 1618 đến năm 1622 cho biết, dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu người Việt của vua Chân Lạp Chay Chetta II, vùng đất này ngày càng thu hút đông đảo cư dân người Việt, đó chính là cơ sở kinh tế-xã hội để các chúa Nguyễn từng bước hợp thức hóa chủ quyền đối với Nam Bộ trong hòa bình, chứ không phải bằng bạo lực như sự thay đổi chủ quyền vào năm 55o từ Phù Nam sang Chân Lạp.
Có thể nói đã có một thay đổi quan trọng trong bang giao giữa Chân Lạp với Đàng trong của các chúa Nguyễn từ sau cuộc hôn nhân của Chay Chetta II với công chúa Ngọc Vạn, lưu dân người Việt sinh sống và làm ăn ở đây đã có được một hậu thuẫn
quan trọng, một đảm bảo cho công cuộc mưu sinh ở một vùng đất hoang dã, ngập
nước sình lầy. Cũng từ đây một cơ chế quản lý chính thức và bán chính thức mang
tính nhà nước của các chúa Nguyễn được dần dần hình thành trên đất Chân Lạp để đến năm 1698 thiết lập chính hệ thống hành chính đầu tiên của Đàng trong, ghi
nhận một mốc son của việc chuyển giao chủ quyền của Chân Lạp cho các chúa Nguyễn ở vùng đất Nam Bộ ngày nay.
Giai đoạn từ năm 1623 đến 1698 có thể được coi như thời kỳ hình thành và xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất vốn là của Chân Lạp vớih một số sự kiện
chủ yếu sau :
1. Thiết lập trạm thu thuế
Năm 1623 một phái bộ của chúa Nguyễn đến Oudong xin lập thương điếm và mở trạm thu thuế tại Prei Nokor ( Sài Gòn) và Kas Krobei ( Bến Nghé), thành công của
thương vụ này có đóng góp quan trọng của Hoàng hậu người Việt ( Ngọc Vạn!!!). Sự
kiện này được ghi nhận trong Biên niên sử Khmer do người Pháp viết.
2. Thiết lập đồn binh
Việc hình thành các căn cứ quân sự ở một vùng đất ngày càng đông lưu dân người
Việt đến làm ăn, sinh sống, để đảm bảo an toàn về con người và tài sản là một nhu cầu tất yếu. Sự ra đời của các đồn binh được ghi lại cụ thể sử sách nhà Nguyễn.
Một vài chấm phá từ sử liệu đủ cho thấy sự hình thành chủ quyền trên vùng đất
Nam Bộ ngày nay từ Chân Lạp không phải bằng chiến tranh và bạo lực để thôn tính đất đai mà bằng lao động khai phá, hình tượng " Mang gươm đi mở cõi " của
Huỳnh văn Nghệ, vì thế cần phải hiểu lại cho đúng.
31 tháng 5 năm 2011
Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011
Đôi nét về Công nữ của dòng Nguyễn Phúc
Trong công cuộc khai phá đầy gian truân thử thách ấy,nào mấy ai trong chúng ta ngờ rằng có sự đóng góp tuyệt vời của những ngưới đàn bà dòng Nguyễn Phúc : những Công nữ .
Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) là con trai thứ 6 của Nguyễn Hoàng,lên ngôi Chúa ở tuổi 51, có 11 con tai và 4 con gái .
Theo 1 số nguồn sử liệu thì người con thứ 3 của Chúa Sãi - Công nữ Ngọc Khoa được gả cho vua Chiêm PoRome ở Bình định.Nàng làm Hoàng hậu xứ Chàm đc 20 năm, đưa dc nhiều người Việt vào khai khẩn tại đất Chăm.1651 có chính biến, vua và hoàng hậu Chăm bị giết hại,mở đường cho Chúa Nguyễn vào bình định đất Chiêm , sáp nhập Quảng ngãi , Bình định , Phú yên , Khánh hòa ,Ninh thuận , Bình thuận vào Đàng trong .
Li kì hơn nữa,người con gái thứ 2: Công nữ Ngọc Vạn được gả cho vua xứ Chân lạp Chey Chetta2 năm 1620 khi nàng vừa tròn 18 tuổi .Đây là người con mà Chúa Sãi yêu quí nhất, nàng vừa xinh đẹp tuyệt vời, lại giỏi giang và chí lớn hơn người...đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ cao cả của 1 cuộc hôn nhân chính trị .
Lúc này, Chân lạp ko còn mạnh như cách đó vài thế kỉ,thường bị Xiêm la quấy rối - nên liên minh với Đàng trong đã trở thành 1 quốc sách .Bởi vậy , là Hoàng hậu Chân lạp, với sắc đẹp trời cho và sự thông minh mẫn tiệp,tình yêu nước sâu sắc, Công nữ Ngọc vạn đã từng bước thuyết phục đc nhà vua cho phép dân Việt vào khai khẩn đất ở toàn bộ vùng Thủy chân lạp ( toàn bộ từ nam Phú yên đến hết đồng bằng sông CL ).Tiếp theo với sự khéo léo của mình,Nàng đã vượt qua sự chống đối của triều đình Chân lạp,xin phép Vua cho dân Việt được thành lập những đội vũ trang tự vệ....rồi thành lập thương điếm Pray Ko r ( Saigon-chợ lớn sau này ) - nơi đặc biệt thuận lợi cho công chuyện làm ăn , thu hút ngày càng nhiều cư dân Việt vào sinh sống....và mọc rễ ở đó .
Mặc dầu chỉ sống với vua có 8 năm ( vua chết trẻ ) nhưng với bản lĩnh phi thường Bà luôn đứng vững ở vai trò Quốc Mẫu ( gần 50 năm ), vượt qua bi kịch cá nhân , là cầu nối ,góp phần buộc chặt 1 phần cái triều đình vốn rệu rã và bất hòa này với chính quyền nhà Nguyễn....tạo tiền đề cho hậu thế , 1698 chiếm Sài gòn,1714 chiếm Hà tiên - hoàn thành sư nghiệp Nam chinh .
Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011
Một chút về Khám lớn Sài gòn
Khám Lớn Sài Gòn được xây dựng trên khu đất của chợ Cây Đa Còm và xung quanh có 4 con đường là Lagran Diere (đường Lý Tự Trọng); Mac Mahon (đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa); đường Espagne (đường Lê Thánh Tôn) và đường Filippini (đường Nguyễn Trung Trực). Từ Khám Lớn Sài Gòn đi sang Tòa án Sài Gòn không đầy trăm mét và dưới thời Pháp, hai nơi này cùng với Dinh Thống đốc Nam Kỳ tạo thành một “tam giác quỷ”.
Vào ngày 8/3/1953, sau khi Khám Chí Hòa đã xây dựng hoàn chỉnh thì Bảo Đại cho phá Khám Lớn Sài Gòn và xây Trường đại học Văn khoa.
Khám Lớn Sài Gòn xây từ năm 1886 và sau hơn 4 năm thì xong. Khởi đầu, khám dài hơn 30 mét và rộng 15 mét, có lối đi hẹp ở giữa. Hai bên là hai gian nhà giam, có hai bệ xi măng được tráng một thứ nhựa giống như nhựa đường màu đen, trên cùng trổ một cửa sổ nhỏ, nhỏ đến mức không đủ cho ánh sáng mặt trời lọt vào.
Vào những năm đầu thập niên 30, thực dân Pháp cho xây thêm nhiều buồng giam và phân chia thành nhiều khu vực để giam cầm nhiều loại tù nhân khác nhau. Khám Lớn Sài Gòn là nhà giam lớn nhất Việt nam thời bấy giờ. Trong khám có khu biệt giam tù chính trị, có nơi giam người bị kết án tử hình, gọi là “xà lim án chém”; có phòng để máy chém. Máy chém của Khám Lớn Sài Gòn được đưa từ Pháp sang. Máy chém cao 4,5 mét, có lưỡi dao vát cạnh nặng 50kg. Rạng sáng ngày 21/11/1931, thực dân Pháp đã dùng máy chém này xử tử Lý Tự Trọng.
Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011
Bài hát yêu cầu (Lê Tiến Dũng K3)
Như mây như mưa như cát biển khơi
Có những niềm riêng làm sao ai biết
Như trăng trên cao cách xa vời vợi.
Có những niềm riêng lệ vương khóe mắt
Như cây sau mưa long lanh giọt sầu
Có những niềm riêng làm tim thổn thức
Nên đôi môi xinh héo hon nụ cười.
Này niềm riêng như nước vẫn đầy vơi
Đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời
Ôi nỗi sầu đong chất ngất
Như một ngày như mọi ngày
Như vạn ngày không thấy đổi thay.
Có những niềm riêng lòng không muốn nhớ
Nhưng sao tâm tư cứ luôn mộng mơ
Có những niềm riêng gần như hơi thở
Nuôi ta cô đơn nuôi ta đợi chờ.
Có những niềm riêng một đời dấu kín
Như rêu như rong đắm trong biển khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi.
Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011
Họp CB mở rộng. (P2)
Xin giới thiệu phần "động" của buổi gặp mặt CB Bình Ngọng mở rộng nhân ngày Thống nhất đất nước.
Clips quay bằng máy ảnh sealife D800!
Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011
Thời cổ đại có bị ung thư không
Ung thư là một trong những căn bệnh phổ biến nhất trên hành tinh, đứng thứ hai sau các bệnh tim mạch. Theo WHO, mỗi năm có hơn 6 triệu người chết vì ung thư và gần 10 triệu trường hợp mới được phát hiện. Các bác sĩ và nhà nghiên cứu khoa học đang tìm cách để đánh bại căn-bệnh-có-nguyên-nhân-đến-nay-vẫn-chưa-được-hiểu-rõ. Đôi khi, phải đi sâu vào quá khứ để cố gắng trả lời các câu hỏi mà giới chuyên viên đặt ra. Đó cũng là công việc của các nhà khoa học Anh đã nghiên cứu gần một nghìn xác ướp cổ Ai Cập và Nam Mỹ. Họ nhận thấy, trong số tất cả các loại bệnh tác động tới con người cách đây 3000 năm, không gặp trường hợp thuộc về bệnh ung thư.
Thời cổ đại, con người không bị bệnh ung thư. Đây là kết luận của các nhà khoa học Anh, đi sâu vào quá khứ hàng nghìn năm để nghiên cứu các nguyên nhân gây nên bệnh ung thư. Theo họ, ung thư là một sản phẩm của nền văn minh.
Giáo sư David Zaridze, Trung tâm nghiên cứu ung thư Viện hàn lâm y học Nga nhận xét, có những cơ sở thực tế cho giả thuyết của các nhà khoa học Anh, cho rằng vào thời thượng cổ, trong môi trường không tồn tại yếu tố gây nên căn bệnh hiểm nghèo. Chỉ cần tham khảo các thống kê liên quan cũng đủ thấy rằng, ngay cả vào đầu thế kỷ 20, rất hiếm gặp trường hợp khối u ác tính.
Theo David Zaridze, những nguyên nhân gây bệnh xuất hiện cùng với sự phát triển của tiến bộ công nghệ, do ảnh hưởng của các yếu tố nền văn minh. "Trước hết, đi liền hoạt động công nghiệp hóa là những biểu hiện ô nhiễm môi trường. Đó không chỉ là không khí mà chúng ta hít thở, mà trước hết là sự ô nhiễm môi trường làm việc. Tiếp đến, giai đoạn Thế chiến thứ nhất, thuốc lá đã được đưa vào sản xuất công nghiệp. Cùng với sự ra đời của công cụ mở rộng khả năng tiêu thụ thuốc lá, tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư phổi và các loại ung thư khác liên quan đến hút thuốc lá đã tăng nhanh".
Tuy nhiên, cũng có giả thuyết là người cổ đại đã không được sống tới lúc bị bệnh ung thư, bởi căn bệnh này có đặc tính tuổi tác. Giáo sư David Zaridze nói "Người cổ đại chết vì bị thú ăn thịt, chém giết nhau trong chiến tranh. Có thể họ chết vì một số bệnh mà ngày nay chúng ta không biết đến. Người cổ đại thường qua đời trước khi ung thư kịp phát triển. Ung thư là căn bệnh của tuổi già và trung niên. Ngay cả vào đầu thế kỷ 20, tuổi thọ trung bình trên thế giới mới chỉ ở mức 40-45 tuổi, còn hiện nay tuổi thọ trung bình ở các nước phát triển là 80-85".

Trong cơ thể con người liên tục diễn ra các sự đột biến của gen. Thông thường những đột biến này được bù đắp, có nghĩa được cơ thể loại bỏ. Nếu điều này không diễn ra sẽ xuất hiện ung thư. Những yếu tố bên ngoài đang làm tăng mạnh nguy cơ nảy sinh đột biến không thể loại bỏ. Dưới thời cổ đại, hầu như không có những mối nguy hiểm như vậy. Kết luận của các nhà nghiên cứu Anh không có ý kêu gọi chúng ta trở về hang động, nhưng nói lên sự cần thiết giảm thiểu tác động có hại của môi trường đối với con người.