Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

56 năm Ngày Chiến thắng trận Điện Biên Phủ



HOAN HÔ CHIẾN SỸ ĐIỆN BIÊN
Tố Hữu

Tin về nửa đêm
Hoả tốc ! Hoả tốc !
Ngựa bay lên dốc
Đuốc chạy sáng rừng
Chuông reo tin mừng
Loa kêu từng cửa
Làng bản đỏ đèn đỏ lửa...

Hoan hô chiến sỹ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp !
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà !
Vinh quang Hồ Chí Minh
Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại !
Kháng chiến ba ngàn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng !
Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Đêm nay bè bạn gần xa
Tin về chắc cũng chan hoà vui chung...

Hoan hô chiến sỹ Điện Biên
Chiến sỹ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn !
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định mở đường
cho xe ta lên chiến trường tiếp viện

Và những chị, những anh, ngày đêm ra tiền tuyến
Mấy tầng mây, gió lớn mưa to
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn, xương tan thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống !
Máu của anh chị, của chúng ta, không uổng :
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng,
Lũ chúng nó phải hàng, phải chết,
Quyết trận này quét sạch Điện Biên !
Quân giặc điên
Chúng bay chui xuống đất
Chúng bay chạy đằng trời ?
Trời không của chúng bay
Đạn ta rào lưới sắt !
Đất không của chúng bay
Đai thép ta thắt chặt !
Của ta, trời đất, đêm ngày
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta !
Chúng bay chỉ một đường ra :
Một là tử địa, hai là tù binh.
Hạ súng xuống, rùng mình run rẩy
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm !
Nghe trưa nay, tháng năm mồng bảy
Trên đầu bay, thác lửa hờn căm !
Trông : bốn mặt, luỹ hầm sập đổ
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng
Trông : chúng ta cờ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng !
Hoan hô chiến sỹ Điện Biên !
Tiếng reo núi vọng sông rền
Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ
Bác đang cúi xuống bản đồ
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo...
Từ khi vượt núi qua đèo
Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày
Tin về mừng thọ đêm nay
Chắc vui lòng Bác, giờ này đợi trông


Đồng chí Phạm Văn Đồng
Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ
Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành
Ngày mai, vào cuộc đấu tranh
Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smít
Anh sẽ nói : "Thực dân, phát xít
Đã tàn rồi !
Tổ quốc chúng tôi
Muốn độc lập, hoà bình trở lại
Không muốn lửa bom đổ xuống đầu con cái
Nước chúng tôi và nước các anh
Nếu còn say máu chiến tranh
Ở Việt Nam, các anh nên nhớ
Tre đã thành chông, sông là sông lửa
Và trận thắng Điện Biên
Cũng mới là bài học đầu tiên !"

05 - 1954.

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010

Giọt Tây Nguyên tí tách

  Năm ngoái tôi vào Tây Nguyên đi vội làm hùng hục uống quần quật. Chuyến năm nay thư thả hơn, có thì giờ “nếm náp” cảnh vật, con người - cả mới lẫn cũ, mà chưa thể là “tiêu biểu” của vùng đất được. Không vào vùng sâu rất khó tìm ra “gương mặt tiêu biểu”, khi hội diễn văn nghệ cỡ huyện có cả Then Tày, múa Chuông Dao, Quan họ Kinh… cạnh “đặc sản bản địa” cồng chiêng.
  Quốc lộ 14 xuyên Tây Nguyên trước thênh thang, có thể nhìn thấy cột bụi cao ba chục thước rong chơi trên đồi vắng. Giờ thì y như sông Hồng đoạn qua các đô thị, nó bị nhốt chặt. Dã quỳ không đung đưa cả vạt thành sóng mạnh, mà thưa thớt, đem về nhà cắm héo rũ ngay. Nhà gạch của người Kinh, sơ sài hay “hoành tráng lệ”, đều kè kè mặt đường, thỉnh thoảng chen vào căn nghĩa địa nhiều thập ác, vết tích của một làng Ba na hay Ê đê. Đôi chỗ “hàng rào” xây hở ra, trông thấy thung lũng lác đác nhà và bạt ngàn cà phê, khiến bật ra câu hỏi “Ô, thế cuộc sống dưới ấy thế nào nhỉ?”.
  Buôn Ma Thuột (tức “buôn của bố ông Y Thuột”), thủ phủ Đắc Lắc, khu công quyền và dân cư không có vẻ đặc trưng phố núi lắm. Phẳng phiu về địa hình, ít bản sắc kiến trúc, thật ít “đồng bào” đi bộ đeo gùi, thật nhiều tiếng Quảng, tiếng Bắc. Nổi bật là tượng đài xe tăng ở Ngã Sáu, toà biệt điện Bảo Đại, những gốc đa, long não còn tơ mà to cỡ cổ thụ trăm tuổi ngoài Thủ đô, vì đất quá tốt. Nhưng chịu khó ra ven ngoại, mà phải đi bộ, thì được chứng kiến một cuộc sống khác, thực hơn, có lẽ thế, với những cộng đồng dân cư, tôn giáo đa sắc hết sức.
  Đó là đường Phan Chu Trinh chạy rất dài, rẻo cuối ngự toà Giám mục duyên dáng mô phỏng nhà dài Ê đê. Duyên dáng là phải, vì do các sơ Thuỵ Điển, Pháp xây cách nay trăm năm có lẻ. Rẽ trái một chút là đụng buôn Akô Dhông của ca sĩ Y Zắc, một địa điểm du lịch. Xinh đẹp, phải nói thế, với những khuôn viên xén tỉa cẩn thận, dậu hoa chi chít bướm bay, “Shop Thổ cẩm” có cả khung cửi. Nhà già làng Ama H’rin chuyên tổ chức những đêm rượu cần cồng chiêng, khách Tây được múa với rốc ráp bên những cô gái đen giòn mình mẩy chắc nịch. Nhưng Akô Hdông không còn bến nước, một trong những biểu trưng buôn làng. Tôi đi tìm, người ta chỉ vào cái khe tù đọng vương vãi túi ni lông. Khoảng rừng thiêng, nơi cúng thần cây thần rừng lần cũng khó, người đàn ông tóc xoăn tít gặp trên đường hỏi gì cũng chỉ “Ừ!”. Lại nhớ câu ngậm ngùi cho văn hoá rừng của phó chủ tịch hội Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính: “Không giữ được đâu…”.
  Đó là phường Tự An dưới lũng thấp, chỗ cư trú của những tập người lên (hoặc vào) trước năm ’75, chi chít những kiến trúc tôn giáo. Bốn giờ chiều, chuông nhà thờ đổ dồn bên chuông chùa, tiếng trống phách đàn đáy đền Mẫu, những bà cụ khăn vấn áo dài, có nhẽ nói giọng Kim Sơn Phát Diệm. Chùa Phổ Minh mới trùng tu nguy nga ngự trên đồi, xuôi xuống cổng có tấm bia công đức ghi tên Phật tử hiến đất, “đạo hữu” - tức người Công giáo - bán đất cho chùa, và đôi rồng đá lớn cỡ đôi trong điện Kính Thiên Hà Nội, tất nhiên “mới cứng”. Có cảm giác các tôn giáo đều đang “hoằng dương” ở đây, trong khi bên chính quyền lại ấp ủ ý đồ làm một con hồ nương theo suối Ea Tam. Lũng thấp, êm đềm, mà có thể sẽ rất “nóng”.
  Buôn Ma Thuột có chừng mươi ngôi chùa, tuổi cao nhất là Khải Đoan, bà Từ Cung mẹ ông Bảo Đại làm năm 1950 để “kỉ niệm” mình – Đoan Huy hoàng hậu - với vua Khải Định, nguy nga đúng kiểu “chùa vua”. Thầy trụ trì tịnh xá Ngọc Quang thấy tôi chịu khó hỏi, chịu khó nghe, muốn tặng bộ Nam Hoa Kinh, tôi thưa không dám, vì tâm chưa tĩnh, chỉ xin cuốn “Nghi thức tụng niệm” mỏng.
  Giáp đường Phan Bội Châu gặp Điện Biên Phủ toạ đình Lạc Giao, ông Phan Hộ đưa dân Kinh từ Khánh Hoà lên xin tù trưởng Ama Thuột cho lập năm 1928. Đình là cấu trúc văn hoá – tôn giáo của người xuôi, hình như cả Tây Nguyên chỉ có ngôi này. Lạc Giao thờ thần hoàng bản thổ là Đào Duy Từ, mà hình như cụ Đào chỉ để lại dấu ấn Luỹ Thầy ngoài Quảng Bình chứ không khai phá gì trên cao nguyên sất. “Tôi gốc Nam Bộ, ba làm hội đồng nên như là có căn trông đình vậy”, ông trông coi tên Nguyễn Văn Bẩy tự giới thiệu trước khi châm chuyện quá khứ. “Buôn Ma Thuột xưa có chợ lợp tranh tre, gọi là “chợ Xổm” vì ngồi xổm bán. Rồi chính quyền cũ xây ngôi nhà lồng, họp đông đúc lắm, người Thượng ra thành từng đoàn để tránh cọp, nay phá đi, phá luôn hai nhà dài vĩ đại, rất tiếc. Đình Lạc Giao có suối Đốc học chảy phía trước làm Minh đường, bốn giờ chiều không ai đến nữa vì cọp về. Năm bảy lăm bị bom, rồi làm kho lương thực xập xệ, đến thời ông Lạng người Ninh Bình làm chủ tịch tỉnh mới trùng tu được, là 2005. Nhiều người không biết cứ gọi “đền”…
                                                                              

Mới xuống dốc lại quành lên dốc  
Đưa thăm xa thôi lại thăm gần  
Chưa tròn buổi phố chừng muốn hết  
Đã gì đâu mà em mỏi chân…
…Nay mai ta lại về với núi  
Đứng làm tượng đá ở sườn non…

  Tác giả của những câu thơ “hờn dỗi” ấy là Tạ Văn Sỹ, đang cầm phần thơ trong báo văn nghệ Kon Tum, một thời “kiêm” chạy xe ôm. Chiếc xe cà tàng có thể hỏng bất cứ lúc nào, ai ngờ lại chở một hồn thơ đi cả sáu tư tỉnh thành của đất nước, đến nỗi mấy cha Hội Nhà văn Việt Nam bảo sẽ đưa nó vào bảo tàng Hội, chừng nào… Lần này “hồn thơ” chở tôi dọc dọc phố núi Kon Tum, kể đây là chỗ đứng lại của giáo sĩ Thừa sai ở Bắc Tây Nguyên, sau chính quyền thực dân lập nhà ngục nổi tiếng. Đến thôn Kon Rơwang ở phường Thắng Lợi, ông chỉ cây kơ nia ngót trăm tuổi đứng cạnh ngôi nhà rông văn hoá (?), tiếc nuối: “Cái cây biểu tượng của Tây Nguyên này muốn hạ phải thấm nước vào lưỡi cưa, vì nhựa rất dẻo, còn khi khô đinh đóng vào còn quẹo. Chất độc khai quang của Mỹ không làm gì được kơ nia. Nó đã được trồng ở lăng Bác. Thế mà giờ tìm ở mấy đô thị Tây Nguyên thực khó”… “Kon Tum là “ngôi làng của ao hồ, đầm lầy” quanh dòng Đăk Bla, nhưng hình thái ấy đang biến mất, vì toà ngang dãy dọc mọc lên chiếm chỗ. Tôi đi Mường Khương – Lào Cai, thấy khi xây thị trấn người ta giữ lại khu rừng thiêng của người Mông, tới Ninh Bình ngắm được cây lộc vừng hai trăm tuổi, dân tranh đấu để thoát khỏi cơn điên quy hoạch. Thế là so sánh, là ý kiến, đến nỗi có người bảo tôi ghét Kon Tum".
  “Ghét” thế nào chứ như ông thi sĩ gốc Bình Định này thì phải ơn những ý ấy rồi. Sỹ quá yêu Kon Tum, hiểu nó từ trong hồn cốt, trân trọng những giá trị cội rễ. Và tôi thấy mình thật may mắn tới xứ này được ông làm “hướng dẫn”.
  A Jar lại là một may mắn khác. Vị trí thức bản địa này đang ngồi chân hội thẩm nhân dân toà án thành phố, giơ tay biểu quyết trong các cuộc họp HĐND tỉnh, phiên âm phần tiếng Xê đăng, Ba na của báo Kon Tum dân tộc ra a bờ cờ cho bà con đọc…, nghĩa là một “cầu nối” Kinh Thượng khá điển hình. Thế nhưng đoạn đường để có tưng nấy vị trí lại không dễ đi chút nào.
  Sinh năm 1947 ở Đăk Hà, chú bé A Jar sáng sủa được hưởng lộc từ chính sách sắc tộc của chế độ cũ, về thị xã học tiểu học, theo trung học ở Huế. Tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chính dưới Sài Gòn, anh về Phú Bổn làm Trưởng văn phòng Hội đồng tỉnh, vài tháng thì Tây Nguyên về tay Giải phóng. Có chữ “nguỵ” sau lưng, A Jar đi học tập ba tháng, về nhà lấy Y Pứk người Ba na, về làng vợ ở. Bắt đầu quãng đời kiếm sống, gùi sáu chục ký gạo muối đi Sa Thầy bán, mua về mật ong, thức rừng. Đời là chiếc xe lên rồi xuống, nắng mưa thay đổi lòng chán chường, như người ta đi thế chỉ thấy vất nhưng con người có chữ nghĩa trong đầu nó vật cho khổ hơn. 20 năm sau vận đổi, bắt đầu được dùng, bắt đầu tham gia…
  Nhà A Jar ở Plei Đon (Làng Gò), bên ngôi nhà rông nóc loăn xoăn “ngọn” rau dớn. Hơn mười năm qua, ông biên dịch 24 bộ sử thi, mỗi bộ “gỡ” từ khoảng 10 băng cát xét 90 phút, làm nửa năm thu triệu hai. NXB Khoa học xã hội đã in 10 bộ Ba na, 4 bộ Xê đăng trong số đó. Rồi dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, bộ đội, khảo cứu phong tục, sưu tầm truyện cổ “Giông, Giỡ mồ côi từ nhỏ”, “Măng Lăng vu cáo cho Duông ăn cắp”. Tự học tiếng Anh, Pháp, bị vợ nhiếc “Muốn làm tổng trưởng à?”, đến khi hướng dẫn “tua” ba ngày đem về trăm đô, bà lại mừng húm. Tức thị đã qua thì chật vật kiếm sống, nhưng cái “tâm trạng trí thức” nó lại hành.
Dưới gốc nhãn già, trong cái nắng khô khốc, A Jar giỡ những nỗi…
  “Cán bộ đi thu âm trường ca bên Văn hoá là người Kinh, gặp nghệ nhân ngay ngắn không sao. Nhưng phải ông uống rượu, ông nhớ nhớ quên quên, tệ nhất là ông “tái bản” những đoạn đã đọc để “câu giờ” lấy tiền thì rất lộn xộn. Nhiều từ cổ thì phải hỏi người già. Và ai ngờ di sản lại lọt cả những chữ “24 giờ”, “chính sách” mới toanh vào nữa”.
  “Tôi thích sử thi, có giá trị mà không bận bịu chính trị. Mà mình dân tộc lại biết tiếng Kinh, làm từ khâu sưu tầm đến biên soạn, dịch thì mới kỹ. Tôi đã nhặt trên trăm câu tục ngữ Ba na, bao giờ đong đầy mong ra được sách, anh bảo phân theo hôn nhân, sản xuất, thời tiết… có nên không? Còn chuyện cổ viết lại thì chủ vị, xuống dòng nên thế nào nhỉ...?”
  A Jar ngoài sáu mươi, không còn nhiều thời gian lắm, muốn chỉ làm con kiến tha di sản (cũng đang “bay” theo người già) về. Nhưng cái sự chuyên nghiệp chưa nuôi nổi “kiến”…
                                                                          
                                                                        
So với Buôn Ma Thuột, Kon Tum, nhà cửa, chợ búa, con người bên Plei Ku cũng “tương tự”, nhưng đèo dốc nhiều, khí hậu mát hơn, ấn tượng phố núi rất rõ. Có những con dốc dựng ngược veo veo cánh sáo chao, những con đường đi mỏi chân không chán, tưởng đã tận lại quành sang nẻo khác. Nhà thơ Văn Công Hùng ở Hội Văn nghệ Gia Lai kể với cái giọng rền, rất hóm: “Xưa có lệ cúng Giàng con heo, nhưng cái đuôi cứ bị trai làng cắt ăn mất. Giàng giận đánh cái “bùm” thành Biển Hồ, tức cái hồ cấp nước ăn cho thành phố bây giờ. Và Plei (làng) có cái tên “Cu” (đuôi). Tôi làm quyển sách đầu tiên kể chuyện cổ dân tộc, đưa tích này lên đầu, bị ông trong thị uỷ đòi đuổi vì nói xấu địa phương…”.
  Tôi ở Wừu, con phố có cái tên đọc “đau cả mồm”, ngồi trên đỉnh dốc nhâm nhi câu “Uống cà phê phin không được “vội” như chè Thái”, “phát hiện” đơn giản mà mới mẻ với người Bắc vô. Thật lạ, ly nước trên bàn cứ trôi, giống như hồi sáng ăn mì Quảng thìa đũa chạy rần rần khi xe qua. Nhìn xuống, cái chỗ mình ngồi dông dốc, đầu này bước lên bậc thật cao, đầu kia nhào xuống chỗ thỏm. “Xứ này cái gì cũng nghiêng thế à?”

  Mùa thu trườn qua ngã tư 
 Người xe người xe đông cứng 
Mùa thu tiếng còi như thét
Em trùm mùa thu Ninja. 

Văn Công Hùng không đáp, mà đọc thơ làm hôm ra Hà Nội. Đến là tử tế!

Chú thích ảnh: Buôn Akô Dhông, Ban Mê Thuột, nhà dài Ê đê bên nhà gạch xây

  T Chiến 2009.

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2010

Gặp nhau mừng chiến thắng.

Được bí thơ thông báo có các bạn ở thủ đô vào cùng kỷ niệm 35 năm giải phóng, tui dự buổi liên hoan của công ty khoảng nửa tiếng rồi biến về địa điểm họp chi bộ. Các đại biểu từ HN đều là các CCB từng tham gia chiến dịch HCM năm đó T Hùng, T Kỳ, khi đó ở B2 cùng P Tiến. T H Đông F367, TM Đức PK Miền...Mọi người gặp nhau vui vẻ. Thành phần CB cũng đông hơn, có cả các DV thường ít họp lần này cũng tới như L Công, V Chiến, C Nhân...

T Hùng và TT Việt là hai CCB 30/4 từ thủ đô vào

T Kỳ, H Đông cũng là các CCB từ Hà lội

Trong hình này còn có PT Sinh đến từ Hải Phòng, vào trước nhóm T Hùng mấy ngày.

Nghe tin có chiến hữu từ HN, T Thắng K4 có mặt ngay.

Những người bạn cùng khóa (HVKTQS)

Đang gặp nhau vui vẻ, TV có chương trình gì đặc sắc nhỉ?

Thật trùng hợp, phụ huynh TH Đông cũng đang ở SG và đang trả lởi phỏng vấn trên chương trình TH giao lưu của những CCB tham gia giải phóng SG 35 năm trước. Trong khi cụ được mời trân trọng trên sân khấu giữa dinh Thống Nhất thì ông con cũng là CCB cùng các chiến hữu ngồi giao lưu trong căn tin nhỏ của học viện HK trên đường NTT. Cũng phải thôi, hầu hết anh em ta, nếu may mắn thì cũng chỉ tham gia được phần cuối của cuộc kháng chiến. Ngoại trừ d/c bí thơ chi bộ của chúng ta, với tám bằng dũng sỹ! 
Hôm sau, đúng 30/4 hội đại biểu HN sẽ chiêu đãi các bạn SG tại Cây Sứ

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2010

Lục thập hành như nguyện!


Do bận việc riêng, tui không được tham gia chuyến đi dã ngoại cùng mấy AE trong chi bộ Bình N. Sau chuyến đi, AE phấn khởi lắm, nhắc hoài các thu hoạch bổ ích từ chuyến đi bằng xe hơi tới khu nghỉ dưỡng Bình Châu với các suối nước nóng giúp phục hồi sức trẻ. Rồi thẳng tiến về thành phố biển Vũng Tàu sôi động với nhiều kỷ niệm  vui tươi sống động, mà vài kỳ họp chi bộ sau chuyến đi AE vẫn còn bình luận chưa dứt. Vũng Tàu 20 năm trước từng là địa bàn hoạt động của tui, tuy nhiên theo mô tả của AE thì nay đã khác xa, còn Bình Châu thì tui chưa tới (xa nhất mới chỉ đến Long Hải). Thiệt là tiếc quá, nếu không phải vì còn chút kẹt đời, đến giờ này vẫn còn phải cố làm việc thì tui cũng đã có thể vui vẻ cùng anh em! Dẫu sao, sinh hoạt chi bộ nào đều cũng rất có ích bởi đó là trí tuệ tập thể mừ! Trong cuộc họp gần đây, sử gia Công còm phát một câu ai cũng tâm đắc :" Người xưa có câu lục thập hành như nguyện..." Quả là chí lý, các cụ sáu sọi thì còn gì phải lăn tăn nhỉ, thích gì làm thôi, bất cứ chuyện gì! (làm được hay không là chuyện khác!). Tui tự nhủ, vậy thì sao tui không tự đi Bình Châu ? tự sướng? Mục tiêu chính là dò la thêm vài vũng nước để khi có điều kiện rủ HCQ đi bơi lặn cho đã. Tuy phải sau tui một năm HCQ mới tới cái tuổi "hành như nguyện" trên thực tế thì hắn đã hành như nguyện từ lâu rùi. 
      Tui không có xe hơi, cũng chẳng có bằng lái bốn bánh mà đã là đi dò la thì không thể nhảy xe đò được, làm sao tạt ngang, tạt ngửa? Chỉ còn cách quay lại với 2 bánh. Tiêu chí là xe phải khỏe, chạy đường dài, dễ điều khiển, không cần bẳng A2. Thế là lọ mọ lên mạng tìm ở mấy cái diễn đàn Biker xem loại nào phù hợp. Qua tìm hiểu mới thấy dân mình cũng mê moto gớm, mà thị trường cũng rất sẵn để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của dân chơi. Từ những con "khùng" hàng chục ngàn đô Harley Davidson, Triumph, Ducati...đến các em lai Tàu cỡ trên dưới ngàn đô. Tui cố tìm một con moto thật sự, xài côn chứ không phải xe tự động, sẵn phụ tùng, dễ bảo trì...Tất nhiên ở VN thì Honda là nhãn hiệu thông dụng nhất. Sau vài ngày tìm kiếm, tui tăm được một con Honda CBR 150 mới chạy 6 tháng, giá cũng phù hợp và quan trọng nhất là mua của chính chủ. Sau khi xem xe, tui quyết định lấy liền. Đây là dòng xe thể thao, tính năng tốt, không quá lớn như các xe phân khối lớn thông thường mà cũng không quá nhỏ như những xe số tự động phổ biến hiện nay. Động cơ 4 thì loại DOHC một xy lanh 150cc công suất 19 ngựa (xe Honda Air Blade 110cc 11 ngựa), làm mát bằng dung dịch, trọng lượng 115Kg và có tốc độ tối đa 160 Km/h. Chỉ có điều kiểu dáng xì po không phù hợp với cái tuổi hành như nguyện này lắm, mặc dù rất phù hợp với ông con 19 tuổi. 
Với chú ngựa sắt này, tui đã làm một chuyến đi Hồ Cốc - Bình Châu thuộc Bà Rịa-Vũng Tàu đi về trong ngày vào dịp nghỉ giỗ tổ Hùng Vương vừa qua.
  Sau đây là vài hình ảnh chuyến đi.
Xuất phát từ nhà lúc 6h00 sáng, chạy theo đường ngã 4 ga ra xa lộ Đại Hàn, xa lộ Hà Nội rồi QL 51. 
7h15 nghỉ ăn sáng tại Long Thành - khu căn cứ của Lothamilk -(Bò sữa Long Thành). 7h35 lại lên đường.  Suốt dọc đường đi đến Bà Rịa chỉ chạy 60 Km/h do qui định cho xe mô tô chỉ  được phép vậy. Chốc lại gặp biển cảnh báo lớn:" Đoạn đường này thường xuyên tổ chức bắn tốc độ..." 

Từ Long Thành tui chạy một mạch đến ngã ba Bà Rịa - Vũng Tàu thì quẹo vô Thị xã Bà Rịa nhắm hướng Long Điền chạy thẳng. Giờ đã không còn là QL nữa, tui chạy 80Km/h quãng 25 Km thì đến đây: Lối đi Hồ Cốc. Chuyến đi bắt đầu có ý nghĩa từ đây. Sau cổng trào này là bắt đầu rừng nguyên sinh suốt chặng đường 6Km đến bờ biển.

Phía trước - rừng,

Phía sau - cũng rừng, không khí trong lành...

Biển Hồ Cốc mới được đưa vào khai thác du lịch, vẫn còn rất hoang sơ. Cảnh trên hình là điểm đông du khách nhất trên tuyến 15 Km bở biển này

Một điểm được đánh dấu có thể là nơi bơi lặn tiềm năng: Bãi cát, nhiều vách đá với điều kiện không có sóng lớn. Suốt dọc đường bờ biển từ Hồ Cốc đến Bình Châu thì đây là một điểm đẹp, sát ngay đường.

Đơn thương độc mã, tui tự chộp cho mính một kiểu kỷ niệm ở điểm dừng này (lần sau phải mang chân máy để còn tự chụp).

Tiếp tục lên đường tới khu nghỉ dưỡng Bình Châu. Suốt tuyến đường hơn chục Km này là dọc theo bờ biển xinh đẹp đầy nắng và gió.

Bắt gặp những cảnh đầm phá nên thơ. Bác TM có ở đây thì tha hồ mà săn.

Dừng ngựa ngắm cảnh, đi xe đò sẽ chẳng có những cơ hội như thế này.

Chỗ này ngay sát biển nhưng không phải là biển, hai bên bờ vẫn là rừng tràm.

Rong ruổi, la cà mãi rồi cũng tới khu nghỉ dưỡng Bình Châu. Ở đây có nồi nước sôi diệu kỳ đêm ngày tuôn chảy biến vùng đất này thành khu nghỉ ngơi, an dưỡng lý tưởng. Cái rì sọt này nằm giửa rừng nguyên sinh, đi lại bên trong khu nghỉ dưỡng tui có cảm giác như hồi nào sống trong rừng Đại Từ, Bắc Thái.

Một tiếng ngâm chân trong nước khoáng 37 độ C. Thư giãn, nghe nhạc qua cái Walkman

và ngắm bầu trời xanh thẳm trên đầu. Công còm quá là có lý...Thập lục hành như nguyện!... Chết, suối nước nóng linh nghiệm quá đà rùi! Thực tế là  Lục thập....

   Sau khi tìm hiểu thêm các dịch vụ chăm sóc, nghỉ dưỡng khác như suối khoáng 80 độ C luộc trứng gà, hồ bơi nước khoáng 37 độ C, tắm bùn....15h00 tui lên đường trở về nhà. Dọc đường về nghỉ một chặng tại thị xã Bà Rịa uống cà phê cho tỉnh táo và khi qua Long Thành lại ghé căn cứ Lothamilk mua sữa tươi, sữa chua và trái cây cho mẹ Đốp và thằng ku ở nhà. 
Hy vọng rằng chuyến sau sẽ có thêm bạn đồng hành. Điểm đến thì vô kể, chỉ riêng Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ cũng cả chục rùi....chưa kể xa hơn, hay cao hơn.


Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010

Chuyên đề đồ cổ



1.
Lại một lần nữa Tu Lỳ thể hiện tài năng MC xuất sắc. Đưa đồ cổ của mình lên bờ lốc, cậu đánh thức bao nhiêu cảm giác, kể cả cái điều là “may sao bài thơ này không đến nỗi nào…”
K3 hồi ấy, ngoài những Xuân Nam, Tường Long, Tạ Chiến… giỏi văn, mình coi Chí Thọ, Xuân Lăng là hai tên có bản năng thơ. Mình thân Thọ, hắn dậy thế nào là niêm luật, thể, quan trọng hơn là cái hồn. Trong cái hội Lê Công, Văn Toàn, Bồ Vinh, TC, thì Thọ hơn hẳn các khoản vẽ, yêu, võ, tất nhiên làm thơ nữa. Lăng thì làm thơ viết kịch dễ như không, cứ như chẳng phải cố gắng gì.
Tớ thích làm thơ hay (điều trước kia tự nhủ thôi), nhưng rồi sớm rẽ. Đầu óc khôn ra, ít nhạy cảm, dại dột, không bạn với cái món khó nhằn ấy được. Không nhầm, thì trong tiếng Pháp, tính từ “văn xuôi” còn có nghĩa “tầm thường”. Bây giờ bỗng bị TL khai quật, thấy vừa lâng lâng sướng vừa bối rối. Và tiếc một thi tài không phát lộ được(!)
Trung Việt thì không có ý thức làm thơ, hắn cứ bóc những thứ trong cái đầu trong trẻo và phong phú ra thành lời, để chảy tự nhiên. Nhưng không thể nói là Việt không để ý đến vần, nhịp. Những chỗ xuống dòng, chọn “bằng trắc” tuy có thể xa nhau nhưng vẫn dễ đọc. Nhưng thôi, gán ông bạn mình là “không có ý thức làm thơ” thì cũng chả cần phân tích phân tiếc nhiều. Chỉ biết đọc thơ như đang nói chuyện với người, câu chuyện không cần kết cấu, mở đầu với kết thúc…
2.
Nói dài dòng rồi trở về mạch TL khơi ra. Bài này tớ cũng làm đợt nắng nóng 40o, ở dưới đề “tháng 6/1973”. Không hiểu sao nóng mà thơ cứ ra?
Một mùa hè nóng

Tháng năm về trung du hấp bỏng
Áo lúa vàng phơi mặt nước váng chua
Nắng làm mặt người già đi ghê gớm
Mắt chong chong hơi mát cơn mưa

Nước sôi trong vũng cạn bùn se
Con cá đuôi cờ nằm phơi bụng trắng
Mây vụn tan trong nắng nôi xài xạc
Bầu trời xanh cao rắc lửa xuống đầu

Cánh rừng bạch đàn lừa mắt ta
Đi giữa nắng nôi ai không mong tìm ra con đường rợp
Trông trên cao mừng thấy miền râm mát
Xuống rồi sỏi bỏng ngộp đôi môi

Lá trên cành cuốn nhanh theo gió
Chỉ hôm sau đã cứng lại màu nâu
Con thằn lằn trườn nhanh trong lá
Sột soạt tan trong buổi hè sâu

Ôi đêm nay khi lòng đã mát dịu đi
Tôi lại khát mong ngày về biển
Biển ban đêm đậm đà ánh sáng
Mùa mùa trôi đi tôi hát biển nghe

3.
Không đầu đề. Trong sổ chỉ chép về bài này là “bài thơ vui tặng TV – 8-73”. Chỉ có thể là Trung Việt, khi hắn chạy quanh một em, rồi mất hút con mẹ hàng lươn…

Chú gấu con tinh nghịch
Vui hát trong rừng xanh
Bỗng một hôm bắt được
Giọt sương sớm long lanh

Sương nằm im lâu thế
Xôn xao hội đây này
Thi tài nhanh can đảm
Thi vụng về…

Gấu muốn lay sương dậy
Nhưng thấy gì nữa đâu
Mặt trời lên vội quá
Giọt sương tan đã lâu

T. Chiến

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010



ỐC ĐẢO
Tháng tám,ở trung du trời nóng 40 độ
đằng sau chút ngọt lành này chẳng còn gì nữa
Vĩnh yên 1973
______________________________________
Người đi đường mỏi mệt
Sa mạc dặm cát dài
Đường về xa gắng sức
Ốc đảo xa chân mây
Nơi đây miền đất cũ
Cảm thấy rõ bốn mùa
Gió mưa hè đông chuyển
Vẫn đắm trong yên lặng
Chưa thay đổi bao giờ
Bảo tàng ở nơi đây
Cát bụi chưa lấp đầy
Tháng ngày không thay đổi
Nền nếp đâu nghiêng ngả
Ốc đảo vẫn nguyên toàn
Nơi đây đôi mắt đen
Như dòng sông yên lặng
Người lữ hành chết khát
Sống lại trong giấc mơ
Dòng suối trong tinh nghịch
Sau vòm lá rì rào
Nghe sao tìm không thấy?
Không dám tìm thấy sao?
Thủa ấu thời thơ bé
Nhen ngọn lửa lúc nào
Ngọt lành đây chùm qủa
Thôi để dành chùm sao
Khát thôi đành nhấp ngụm
Trời mưa nước đầy rồi
Ngôi nhà yên bóng ngả
Mắt chong chóng trời sao
Hãy giữ lại cho tôi
Hòn ốc trong nguyên vẹn
Người lữ hành tự nhủ
Đường xa chân bước dài.

Trường Chiến
Hè 1973

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

Theo yêu cầu

( Lê Tiến Dũng K3 yêu cầu)

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Hướng tới Kỷ niệm 45 năm

Đố ai đong được mối tình. Nhạc và lời: Thầy Hồng Tuyến, Ý thơ: Xuân Huê

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

Bạn tiểu học
Ai cũng nghạc nhiên khi nghe tôi kể về những buổi họp mặt bạn tiểu học. Họ tự hỏi : làm sao có thể kết nối cảm xúc khi thời gian là một vật cản hiện hữu rõ ràng? Đôi lúc tôi cũng hoài nghi như vậy : Làm sao có thể giữ được những cảm xúc của ngày xưa khi chúng tôi chỉ học cùng nhau ba năm nhưng đã cách xa nhau đến hơn mười năm?
Thế nhưng chẳng cần gượng ép,những cảm xúc vẫn đến với chúng tôi một cách tự nhiên.Chúng tôi ngồi cùng nhau,nhắc lại những chuyện cũ xưa lơ xưa lắc,từ những buổi dự giờ,những lần cả lớp làm cô khóc, những lần bị thầy trách mắng và thậm chí bị mời xuống phòng hiệu trưởng vì không làm bài tập…Nhỏ bé hơn là những câu nói,những “kỳ tích gây chấn động” của một thành viên trong lớp hay những sự kiện đầy dấu ấn.Có kỷ niệm tất cả cùng nhớ,có kỷ niệm chỉ vài người còn lưu lại,có những chuyện chẳng ai có thể nhớ nổi…Chúng tôi cứ chia sẻ và tự giữ trong lòng một nụ cười mỉm cho những cảm xúc riêng.
Tình cảm của chúng tôi tự nhiên và sâu đậm đến nỗi khi ngồi xung quanh những người bạn tiểu học,tôi cứ ngỡ ngày hôm qua chúng tôi vẫn đang cùng học với nhau.Trong sự tiếc nuối quá khứ có sự mãn nguyện và những câu hỏi về nguồn gốc của thứ tình cảm đẹp đẽ ấy.Tôi tự giải thích cho riêng mình rằng,có lẽ những buổi học bán trú đã khiến chúng tôi gần gũi nhau đến thế.Tình cảm không chỉ bắt nguồn từ người bạn học mà cả từ những người bạn chia sẻ với nhau những bữa ăn bán trú,giấc ngủ bán trú,những nỗi sợ hãi khi phải nhổ răng…
Chia sẻ,đó là khởi nguồn của những tình cảm bền chặt nhất.

Lê Minh

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010

Tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Trường Văn hoá Quân đội Nguyễn Văn Trỗi


Hà Nội, ngày 24 tháng 03 năm 2010

THÔNG BÁO
Kế hoạch tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày thành lập
Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi

Kính gửi các thầy cô giáo Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi
Kính gửi Ban Liên lạc các khóa cùng cựu học sinh nhà trường trong và ngoài nước
Ngày 21 tháng 3 năm 2010, dưới sự chủ trì của Trưởng BLL Bùi Quang Vinh cùng sự có mặt của đại diện thầy cô giáo, BLL các khóa (mở rộng), căn cứ vào tình hình thực tế BLL nhà trường đã bàn bạc những nội dung quan trọng chuẩn bị cho việc tổ chức Lễ kỉ niệm 45 năm. Đã có nhiều ý kiến tâm huyết và thiết thực. Gồm 4 nội dung sau:
Một: Tổ chức lễ Hội trường kỷ niệm 45 năm ngày thành lập.
Hai: Xuất bản sách tập 3 “Sinh ra trong khói lửa”.
Ba: Xây dựng Nhà văn hóa tại xã Mỹ Yên, Đại Từ, Thái Nguyên.
Bốn: Báo cáo quỹ Trường và dự trù tài chính phục vụ lễ hội.
Từ đó, Trưởng ban đã kết luận và ra văn bản chính thức, thông báo đến toàn thể giáo viên, CBCNV, cựu học sinh Trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi sinh sống trong và ngoài nước được biết, để cùng tham gia góp ý và hưởng ứng thực hiện.
“Kế hoạch tổ chức Hội trường kỷ niệm 45 năm ngày thành lập” gồm:
NỘI DUNG THỨ NHẤT:
1) Về tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm:
- Địa điểm: Tại Hà Nội sẽ tổ chức lễ hội chính thức. (Địa điểm sẽ được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng). Dự kiến: Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt-Xô (dự phòng: Hội trường BTL Biên Phòng, Nhà hát Quân đội…). (Tại Miền Trung, miền Nam tự tổ chức: Trước hoặc sau Hà Nội; sẽ có đại diện BLL trường tham dự).
- Thời gian: từ 8 giờ 30’ đến 11 giờ 30’ ngày 16/10/2010 (dự bị: 17/10/2010).
Sau buổi lễ chính thức có tổ chức tiệc liên hoan (hoặc toàn thể, hoặc phân theo về các khóa)
Sẽ được thông báo sau.
- Thành phần tham dự: Toàn thể thầy cô, CBCNV, cựu học sinh Trường TSQ - NVT.
- Khách mời: Đại diện các cơ quan trong và ngoài quân đội: Lãnh đạo nhà nước,Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Cục Nhà trường, Bộ Giáo dục-Đào tạo, BLL Thiếu sinh quân VN (thời kỳ chống Pháp, Mỹ), 1 số trường Thiếu sinh quân hiện nay. Đại diện các địa phương trường đã đóng quân: Mỹ Yên, Đại Từ, Thái Nguyên; Trung Hà, Hưng Hóa; Quế Lâm, Trung Quốc (Y Trung); Hội Hữu nghị Việt-Trung; Hội CCB VN; Phụ huynh, thân nhân gia đình liệt sĩ, gia đình Chính ủy và Hiệu trưởng. Một số cơ quan thông tấn báo chí: báo QĐND, CCB, Truyền hình Quân đội, VTV, HTV…
- Hình thức: Gửi giấy mời trực tiếp hoặc qua bưu điện (trước 1 tháng).
2) Yêu cầu và biện pháp thực hiện
- Lễ hội phải được chuẩn bị phải chu đáo, cẩn thận, tỉ mỉ với phương châm “hoành tráng, trọng thị, an toàn, tiết kiệm”. Chú trọng nội dung chương trình, địa điểm, trang trí, lễ tân, hậu cần…
- Nội dung các diễn văn phải được thông qua ban tổ chức. Các bài phát biểu phải phản ánh được truyền thống dạy tốt, học tốt của nhà trường. Hàng nghìn học sinh được “sinh ra trong khói lửa” đã trở thành lực lượng kế cận tin cậy của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sau chiến tranh. Chúng ta có quyền tự hào là “lớp Thiếu sinh quân duy nhất” trong thời chống Mỹ, có tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết đồng đội “Nguyễn Văn Trỗi”. Sau 45 năm thành lập, dù 40 năm nay không còn 1 mái trường cụ thể nhưng chúng ta vẫn sống trọn nghĩa vẹn tình, dù ở tuổi nào vẫn luôn là những người có ích cho xã hội, xứng đáng là con cháu Bác Hồ, tiếp nối truyền thống cha ông.
- Báo cáo trung tâm do Trưởng BLL thực hiện.
- Phần giới thiệu khách mời phải đầy đủ, chính xác.
- Phần lễ nghi: có quân nhạc.
- Văn nghệ: biểu diễn văn nghệ (30-45 phút).
Lưu ý: Thời gian tổ chức lễ hội của trường trùng với Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, do đó phải có phương án dự phòng, đảm bảo tổ chức chu đáo và thành công.
- Lễ hội sẽ được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trước 20 ngày, sau khi đã rà soát số đại biểu tham dự. Các khối Bắc, Trung, Nam thông qua hệ thống blog toàn trường, các khóa chủ động và kịp thời thông báo cho nhau về kế hoạch thực hiện.
- Học sinh, thầy cô giáo với vai trò “chủ nhà” cần niềm nở, lịch sự đón, tiếp khách. Ưu tiên cho khách mời, đặc biệt là phụ huynh, thân nhân gia đình liệt sĩ, đại diện các bộ ngành, đơn vị trong nước và quốc tế.
Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn. Khi có kế hoạch cụ thể mong toàn trường đồng tâm ủng hộ, nhất trí quyết tâm thực hiện, cùng BLL nhà trường tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 45 năm.
3) Về kinh phí: Để có đủ kinh phí tổ chức lễ hội, BLL thống nhất vận động đóng góp theo định mức:
- Khóa 1, Khóa 2: mỗi khóa góp 10.000.000 đồng.
- Các khóa còn lại (K3,4,5,6,7,8) mỗi khóa 20.000.000 đồng.
Các bộ phận chuyên trách khẩn trương lập dự toán thông qua Trưởng ban. (Riêng hội phí các khóa đóng góp hàng năm, không được dùng làm kinh phí cho lễ hội 45 năm).
NỘI DUNG THỨ HAI: Tổ chức xuất bản Tập 3 “Sinh ra trong khói lửa”.
- Ban biên tập: thầy Chi Phan, thầy Phạm Đình Trọng, Trần Kiến Quốc, Trần Hồ Bắc và các đồng chí khác do Ban sẽ thông báo sau.
- In ấn tại Cty In Quân đội 2 (Nguyễn Nam Điện k6), xong trước 30/9/2010.
- Số lượng: 1000 cuốn, bìa cứng, số trang khoảng 350÷400 trang.
- Nội dung:
a. Phản ánh được đầy đủ các thời kỳ: 5 năm (1965-70), thời kỳ rời nhà trường tiếp tục học tập, rèn luyện, đào tạo, tham gia chiến đấu chống Mỹ, sau ngày giải phóng. Ưu tiên đặc biệt giai đoạn 2005-2010 sau 45 năm trưởng thành…tình nghĩa thày trò, đồng đội, người còn người mất…Cố gắng có ảnh tư liệu minh họa với nhiều thể loại văn, thơ. Với tinh thần, khẳng định được TSQ thời kỳ chống Mỹ là “lực lượng kế cận”, đã và đang thực hiện xuất sắc nhiệm vụ Đảng, Quân đội giao phó. Qua đây khẳng định được “chủ trương đào tạo TSQ của Đảng, Bác, Quân đội trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và ngày nay là đúng đắn, cần thiết và rất hiệu quả”.
b. Sách phải có bố cục hài hòa, nêu được những tấm gương học tập, tình thầy trò, đồng đội, tính nhân văn xã hội cùng quan hệ quân dân, quan hệ quốc tế (thời kì tại Trung Quốc, làm “ngoại giao nhân dân”).
c. Cuốn sách không chỉ là “món quà” dành cho mỗi thầy cô, học sinh sau 45 năm nhập trường, mà còn là món ăn tinh thần cho mọi gia đình, con cháu, thân nhân, bạn bè và xã hội.
d. Giá dự kiến: 100.000đ/cuốn. (đã gồm cả chi phí: số sách biếu thầy cô, tặng khách mời và tặng các trường Thiếu sinh quân hiện nay…).
e. Đề nghị BLL các khóa thông báo đến anh chị em để đăng kí số lượng: trước 31/7/2010.
NỘI DUNG THỨ III: Xây dựng Nhà truyền thống ở Mỹ Yên, Đại Từ
Sẽ có hội nghị chuyên đề riêng và thông báo sau.
NỘI DUNG THỨ IV: Công tác đảm bảo cho lễ hội
Vấn đề tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm thành lập và xuất bản Tập 3 “Sinh ra trong khói lửa” thật sự có ý nghĩa, do đó đề nghị:
1) Trên cơ sở kế hoạch tổng thể được thông báo chính thức, BLL các khóa sẽ có kế hoạch chi tiết, các tổ chuyên trách lên kế hoạch triển khai. Đồng thời BLL trường thường xuyên cập nhật những ý kiến đóng góp của các thày cô và các khóa, sẽ có điều chỉnh và huy động toàn trường cùng tham gia.
2) Về kinh phí: Hiện nay kinh tế suy thoái, việc chuẩn bị tài chính cho lễ hội và xuất bản sách hoàn toàn là quyên góp tự nguyện. BLL sẽ quản lí thu, chi số tiền trên đúng mục đích, không lãng phí.
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp tự nguyện của anh chị em TSQ Nguyễn Văn Trỗi!
Kết luận: Đây là kế hoạch tổng thể, xây dựng trước 6 tháng, có thể phải còn điều chỉnh và xử lý cho phù hợp. Mong sự đóng góp của đồng đội!
Liên hệ: Trưởng ban - Bùi Quang Vinh (0903455677) – Email: buivinh30@yahoo.com.vn;
Trần Kiến Quốc (0903830930) và Nguyễn Thái Chi (0904142176- 0923008888).
Trưởng ban
Bùi Quang Vinh