Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Bài hát theo yêu cầu



Ước gì
Sáng tác: Võ Thiện Thanh ,hát : Mỹ Tâm
( Tạ Việt Chiến K3 yêu cầu )


Em đã sống những đêm trời có ánh trăng chiếu vàng
Em đã sống những đêm ngoài kia biển ru bờ cát
Ước gì anh ở đây giờ này
Ước gì anh cùng em chuyện trò,
cùng nhau nghe sóng xô ghềnh đá ngàn câu hát yên bình
Em đã biết cô đơn là thế mỗi khi cách xa anh
Từng đàn chim cuối chân trời biếc tìm nơi bình yên
Ước gì anh ở đây giờ này
Ước gì em được nghe giọng cười,
và hơi ấm đã bao ngày qua mình luôn sát vai kề
Em xa anh đã bao ngày rồi, nghe như tháng năm ngừng trôi
Khi xa, em nhớ anh thật nhiều, này người người yêu anh hỡi
Ước gì em đã không lỡ lời
Ước gì ta đừng có giận hơn để giờ đây cô đơn vắng tanh
Đời em đã vắng anh rồi
Ước gì cho thời gian trở lại
Ước gì em gặp anh một lần,
em sẽ nói em luôn nhớ anh và em chỉ có anh thôi..

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2010

Ôn tân tri cố

(Bài này viết 08, gửi anh em để tham khảo, nhân chuyện Hà Đông mới nhắc mấy hôm nay về sử ta - TCk3)


Đầu năm nay, chuẩn bị cho loạt bài 50 năm đường Trường Sơn, nhóm phóng viên chúng tôi đến Tân Kỳ – Nghệ An, nơi có di tích và tượng đài kỉ niệm km 0 con đường huyền thoại này. Gặp người lặn lội đi làm hồ sơ di tích, chúng tôi ngạc nhiên thấy ông không trả lời những câu hỏi “Tại sao lấy đây (ngã tư đặt tượng đài) làm ki – lô - mét 0?”, “Sao không thể lấy lên trên, lùi xuống dưới hoặc sang trái, sang phải?”, “Vai trò của làng Ho, khe Hó thế nào?”… Dù sao, loạt bài tuyên truyền về đường Trường Sơn vẫn hoàn thành, in ra. Nhưng nó để lại cho những người thực hiện sự bối rối, có lẽ giống như khi ta xem phim về chiếc xe tăng đầu tiên vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Có những câu hỏi “hiện ra”: quá khứ là cái như ta hằng học, hằng ghi nhận hay chỉ gần gần như thế, khó khăn hơn là không hẳn như thế? Lịch sử gần đã vậy thì lịch sử xa còn di dịch đến thế nào? Nghĩ vẩn vơ, rồi lại nhớ đến câu của Blaga Đimit’rôva, bà nhà thơ Bungari rất thân thiết với Việt Nam thời đánh Mỹ: “Lịch sử Việt Nam trộn lẫn với huyền thoại”.
Sau nhiều “chặng” chinh chiến hoặc dài hoặc ngắn, xen giữa là vài “đợt nghỉ” ngắn ngủi, đến năm 1954, một nửa đất nước bước vào công cuộc “xây dựng”. Tiếng là “hoà bình” nhưng những ngày đó vẫn rầm rập bước quân đi, vì miền Bắc còn nhiệm vụ chi viện, giải phóng miền Nam, đương đầu với chiến tranh phá hoại. Đặc điểm chính trị – xã hội ấy quy định cho công việc của khoa học xã hội nói chung, ngành nghiên cứu sử nói riêng những quan điểm, những phương pháp, cách tiếp cận…, nhiều khi còn hệ trọng hơn cả tính khoa học. Sự kiện, con người, giai đoạn càng gần thì ảnh hưởng trên càng lớn. Cho nên, không lạ gì là thời kỳ này, những nhà khảo cổ, nghiên cứu cổ sử lại được độc lập hơn bên cận đại. Làm sử hiện đại càng khó…
Chẳng hạn, người Pháp sang xâm lăng, chấm dứt nền độc lập Đại Việt đã kéo dài ngót hai nghìn năm, thế thì đương nhiên đã là người Pháp thẩy đều là thực dân; những gì họ “bỏ lại” đất nước này chỉ để phục vụ cho sự đô hộ. “Giặc núp sau bóng chúa”, nên ảnh hưởng của những giáo sĩ tạo lập gia quốc ngữ, đào tạo nên lớp trí thức, văn nghệ sĩ thuộc địa phải bị hạn chế. Chẳng hạn, những ai Để mất nước vào tay quân Pháp, triều đình Nguyễn, đương nhiên phải mắc tội tày đình nhất. “Cõng rắn cắn gà nhà” mặc nhiên là dấu vết duy nhất vương triều này để lại. Sự ngắn gọn, chắc nịch của thành ngữ được vận dụng hằn một vệt quá sâu trong các nghiên cứu, phổ biến ra sách giáo khoa, để rồi “đóng đinh” trong nhận thức xã hội. Rồi đương nhiên tất thảy những gì, những ai dính líu đến Tây thì đều xấu xa, “tay sai phản động”.
Những năm sáu mươi có lẽ là “cao trào” phê phán nhà Nguyễn. “Quốc sử quán” - tức Viện Sử học, sách giáo khoa… đều khẳng định cách nhìn này. Cũng khó làm khác đi vì đó là thời chiến, khoa học xã hội phải phục vụ các nhiệm vụ chính trị, chưa hẳn được tồn tại hoàn toàn với những mục đích tự thân. Nhưng ngay từ thời kỳ đó, không phải đã không có những nhận thức “khang khác”. Theo GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử ngày nay, chính viện trưởng Viện Sử học hồi ấy, ông Trần Huy Liệu, từng “thổ lộ”, tất nhiên không công khai: “Nói Tây Sơn có công thống nhất đất nước tôi cứ thấy thế nào…”. Đây là điều khả dĩ thống nhất với đánh giá của Trần Trọng Kim (người ông Liệu rất không ưa) trong Việt Nam sử lược, rằng Nguyễn Phúc ánh đã “đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương nam”.
Kể thì cũng lạ. Bởi vì trước Trần Trọng Kim, sử liệu và vô số những đánh giá khác đã cho thấy cả những điều tích cực về nhà Nguyễn. Lê Quý Đôn, một “người của chúa Trịnh”, khi nhậm trị ở Thuận Hoá đã viết trong Phủ biên tạp lục về một Nguyễn Hoàng rất đẹp : “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình cũng được nhờ”.
*
Đất nước yên hàn. Mối nguy trực tiếp, sát sạt về một sự đe doạ từ bên ngoài đã tàm tạm lùi ra xa, khiến người có quyền định đoạt không còn khiến các khoa học xã hội như một công cụ. Đó là những điều kiện để giới nghiên cứu được độc lập theo đòi một phương pháp khách quan, khoa học, tôn trọng sự thực lịch sử hơn. Những tư liệu xuất hiện dưới dạng gốc, chứ không phải “thứ cấp” hoặc bị cắt xén. Những nhà nghiên cứu viết điều mình nghĩ. Những “đa”, “đề” cỡ Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giầu, Võ Văn Kiệt che mát các hoạt động khoa học. Các hội thảo đã sôi nổi cả về phần “thảo”, chứ không chỉ là cái “hội” với mọi thứ đã “nhất trí cao” trước khi diễn ra. Sáng ra một hình ảnh Phan Thanh Giản giầu lòng yêu nước thương dân, vì trung quân mà bị đóng đinh trong câu “Phan Lâm mãi quốc / Triều đình khí dân”. Sự hình thành miền đất Nam Bộ được gắn liền với những tên tuổi “khả nghi” kiểu Lê Văn Duyệt, hoặc chưa mấy ai biết đến, như cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích – những cựu thần phục Minh phản Thanh từ Trung Hoa chạy sang khai phá…
Tháng 10 – 2008, hội thảo “”Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 19” do Hội Khoa học lịch sử và tỉnh Thanh Hoá gây ảnh hưởng lớn theo những chiều khác nhau. Thu hút lãnh đạo, nhân dân “Quý hương” – tỉnh Thanh, các dòng hoàng tộc Nguyễn, đã đành, nó quy tụ nhiều tên tuổi trong giới nghiên cứu các vùng miền, cả giới khoa học Anh, Pháp, Hà Lan, Trung Quốc… Thời kỳ “Quảng Nam quốc” sáng lên với công cuộc nam tiến, chinh phục xong tộc Chăm… Các vua Nguyễn, điển hình là Minh Mạng, được tôn vinh với công hoàn thành thống nhất lãnh thổ, quản lý hành chính. Về văn hoá, hiếm có một vương triều nào để lại được ba di sản được UNESCO công nhận như nhà Nguyễn với cố đô Huế, phố cổ Hội An (vật thể) và nhã nhạc cung đình (phi vật thể). Những nghiên cứu có tính phát hiện rất thú vị, như Hội An đánh dấu một tư duy mở, giao thương ra thế giới và khu vực, khác hẳn cách nghĩ bảo thủ, khép kín, độc tôn của phong kiến, càng khác cái “bản chất” “sợ biển ngại rừng chỉ loanh quanh đồng bằng của người Việt”. Như Nho giáo Đàng Trong có tính chất “dân gian”, thực tế, không quá “cử tử trường ốc” như Đàng Ngoài… Như Tây Sơn, thật ra là một phong trào nông dân với đủ cả nồi da nấu thịt, tranh giành quyền lực… Vai trò chúa Trịnh cũng khác, chả phải chỉ gây ra sự phân tranh, họ cũng thúc đẩy cuộc mở mang lãnh thổ.
Dầu sao, trong “nẻo rẽ” mới, các nhà khoa học đủ tỉnh táo để nhận rằng bên cạnh những điều được bổ sung trên, nhà Nguyễn vẫn là anh để mất nước. Công là công, tội là tội, không thể quên được một Nguyễn ánh đã mời 5 vạn quân Xiêm sang, ký hiệp ước Versailles với Pháp. Độc tôn Nho giáo, khinh bỉ lũ “ngạ quỷ hồng mao”, nhà Nguyễn bảo thủ lạc hậu, để mất nước là đương nhiên. Và cũng chả thể xoá bỏ những gì Tây Sơn đã làm được. Đó là sự khách quan về phương pháp, đem lại sự công bằng lịch sử. Người xưa có những giỏi giang và hạn chế khác với thời nay, bắt họ phải giống ta là vô lối.
Mang lại nhiều tư liệu, nhận thức khác trước, hội thảo trên không chỉ có ý nghĩa với triều Nguyễn, tỉnh Thanh, mà còn đánh dấu mốc về phương pháp, mức độ chuyên nghiệp hoá việc nghiên cứu sử. Những giả cứ, phẩm bình không thể “nhất trí” ngay, theo người ta về lọ mọ tìm hiểu thêm, là cái được của hội thảo. Hình như là có thế thì Ăng – ghen mới bảo “lịch sử luôn luôn phải được viết lại”.
Thế giới “phẳng”, nhiều thông tin, cứ liệu mới về các giai đoạn, nhân vật, sự kiện trong quá khứ tiếp tục được đưa ra, khiến ta rơi vào những nỗi bối rối khác. “Lịch sử như một sợi chỉ”, hình dung ấy thật tù mù mà cũng chả chính xác, nhưng lại ám ảnh dai dẳng. “Sợi chỉ” thì có thể rút ra cho “kim chỉ có đầu” được, nhưng có khi lại thật rối rắm, càng gỡ càng rối. Nhưng nói thế là muốn thể hiện cái cảm giác bất chợt xuất hiện khi nhìn vào những “lỗ hổng” chưa được khoa học lịch sử giải quyết, hoặc những phát hiện “mới tinh” đòi hỏi sự nhìn nhận không thể giống cũ.
Chẳng hạn, cái nhận thức ta có 4000 năm lịch sử, một ngày đẹp trời được “nói lại cho rõ” là “mấy nghìn năm” thôi, tức là chưa dài lâu đến thế đâu. Ta đinh ninh đất nước từ Âu Lạc, An Dương Vương tới nay có ngọn nguồn từ nền văn minh sông Hồng, trung tâm là người Việt, cứ thế lan toả xuống phía Nam, và kiên cường trụ vững trước thế lực từ phương Bắc. Nhưng nhiều nghiên cứu mới đây cho biết trên những vùng đất “quy tập” về Đại Việt đã có cư dân, thổ ngơi, văn hiến riêng biệt, không thể cứ “duy văn hoá người Kinh” mà soi chiếu. Nhu cầu về sự thống nhất trong tinh thần dân tộc, rất cần thiết, đã có lúc làm đơn giản nhiều sự kiện có ý nghĩa rất lớn nhưng phải được nhìn nhận đa chiều. Hà Nội chưa khôi phục lại tên phố cho công chúa Huyền Trân vừa chưa thoả đáng với người con gái hy sinh thân mình cho vương triều Trần thu được một vùng đất lớn, vừa che đi một mảng về sự mở mang cương vực của đất nước. Hoặc sự kiện cuộc mít tinh ngày 17-8-1945 ở Nhà hát lớn, bên tổ chức là Tổng hội Viên chức - tất nhiên lập thời Trần Trọng Kim - đã để Việt Minh cướp diễn đàn, thì liệu có ai trong đó lại là cộng sản?
Dường như cách đây hơn bốn chục năm, khi đề cương Lịch sử Việt Nam, cuốn thông sử của thời đại còn đang được tính toán, đã có một vấn đề đặt ra, rằng nên “nghiêng” về mảng dựng nước hay giữ nước? Nói theo cách khác, đây là tương quan giữa “võ công”, để mở mang, bảo vệ đất nước, với “văn trị” - để cho nó ổn định, phát triển. Thời phong kiến xếp “sĩ” lên đầu, còn “thương” đứng sau cả “nông, công”, nay có nên dùng lại thứ bậc ấy? Chuyện chưa đi đến đâu, nhưng rõ ràng đến nay đây vẫn còn là thời sự.
Là bởi vì “quan điểm” “được làm vua thua làm giặc” đã là chính thống trong nhiều thế kỷ làm sử. Hồ Quý Ly hạn chế số ruộng đất, nô tỳ của quốc thích nhà Trần, phát hành tiền giấy thay tiền kim loại, xứng bậc nhà cải cách lớn. Nhưng ông thường bị coi là một “điểm đen”, không thể sánh với Trần Thủ Độ – cũng “cướp ngôi” đấy chứ, vì đã để mất nước vào tay quân Minh. Nguyễn Huệ dùng binh cái thế trước quân Xiêm, Mãn Thanh, dễ được “quên” đi những chuyện ông lục đục với Nguyễn Nhạc. Chính vì sợ hở lưng với ông anh cả mà Nguyễn Huệ không thể truy đuổi Nguyễn ánh về phương Nam đến tận cùng, để rồi sau này bị quật lại. Kế vị ông, Quang Toản cũng xử với con Nguyễn Nhạc khá tệ. Đấy có phải là một lý do để Quang Trung, sau khi thống nhất sơn hà, không định đô ở Thăng Long với đám “kẻ sĩ Bắc Hà”?
Đấy là chuyện xa xa. Còn gần gụi thì những gì có đóng góp cho cuộc sống phát triển trong lòng một chế độ chính trị bị phụ thuộc ngoại bang vẫn “lép” so với những người có công đánh bật ngoại bang ấy đi. Buôn bán như Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi, làm báo, trước tác như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, vì đều là trong “thời Tây”, thành thử đều “có vấn đề” cả. Thợ nấu ăn ngon, con hát giỏi càng vắng bóng. Họ rất phức tạp. Nhưng thời thế nó thế, công tội đến đâu đều nên minh xét. Đơn giản hoá cuộc sống, phân định mọi thứ đều ra “bên địch” với “bên ta” không phải là một thái độ khoa học khách quan, vì thật hiếm có ai thập toàn như Nguyễn Trãi, giai đoạn nào “trong vắt” như thời Lê Thánh Tông, và ngược lại.
Ta hằng trách học sinh, thanh niên không quan tâm, bàng quan tới môn học lịch sử, thuộc sử Trung Hoa – giờ đây là sử Hàn Quốc – hơn sử mình. Điều ấy có thật, và lý ra thì nhiều nguyên nhân lắm. Nhưng định hình, “là” phẳng, “trói chặt” quá khứ vào một hình hài nhất định, “mầu” thì chỉ hoặc trắng hoặc đen, không coi nó là một đối tượng còn “cựa quậy”, diễn biến để tìm hiểu tiếp tục thì chính những người có tuổi cũng thấy nhàm.

Trường Chiến K3

ĐIỆN BIÊN PHỦ-QUA TÀI LIỆU

( Trao đổi cùng HCQ, HDDTK3 xung quanh một vấn đề lịch sử, trước đây vào các dịp kỷ niệm 4o năm-1994 và 50 năm-2004 ,tôi đã có một số ý kiến và tham luận trong các Hội thảo khoa học có liên quan tới sự kiện này,nay nói lại để các bạn cùng bình luận)

Nói đến Điện Biên Phủ 1954, các nhà nghiên cứu và những người có quan tâm thường đặut ra những câu hỏi như ĐBP nằm ở đâu trong " kế hoạch Navarre" cũng như chủ trương chiến lược của ta trong Đông Xuân 1953- 1954 ( theo cách trình bầy của các tài liệu mang tính giáo khoa , phổ biến kiến thức phổ thông, thì " kế hoạch Navarre" bao gồm hai bước, còn chủ trương chiến lược của ta "tập trung mở các cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược ở đó địch yếu nhưng không thể bỏ"- lưu ý ĐBP địch không hề yếu mà ngược lại rất mạnh.

ĐBP dường như là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử quân sự nằm ngoài quy luật của các cuộc chiến tranh thông thường. Cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài 9 năm từ 1946 đến 1954 đã kết thúc ở vùng rừng núi thuộc Tây Bắc VN, cách Hà Nội 200km đường chim bay, chứ không phải là ở những trung tyâm đầu não về kinh tế , chính trị, văn hóa - xã hội của chế độ thuộc địa đương thời như Hà Nội hay Sài Gòn, kết cục này nếu xét theo cách nhìn nhận dưới góc độ mang tính chính thống về một thắng lợi "đỉnh cao,có ý nghĩa thời đại" thì dường như không được phản ánh đầy đủ trong cuộc đấu tranh ngoại giao tạii Hội nghị Geneve cũng như kết quả của Hội nghị thông qua các văn bản của Hiệp định Geneve về Đông Dương 1954.
Xét cho cùng tất cả những vấn đề trên hoàn toàn có thể lý giải được, nếu có một phương pháp tiếp
cận và giải quyết vấn đề một cách khách quan và khoa học
Trước hết cần xác định những vấn đề xung quanh chủ trương chiến lược Đông -Xuân 53-54
( theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp c hỉ là kế hoạch tác chiến Đông- Xuân 53-54, xung quanh khái niệm "chủ trương chiến lược" và việc sử dụng khái niệm này cần phải được xem xét một cách nghiêm túc). Từ các nguồn tài liệu hiện có như Hoàng Văn Thái- Cuộc tiến công chiến lược Đông -Xuân 1953-1954-nxb QĐND 1984 cho biết, từ tháng 1/1953 Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN đã nghiên cứu và xây dựng phương án tác chiến theo chỉ đạo cuả Hội nghị BCH TƯ IV.
Một câu hỏi lớn được đặt ra , đòi hỏi phải có câu trả lời" Chủ lực của ta sẽ đánh vào đâu" nói cách khác đâu sẽ là hướng hoạt động chủ yếu trong hai năm 1953-1954?
Cũng đã có sự cân nhắc khi phân tích để lựa chọn giữa Trung Du, đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc( Lai Châu và Nà Sản), câu trả lời cuối cùng là Nà Sản, nhưng bất ngờ từ 8 đến 12/8/1953 H.Navarre đã cho rút bỏ toàn bộ tập đoàn cứ điểm này ( Nà Sản được hình thành theo chủ trương của R.Salan). Vậy là phải xác định lại hướng tấn công chủ yếu của chủ lực . Theo tài liệu trên "Lai Châu không thể là hướng tấn công chủ yếu.Thượng Lào, Trung Lào, Bình Trị Thiên địch tuy yếu nhưng quá xa khó tiếp tế, Nam Bộ chưa có điều kiện đánh lớn, Trung Du và đồng bằng Bắc Bộ cũng không thể là hướng tấn công chủ yếu,cho nên trước mắt chỉ sử dụng từng bộ phận nhỏ của chủ lực đánh ở đây với mục đích là để rèn luyện.
Tuy nhiên cho đến đầu tháng 9/1953 do đã phần nào nắm được "kế hoạch Navarre" nhưng do chưa có thể nắm được toàn bộ ý đồ chiến lược cũng như phương thức tác chiến của địch, cho nên chủ trương chọn Lai Châu và Trung Lào với mục đích phân tán lực lượng cơ động chiến lược của Navarre đang tập trung ở đồng băng Bắc Bộ.
Các tài liệu hiện có như Võ Nguyên Giáp- ĐBP điểm hẹn lịch sử, Văn kiện Đảng về ĐBP, các bài viết của các nhà nghiên cứu Hoàng Minh Phương, Trần Trọng Trung ch o biết, từ ngày 19 đến 23/11/1953 Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng đã triệu tập cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên để phổ biến kế hoạch tác chiến Đông -Xuân 1953-1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định:
" Hướng chính là Tây Bắc, kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch,tranh thủ nhân dân,giải phóng Lai
Châu và mở rộng căn cứ kháng chiến,uy hiếp Thượng Lào để phân tán địch,tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tác chiến sau này.Lực lượng sử dụng hai đến ba đại đoàn. Hướng phụ là Trung Lào,lực lượng sử dụng hai trung đoàn.Hướng phối hợp là đồng bằng..." Trước đó vào tháng 10 đã có cuộc họp của Bộ Chính trị để bàn về kế hoạch tác chiếni Đông -Xuân 1953- 1954, Bác Hồ đã kết luận Hội nghị trên tinh thần chọn Tây Bắc là hướng hoạt động chính.
Như vậy Chiến dịch Tây Bắc II đã được khởi động và từng bước hình thành. Ngày 26/11/1953 Bộ tư lệnh tiền phương của chiến dịch đã được hình thành và lên đường đi Tây Bắc bao gồm Tổng tham mưu phó Hoàng Văn Thái, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục cung cấp Đặng Kim Giang và Cục phó cục tác chiến Đỗ Đức Kiên.
Cniến dịch Tây Bắc II dự kiến chia làm hai đợt ( chỉ là dự kiến bởi vì sau này đã có sự thay đổi căn bản so với kế hoạch ban đầu) :

Đợt 1: Đại đoàn 316 đánh Lai Châu, kết thúc vào cuối tháng 1/1954, sau đó nghỉ khoảng 20 ngày để chấn chỉnh và củng cố để tiếp tục đánh ĐBP.

Đợt 2 : Tấn công ĐBP thời gian dự kiến 45 ngày, nếu địch không tăng cường có thể rút ngắn hơn
Chiến dịch sẽ kết thúc vào đầu tháng 4/1954, sau đó sẽ tiếp tục phát triển sang Thượng Lào uy hiếp Luông Phabăng.

Ngày 6/12/1953 tờ trình của Tổng quân ủy gửi Bộ Chính trị nêu rõ " Thời gian tác chiến ở ĐBP ước độ 45 ngày, dự kiến bắt đầu tháng 2/1954"
Sau này khi cuộc chiến đã chấm dứt, người Pháp cứ day dứt mãi với câu hỏi"Tại sao ĐBP" H.Navarre đã trả lời,mục đích của việc hình thành tập đoàn cứ điểm ĐBP không phải chỉ là " ĐBP sẽ là một cái cối xay thịt nghiền nát chủ lực của VM" mà còn là thực hiện ý đồ ngăn chặn sự phát
triển của VM sang Thượng Lào" nhưng chính giới Pháp lại cho rằng VM hoàn toàn có thể bỏ qua
ĐBP nếu họ vẫn muốn tiếp tục thực hiện chiến dịch Tây Bắc- Thượng Lào.
Tương tự như chính giới Pháp , người VN cũng có thể đặt vấn đề , tại sao ta không tiếp tục thực hiện chiến dịch Tây Bắc -Thượng Lào như chủ trương đã được hoạch định.

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

Việt minh suýt thua ở Điện biên phủ, nếu như...

Rất nhiều người cho rằng, do hồi đầu, Tập đoàn cứ điểm Điện biên phủ (TĐCĐ) có ít quân nên Việt minh xài kiểu “đánh nhanh thắng nhanh”, rồi do sau đó, do TĐCĐ tăng quân nên Việt minh bèn chuyển qua kiểu “đánh chắc tiến chắc” (đánh lấn). Tuy nhiên, sự việc không đơn giản như vậy. Để góp phần làm rõ vấn đề này, tôi xin đưa một số liệu sau:

Theo hồ sơ Quân đội Pháp, kế hoạch tác chiến của Tướng Nava cho TĐCĐ như sau (và rất chắc chắn khi tướng Nava khẳng định TĐCĐ chỉ cần một phương án tác chiến - NBS):

"... Trận chiến sẽ tiến triển như sau:
-Giai đoạn 1: địch tập trung binh lực - trong vài tuần.
-Giai đoạn 2: địch tiếp cận và tiếp xúc – từ 6 tới 10 ngày.
-Giai đoạn 3: địch tấn công – trong vài ngày.
-Giai đoạn 4: địch tháo chạy.

Do đó, nhiệm vụ phòng thủ (của TĐCĐ) sẽ là:
-Giai đoạn 1: trì hoãn sự vận động của địch bởi những hoạt động dưới đất và trên không.
-Giai đoạn 2: tiến hành oanh tạc để đánh bật địch khỏi Lai châu.
-Giai đoạn 3: chặn các cuộc tấn công của địch (tại TĐCĐ). Bắt chúng phải trả giá đắt trong những trận đó bằng những trận phản công.
-Giai đoạn 4: khuyếch trương việc địch rút chạy …”

“... Cơ số dự trữ cho TĐCĐ gồm: 9 ngày ăn, 8 ngày xăng-dầu, 6 cơ số đạn cho từng D bộ binh, 6,5 cơ số đạn cho pháo 105, 7 cơ số đạn cho pháo 155, 8 cơ số đạn cho cối 120, 9 cơ số đạn cho tăng M24…”.

Số liệu cho thấy, TĐCĐ sẽ phòng ngự chỉ trong một khoảng thời gian tối đa là 8 ngày. Nói cách khác, theo Nava, địch chỉ có thể dùng cách đánh duy nhất là tấn công vỗ mặt, ồ ạt, mãnh liệt (đánh nhanh thắng nhanh). Do vậy, TĐCĐ đã được xây dựng để chống đỡ và tiêu diệt rất hiệu quả những kẻ tấn công TĐCĐ theo kiểu đánh nhanh thắng nhanh.

(Để chống cuộc tấn công ồ ạt, chỉ riêng về hàng rào của TĐCĐ “… những mạng lưới dây thép gai dày từ 50 tới 70 met vây quanh từng trung tâm đề kháng. Trong các trung tâm này, dây thép gai được vây quanh từng điểm tựa. Các hướng địch có thể thâm nhập đều bổ sung mạng lưới dây thép gai và các bãi mìn thường, mìn đĩa, mìn napan ngầm …”).

Hồi đó, qua trinh sát và dự báo, cả hai bên đều biết tỏng các cuộc di chuyển của nhau (có tài liệu): Khi Pháp biết Việt minh đang đưa một lực lượng rất lớn (lớn hơn dự kiến cũ của Nava) lên Điện biên, thì Pháp đã gấp rút bổ sung quân cho TĐCĐ. Tức không phải do Pháp tăng quân ở TĐCĐ mà Việt minh thay đổi kiểu đánh, mà ngược lại, do Việt minh tăng quân nên Pháp phải tăng quân theo.

Ý kiến của một binh nhì (tôi):
1. Như vậy nếu Việt minh đánh theo lối đánh nhanh thắng nhanh thì chắc chắn sẽ bị “toi”: Tướng mà cứ nhăm nhăm đưa quân vào thế trận do địch dàn dựng, gài bẫy thì, hoặc là tướng ngu dốt, hoặc là tướng đó muốn mượn tay địch diệt quân mình.
2. Các tướng của ta không ngu và không có ý định giết quân mình, vậy thì ai đây?

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010

Biển số xe ô tô


Cao Bằng _ 11 chẳng sai ,

Lạng Sơn Tây Bắc 12 cận kề

13 Hà Bắc mời về ,

Quảng Ninh 14 bốn bề là Than .

15 , 16 cùng mang .

Hải Phòng đất Bắc chứa chan nghĩa tình.

17 vùng đất Thái Bình .

18 Nam Định quê mình đẹp xinh .

Phú Thọ 19 Thành Kinh Lạc Hồng .

Thái Nguyên Sunfat , gang ,đồng ,

Đôi mươi ( 20 ) dễ nhớ trong lòng chúng ta .

Yên Bái 21 ghé qua .

Tuyên Quang _ Tây Bắc số là 22

Hà Giang rồi đến Lào Cai ,

23 , 24 sánh vai láng giềng .

Lai Châu , Sơn La vùng biên ,( giới )

25 , 26 số liền kề nhau .

27 lịch sử khắc sâu ,

Đánh tan xâm lược công đầu Điện Biên .

28 Hòa Bình ấm êm ,

29 Hà Nội liền liền 32 .

33 là đất Hà Tây .

Tiếp theo 34 đất này Hải Dương .

Ninh Bình vùng đất thân thương ,

35 là số đi đường cho dân .

Thanh Hóa 36 cũng gần .

37 , 38 tình thân ,

Nghệ An , Hà Tĩnh ta cần khắc ghi .

43 Đà Nẵng khó gì .

47 Đắc Lắc _ trường kỳ Tây Nguyên .

Lâm Đồng 49 thần tiên .

50 Thành Phố tiếp liền 60 .( TPHCM 50 - 59 )

Đồng Nai số 6 lần 10 ( 60 ).

Bình Dương 61 tách rời mới ra .

62 là đất không xa ,

Long An _ Bến Lức khúc ca lúa vàng .

63 màu mỡ Tiền Giang .

Vĩnh Long 64 ngày càng đẹp tươi .

Cần Thơ lúa gạo xin mời .

65 là số của người Cần Thơ .

Đồng Tháp 66 trước giờ .

67 kế tiếp là bờ An Giang .

68 biên giới Kiên Giang

Cà Mau 69 rộn ràng U Minh.

70 là số Tây Ninh .

Xứ dừa 71 yên bình Bến Tre .

72_ Vũng Tàu số xe .

73 Xứ QUẢNG vùng quê thanh BÌNH ( Quảng Bình ) .

74 Quãng Trị nghĩa tình .

Cố đô nước Việt Nam mình 75 .

76_Quảng Ngãi đến thăm .

Bình Định 77 âm thầm vùng lên.

78 biển số Phú Yên .

Khánh Hòa 79 núi liền biển xanh .

81_ rừng núi vây quanh .

Gia Lai phố núi , thị thành Playku .

Kon tum năm tháng mây mù ,

82 dễ nhớ mặc dù mới ra .( tách ra của GiaLai_Kontum )

Sóc Trăng có số 83 .

84 kế đó chính là Trà Vinh .

85 Ninh Thuận hữu tình .

86 Bình Thuận yên bình gần bên .

Vĩnh Phúc 88 vùng lên .

Hưng Yên 89 nhớ tên nhãn ***g .

Quãng Nam đất thép thành đồng ,

92 số mới tiếp vòng thời gian .

93 đất mới khai hoang ,

Chính là Bình Phước bạt ngàn cao su .

Bạc Liêu mang số 94 .

Bắc Kạn 97 có từ rất lâu .

Bắc Giang 98_vùng sâu .

Bắc Ninh 99 những câu Quan , hò


ST

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2010

Đám cưới con gái bạn. (Chuyện các bố)



Thống kê của YouTube cho thấy tại thời điểm này đã có 82 lượt xem cái clip trong bài "Đám cưới con gái bạn" ở dưới. Vậy mà chỉ có độc một còm của TL! Thật nẫu ruột, thôi đành đưa lên đây chút thông tin không chính thức của bàn K3 tại đám cưới vậy. Hay ở chỗ mâm K3 được rôm rả nhờ có 1 anh K2 tham gia. Tui có 6 cái clips kiểu này, xin đưa lên đây 1 cái để góp vui. Đám cưới con rất vui, các bố cũng sướng chả kém.


Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Đám cưới con gái bạn.



AE ta có nhiều hoàn cảnh, tình huống chẳng giống nhau. Cho dù TDHD nhận định " Đại đội mình có khoảng 180 đứa thì có đến 120 số phận na ná nhau" ...Vậy số phận Tiến Nhái có giống với 120 tên kia không? Sống, hoạt động ở Hà Nội trong khi vợ con đóng đô ở SG. Ngày 29/5 là ngày cưới của cô con gái thứ 1 (nói vậy chắc phài có cô thứ 2?). MT bay vô, có phải  lo tổ chức hay không tui không rõ lắm nhưng dự thì chắc chắn phải rùi. Đám bạn bè K3 chỉ biết được qua tin nhắn của TBLL phía Nam " Tran Minh Tien. Moi cac ban Troi khoa 3 den du dam cuoi con gai Tran Phuong Nhung, tai khach san CONTINENTAL SAIGON, 132 - 134 Dong Khoi Q1 tp HCM, vao luc 17h30 ngay thu bay 29 thang 5, 2010, vi o xa nen khong gui thiep cuoi den tan tay, mong cac ban thong cam. Tr M Tien". Có lẽ do tin nhắn không tới được tất cả các bạn SG hoặc bị ngập trong hàng đống tin rác khác nên tuy được tổ chức vào thời điểm thuận tiện ( chiều thứ 7) địa điểm tốt (KS bốn sao tại trung tâm - chỉ hơi khó kiến chỗ gởi xe máy) mà số bạn trỗi K3 đến gom được một bàn. Bù lại, đến dự toàn là những các nhân vật  đình đám - nổi tiếng từ xưa trong làng bồ ta bồ tây mà tới nay vẫn là những anh hào trong các lĩnh vực của mình.
Đám cưới con bạn là dịp gặp nhau vui vẻ , vừa là chúc mừng cho con cháu, vừa là dịp tám với nhau của lũ bạn già lâu ngày mới gặp lại. Tui đưa lên đây những hình ảnh chính thức của tiệc cưới và sự góp mặt của anh em mình để các bạn không đến dự được cùng biết.


Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

Hai Đức Chúa Ông

Truyện ngắn của Trần Chiến
Ông cả Ngộ biết rằng mình phải đến nhà trưởng Thìn hôm nay, ngay sáng nay. Mai kia ra thì cứt trâu đã hoá bùn rồi. Nhưng cái việc phải giáp mặt này nó bắt nhớ quá nhiều điều ông muốn quên. Lâu nay, ông hằng tính nát nước đến sự liên minh này. Hôm qua, thao thức cả đêm, để rồi sáng nay phải châm ấm chè, xem nên nói điều gì, nên bỏ câu gì. Đúng là ông phải chủ động sang bên ấy, vì trưởng Thìn có lý do để hận ông hơn.
Họ Chu, do cả Ngộ đứng đầu, năm mươi năm nay hiềm khích với họ Nguyễn của trưởng Thìn. Thời đế quốc họ Nguyễn phát đùng đùng, thay nhau làm hào lý, việc làng toàn ngồi mâm tiên chỉ. Tráng đinh họ Nguyễn nhiều người được học hành, nói tiếng Tây làu làu, lang bạt sang làm ăn tận Pháp, Mỹ. Trưởng Thìn hồi chín năm làm lý trưởng. Đứng ở cửa đình, lão thẳng tay nện trống thúc sưu, cứ ngũ liên cả buổi như hộ đê, cả làng mặt xanh như đít nhái. Đến khi Thìn cùng trương tuần tay thước vào nhà ai - cố nhiên, kể cả họ Nguyễn – thì nhà ấy tha hồ chắp tay “con cắn rơm cắn cỏ…”. Được cái là lão cũng nương tay, chẳng bắt ai ra giữa đình khảo hèo.
Đến năm năm ba, mọi bề đổi hẳn. Địa phương quân về đánh bốt Vân Ổ, dẹp hết hội tề. Đội bắt rễ ở nhà cố Lương, định tỷ lệ địa chủ trong làng là năm phần trăm, dĩ nhiên họ Nguyễn đa tiên chỉ lĩnh nhiều suất nhất. Con cái đang đi học trường kháng chiến bị đuổi về. Trưởng Thìn phải mặt bôi gio trát trấu, quỳ giữa đình cho bần cố nông kể hết chuyện cho vay đòi trả lãi đến đoạn “con gà nhà tao lạc sang vườn nhà mày không thấy về”.
Lệ là thế. Vít cành tre thì nó quật trả vào mặt. Con trai cố Lương là Chu Văn Ngộ vào thanh niên, nông hội, dần dần tham chính trong làng. Qua mấy lớp học về xâu chuỗi, bắt rễ, qua bình dân học vụ i tờ ít, anh đứng trong đội ngũ, trở thành chủ chốt ở xã. Lại hô hào dân công đắp đê, làm nghĩa vụ lương thực cho nhà nước tích luỹ vốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, nay mai máy cày sẽ chạy trên đồng thẳng cánh cò bay như nông trang bên Liên Xô. Lại kêu gọi thanh niên đi bê đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam. Rồi chống mê tín, bỏ tượng trôi sông Lồ Ồ. Rồi cưa hoành phi câu đối đem về thưng vách chuồng trâu, bụt ngồi trên đình chùa cứ nhấp nhổm như lửa cháy dưới đít. Những ngày hoạt động sôi nổi ấy, thanh niên họ Chu có điều kiện thoát ly, ra công trường xưởng máy làm, hoặc về thủ đô học nên bác sĩ, kỹ sư. Đám con cái họ Nguyễn, ngược lại, nem nép một bề, học hết lớp bảy đừng hòng tính chuyện lên cấp ba. Em ruột trưởng Thìn phải gửi sang huyện bên học, nức tiếng cả tỉnh vì được đi thi toàn quốc. Có giấy ở trung ương tư về cho đi đại học Bách khoa ở Hà Nội, chính quyền xã ỉm đi, mấy tháng sau mới đưa ra thì đã quá kỳ chiêu sinh. Nhưng mà quyết vượt vũ môn, cả họ Nguyễn góp tiền đem cậu ta lên trường tỉnh học lại, thi lại, đón lõng giấy gọi đại học từ trung ương về. Từ đấy, con cái hai họ gặp nhau chan chát ở Hà Nội, cộng tác làm việc với nhau, chẳng biết có nhớ đến hiềm thù nội tộc…
Sang những năm tám mươi, cả Ngộ về hưu, sang làm chủ tịch mặt trận Tổ quốc. Sinh hoạt ở tổ phụ lão với trưởng Thìn, ông giáp mặt hàng ngày, song tuyệt nhiên nhạt nhẽo, giao đãi gọi là. Hai họ bây giờ phương trưởng bằng nhau, cùng có giáo sư, tiến sĩ làm việc ở thủ đô, lũ thanh niên nam nữ ve nhau, lập gia đình tán loạn. Chiến tranh rồi hoà bình. Lại chiến tranh, lại hoà bình, bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi, còn sống mấy nỗi mà làm mặt lành mặt giận mãi. Vẫn biết thế, mà hai lão trưởng tộc không thể đến với nhau.
Cho đến những việc mới đây xẩy ra ở đền Úc Phụ, bà Lành được tụi lãnh đạo nhiệm kỳ mới của xã o bế định làm những việc quá thể đáng, thì hai họ đều không chịu nổi. Mẹ nó chứ, cái con mụ họ Ngô ấy tưởng được ô dù che đỡ thì giẫm đít bụt à? Nhưng mình mình – dù là chủ tịch mặt trận Tổ quốc - đứng ra cản nó thì cũng khó. Phải tìm. Cái khó là chẳng biết trông cậy vào ai ngoài lão đầu họ Nguyễn.
Ấm chè mộc đã nhạt thếch, nắng ngoài ngọn tre dạt vào góc sân, ông cả Ngộ vẫn ngồi im phắc, mặt như táo bón. Anh con trưởng đi thăm đồng về, gặng: “Sao bảo bố sang ông trưởng Thìn cơ mà?”.
- Thế lúc nẫy anh bảo tao sang có việc, lão ấy bảo sao?
- Ông ấy bảo mời ông sang. Thôi, ông sang đi. Việc trọng, các cụ phải ngồi với nhau chứ.
- Lão ấy cũng bảo việc trọng à?
- Không bảo. Nhưng con biết. Việc các cụ quan tâm giống nhau cả.
*

- Chào ông!
Ông cả Ngộ bước vào sân, đủng đỉnh chào, vừa đủ nhỏ để trong nhà nghe tiếng mà không ra chiều vồ vập quá. Ông trưởng Thìn đang xỉa răng chanh chách trên sập cũng chậm rãi bước xuống. “Mời ông vào”, lời nói nghe đủ lịch sự mà cũng rõ là khách khí lắm. Nhưng ông cả Ngộ còn nán lại ngoài sân, ngắm nghía căn nhà. Đây là chỗ nhà ngang trưởng Thìn được giữ lại sau kỳ cải cách, trước kia nó cũng rách rưới lắm, giờ đã thay bằng nhà hai tầng đúc bê tông, chỗ nào chỗ nấy sáng choang. Đặc biệt là quanh giếng chi chít những chậu cảnh, dễ cũng tinh xảo, có giá bằng của nhà ông.
Trưởng Thìn thấy khách còn vơ vẩn ngoài sân thì quay vào, lại xếp bằng trên sập, nhưng cũng quát đứa cháu tắt ngay cái đài đang đít cô đít cậu choang choác. “Lão không ra đón ta ngoài sân. A, lão cũng đánh ấm chén sẵn sàng rồi đấy chứ”, cả Ngộ nghĩ, cứ đủng đỉnh, khủng khỉnh cho đến khi trưởng Thìn lên tiếng “Mời ông vào”.
- Chè ngon đấy, ông nhỉ.
- Thằng em tôi mới đi nghỉ Bắc Thái, gửi về một cân, Tân Cương chính hiệu.
- Thảo nào, cứ mộc thế này uống mới hay.
- Tôi tính rồi, ướp sen ướp nhài chỉ được hương chứ vị thì vứt.
Ấm chè, sang tuần thứ hai, cứu cho đoạn vào chuyện khỏi nhạt nhẽo. Hai lão già chuyển sang mùa màng, năm nay dông bão lắm quá, thuỷ lợi phí ngày một tăng. Rồi cũng hết. Bèn vào việc: “Tôi sang đây định bàn việc đền Úc Phụ. Làng ta có bà Lành định làm thế, ông tính sao?”. Ông Thìn nghiêm ngay sắc mặt, lừ lừ đứng dậy thay ấm chè khác. Rồi đuổi chó xua gà mãi, mới ngồi xuống. “Thì có người đem thả bụt trôi sông trước đây, nay họ mới có cớ làm thế chứ”. Giọng ông buông sõng, ra điều muốn tới đâu thì muốn, đây vô can, không nhúng tay.
Ông cả Ngộ bèn giải thích:
- Hồi ấy, tôi làm chủ tịch xã thật, nhưng đang đi học trên trường đảng tỉnh, không biết việc ấy. Ông Kháng là phó chủ tịch nội chính chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đem Phật bỏ trôi sông Lồ Ồ. Rồi ông ấy bị kỷ luật, sau lại chết tức tưởi chứ còn đâu.
- Bao nhiêu là việc nữa, ông Thìn bùng ra. Tam quan đền làng đẹp nhất miền Bắc tính đem giật đổ, may mới mất con sấu trên cột. Chuông đồng bị dỡ, đem ghè ra bán cân. Ông còn để cho những đứa vo thần báng bổ đem hoành phi câu đối trên đình về thưng chuồng trâu. Thượng điện thì để thuốc sâu, hậu cung tam bảo thành kho chứa phân đạm ráo.
- Đấy là do tồn tại lịch sử, chứ có phải do chính quyền xã chủ trương đâu. - Cả Ngộ đã nóng mặt lắm, nhưng kinh nghiệm công tác bao nhiêu năm bảo ông phải dằn lại.
- Lại còn lấy đá trên gò đem trải đường, xe kìn kìn đi lại mấy tháng, vơi cả núi Đụn. Chả, dân không kêu thì bây giờ tan cả đình chùa, lấy đâu chỗ thờ cúng nữa. Suýt nữa thì mất cả giếng Tiên, dấu chân ngựa trời. Ông không nhớ hồi bé chăn trâu, thằng trẻ con nào đã uống nước giếng Tiên mãi, hở?
- Ông biết một mà không biết mười - Cả Ngộ sẵng giọng -. Nói cho ông biết, ngày kháng chiến, hội tề các ông ngồi đánh chén trong đình, tôi là du kích nấp trên cửa võng. Định thả lựư đạn xuống nhưng tiếc cái đền quá. Những tảng đá xanh chân cột trạm đài sen, rồi hương án, cỗ kiệu, điện thờ, cả nước chẳng nơi nào có vật đẹp hơn thế. Nên lại thôi. Tôi chỉ vê hòn cứt dơi thả vào bát canh lòng gà bí xanh ở mâm ông thôi. Ông ác lắm, làm lý trưởng gây bao nhiêu tội, chết là đáng. Nhưng tôi tha ông vì cái đền làng ta.
Trưởng Thìn mặt xám lại, nhìn trừng trừng vào cả Ngộ, rồi lại giãn ra, bần thần: “Ờ ờ, tôi ngỡ con dơi ỉa vào bát canh thật”. Rồi lại cất giọng lạnh tanh:
- Ông cũng ác như con rắn độc. Sao ông quy họ Nguyễn nhiều địa chủ thế? Sao ông giữ giấy gọi đại học của thằng Trực nhà tôi? Cả xã này có ai nhiều liệt sĩ chống Mỹ như họ tôi không, mà hôm họp trong diện ấy các ông làm khó dễ? Động cái dân công động cái đắp đê, là thế nào?
- À, thế thì để tôi cắt nghĩa. Đội cải cách quy định xã ta bẩy phần trăm địa chủ, tôi xin mãi mới xuống được năm phần trăm. Họ ông nhiều lý dịch lắm ruộng, quy thế là đúng, ai cãi được. Nhưng tôi thấy ông nắm quyền hương xã, làm gì là bị Tây thúc, đối xử với bà con không đến nỗi nào, nên còn nương nhẹ đấy. Còn việc giấy gọi đại học là lý do khác, do chủ trương không cho con em địa chủ lọt vào hàng ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa nên phải giam lại.
“Kể ra, cái việc họ ông trong diện liệt sĩ bị ngăn cản thì tôi làm sai thật. Việc ấy tại tôi”.
Ông Ngộ chùng giọng xuống, rồi điềm nhiên đứng dậy. “Tôi sang bàn việc bà Lành định thay tượng Đức Chúa Ông ngoài đền. Nhưng thấy khó nói chuyện quá. Chào ông, tôi về”.
Ông Thìn ngồi bó gối ôm điếu cày, mặt còn đỏ gay, không đứng dậy tiễn. “Không dám, chào ông”, giọng còn đầy thù hận. Hai ông trưởng chia tay như thể sắp về huy động trai tráng trong họ đến phá nhà thờ Tổ của nhau không bằng.
Ngang qua gốc sy giếng làng cũ, cả Ngộ gặp thằng cháu làm thư ký uỷ ban, nó báo: “Chủ tịch bảo nay mai thay tượng ông ạ”. Ông sẵng giọng: “Mày sang mà bảo cái lão trưởng Thìn, tao không biết!”.

*

Thế mà quá Ngọ sang Mùi được tẹo, cả Ngộ thấy trưởng Thìn sang nhà mình. Đi như xộc vào, chẳng để ý đến bộ điệu khủng khỉnh của chủ nhân, “Này ông, rằm tháng sáu họ định thay tượng Đức Chúa Ông thật đấy”, ông ta nói luôn.
- À, thế ra ông cũng muốn bàn chuyện ấy với tôi kia đấy.
Cả Ngộ làm cao. Trưởng Thìn đấu dịu ngay. “Tình hình khẩn trương lắm rồi. Tôi với ông không ngồi với nhau là có tội đấy”.
“Thế này ông ạ…”, giọng trưởng Thìn ôn hoà, những lời chắc đã được ngẫm rất kỹ. “Tôi với ông, họ tôi với họ ông đều có chỗ không phải với nhau. Thời thế nó bắt thế, cờ đến tay ai phải phất. Nhưng bây giờ có kẻ định phạm vào cái chỗ linh thiêng nhất của làng. Báng bổ quá lắm. Trong xã chỉ có họ Chu với họ Nguyễn là đương đầu nổi với chúng. Tách nhau ra là chết. Không phải chỉ có đợt thay tượng này, mà được đà, bọn quan lại cường hào mới sẽ được thể đè ta nhiều chuyện khác. Ai chứ ông với tôi đều đã làm lý dịch, còn lạ gì…”
“Còn lạ gì… Hừ, sao lại so thời lão làm lý trưởng với thời Việt Nam dân chủ cộng hoà, ta làm chủ tịch xã”, cả Ngộ mỉa mai nghĩ. Nhưng ông cũng phải công nhận rằng truởng Thìn nghĩ phải trong tình thế này. Làng Vân Ổ còn dăm bảy họ khác, nhưng rặt lũ tép riu. Xưa nay quyền bính những chỉ nằm trong tay hai họ Chu và Nguyễn. Ngày bé, thằng Ngộ con mõ Lương và thằng Thìn con chánh Xuân cũng hay tha thủi bên gò Úc Phụ chơi, đứa chăn trâu, đứa đánh khăng. Đền có nhiều bàn thờ, ở giữa là Đức Huyền Thiên Trấn Vũ có công giúp Thục An Dương Vương trừ lợn lang gà trắng xây nên thành Ốc. Hai bên là những thổ địa, Mẫu Thượng Ngàn, ông Khổng Tử, bà Thị Kính. Ngộ và Thìn ban thờ Đức Chúa Ông cai quản mười tám vị sơn thần trông nom dương gian. Khoái, vì cụ từ hay gọi vào cho phẩm oản, nải chuối, quả na tạ từ ban, cũng vì tượng Đức Chúa Ông thật đẹp, ngắm mãi không chán. Ngài mặc phẩm phục màu nâu đỏ, cầm thanh đao nhỏ, một chân dận hia, chân kia để trần, trông mộc mạc mà lại thoát tục. Đặc biệt là đôi mắt nghiêm nghị, lúc hiền từ, nhìn kỹ lại rất dữ. Các cụ trong làng bảo người thợ nào tô đôi mắt ấy là chín chắn lắm.
Đền Úc Phụ, Ngộ có một trận để đời không thể quên được. Ngày mười lăm tuổi, chơi trốn tìm, chả biết kiêng cữ gì cả, cậu cùng cái Na rúc vào vòm cuốn tò vò dưới ban thờ Đức Chúa Ông. Chỗ ấy chật lắm, phải ép sát vào nhau mới khỏi lộ. Trong cõi ẩm mốc, nhớp nháp, mùi bồ kết, mùi mồ hôi từ cô bé đánh thức trong Ngộ một cái gì cậu chả bao giờ biết đến. Cậu mân mê mái tóc Na, úp mặt vào ngửi hít. Bỗng cô bé cầm tay Ngộ úp lên ngực mình, chỗ nhu nhú. Lâu lâu, Na đẩy tay Ngộ ra, bảo “Tay đằng ấy người lớn rồi nhưng mắt đằng ấy còn trẻ con lắm”.
Rồi Na lớn lên, lấy chồng, Ngộ thấy như mình mất cái gì. Mãi sau này, đận cháu chắt rồi, mỗi lần đến trước Đức Chúa Ông, cả Ngộ thấy thực khó ngăn mình khỏi chui vào cái lỗ tò vò ẩm mốc dưới ban thờ. Đít Ngài, đối với ông, mãi mãi là nơi bí ẩn, vừa thiêng vừa tục nhất đời.
Vào những ngày hai họ Chu, Nguyễn tranh nhau trị vì hương xã và thẳng tay trị nhau, cô bé Lành của họ Ngô lớn lên, theo ông chú ra Hà Nội làm ăn. Cô buôn hàng sắt, vốn lớn lắm, phát đạt ầm ầm, thỉnh thoảng thấy về làng đầu u xi răng trắng, kể chuyện đi bơi, giao du với người này người nọ. Cô có ba đời chồng và một đống con, khi lên bà thì đốc chứng đồng bóng, đền phủ nào cũng đi, càng xa xôi sức càng khỏe. Bạn bè cô ở hội Chân Tâm tín ngưỡng, cũng cùng hội buôn, tháng nào cũng hành hương cúng lễ, chẳng ngày sóc vọng nào không đèn nhang; chừng như các bà buôn đều cúng lễ khoẻ, Tiên Phật độ trì họ chẳng ít.
Khi cả Ngộ còn đương chức chủ tịch, bà Lành đánh xe về, bàn: “Làng ta là đất văn vật, đền Úc Phụ xưa có tiếng là thiêng, đề nghị uỷ ban, mặt trận tổ quốc cho lập hồ sơ để xin bằng công nhận di tích lịch sử của bộ Văn hoá, tốn kém đâu tôi xin cung tiến”. Lời nói phải quá, uỷ ban bèn cử cụ thống Đào nhiều chữ nhất làng đi lục lại những văn tự, gia phả, viết lại sự tích đền. Lại lôi tấm bia đá kê dưới ao làm chỗ rửa chân lên dựng lại nhà bia ở chỗ cũ. Những tam bảo, quán Tiên, đều Mẫu, bao nhiêu bộ hoảnh phi câu đối, cái bị Tây đốt, cái tự phá hồi tiêu thổ kháng chiến, cái bị mai một hồi báng thần bổ thánh dần dần được khôi phục lại, mới đầu còn dấm dúi sau ra công khai. Đền Úc Phụ được công nhận di tích lịch sử văn hoá, đón bằng của trên rầm rộ, thu hút thập phương đến ùn ùn.
Rồi bà Lành về hẳn làng, ủng hộ nhà trẻ dăm chục bộ quần áo mới cho đàn cháu và các cô, xây gian phụ sản ở trạm xá, có cả dụng cụ y tế. Chính điện đền Úc Phụ sáng choang khi bà cho bóc lớp gạch, tương truyền có từ đời Trần, thay bằng cả nghìn viên gạch hoa Đà Nẵng. Nước trên đền thiếu lắm, phải xuống tận giếng đất khiêng, bà cho xây đôi bể chứa cả nghìn gánh nước mưa, tha hồ việc làng, cúng lễ. Lại trình bày với uỷ ban xã và các cụ (bấy giờ ông Ngộ đã sang làm mặt trận tổ quốc): “Tôi nay đã già, hồi tâm làm việc thiện, xin các cụ các bác cho về ở đền hàng ngày bao sái đèn hương. Cũng như nhời Tiên Phật dạy, kẻ có căn đi đâu về đâu rồi cũng phải về núp dưới bóng đền bóng chùa thôi mà”.
Vẫn là lời nói quá phải, chẳng đụng đến quyền lợi của ai, nên chẳng bị chối từ. Huống hồ bà Lành ăn chay tuần ba ngày, và lôi về đền bao nhiêu bạn buôn, công đức nặng tay lắm.
Đền Úc Phụ mở hội lại, ba năm nay mời liền liền đội nữ quan ở Hà Nội về làm lễ. Thập phương kéo đến cả vạn người xem rước vua Thục giả, thần Rùa Vàng giả kín cả cánh đồng, riêng tiền giữ xe đem về cho xã vài chục triệu. Công đức thì vô kể, sẻ lại cho ban di tích xong, xã thu cũng gấp vài lần thuế công thương của mấy chục công ty tư nhân. Rồi mượn người hay chữ soạn tờ gấp in sự tích ngôi đền bán cả vạn tờ. Hàng quán rạp riệc dựng lên bán bánh dày, trứng luộc cùng khánh, xuyến, xà tích, bao người được nhờ trong mấy ngày lễ. Úc Phụ khuyếch trương được thanh thế, hội đền nức tiếng một vùng khiến quan viên các làng lân cận sốt tiết, cũng chạy đi lập hồ sơ xin bằng công nhận di tích cho mấy cái miếu bé con con của họ. Bỗng chốc thu bộn tiền thật đàng hoàng, hình như chẳng có gì dễ bằng tổ chức lễ hội thật to, dân tình nơi nơi đến mở hầu bao ra chóng vánh quá.
Có dịp ông Hoạt già, trưởng ban quản lý di tích, trẩm đi đâu mất chục triệu tiền công đức, xã bèn củng cố lại, đưa bà Lành lên phó ban, tất nhiên trưởng phải là chủ tịch mặt trận tổ quốc. Tiếng là đầu đàn, nhưng nhiều việc cả Ngộ thấy mình chân chất quá, cứ phải hỏi ý kiến bà Lành quảng giao, bạt thiệp. Dần dà bà ta tự động quán xuyến, chỉ hỏi ý kiến các cụ gọi là. Phương chi, cậu Đoàn đương kim chủ tịch xã là người họ Ngô, gọi bà Lành là cô, luôn luôn quyết đoán việc đền theo ý bà. Cũng ấm ách! Chẳng hạn như khi bà tự thuê người biết tiếng Tây viết lên hòm công đức mấy chữ Contribution nghĩa là “Đóng góp” gì đó, các cụ kêu, bà bảo để thế thì tây đầm đến đền ta phải tòi tiền ra. Chẳng thuận lắm, nhưng cho là việc nhỏ, các cụ cho qua không bàn lại. Vả lại, Chu với Nguyễn hai họ lớn nhất có bao giờ bằng mặt với nhau đâu mà ỷ dốc phản đối.
Nhưng đến cái sự thay tượng thì thật quá thể. Cách đây nửa tháng bà Lành đề nghị họp ban di tích, có chủ tịch xã dự. “Là tôi muốn xin ý kiến các cụ”, bà trình bày. “Mấy năm nay, đền làng được sang sửa nhiều, như may lại xiêm áo cho Tam Toà Thánh Mẫu, tô tượng, viết lại các bức hoành. Chỉ còn tượng Đức Chúa Ông trên ban bên phải đã cũ quá rồi. Phẩm phục màu nâu, trông Ngài tối xì xì, sứt miếng ngay cổ. Tôi bàn là ta nên thay tượng mới đẹp đẽ hơn. Thế ạ…”
Các cụ ớ người ra. Quá bất ngờ. Ai mà có thể ngờ được. Cả Ngộ phản ứng đầu tiên: “Thay thế nào được! Ngài đã có bao nhiêu năm rồi, linh thiêng là ở bản thân bây giờ chứ”.
- Thì ta hô thần nhập tượng. Đức Ngài lại dời sang “nhà” mới ngay. – bà Lành điềm nhiên.
- Thế tượng cũ bà định bỏ đi đâu? - Trưởng Thìn nóng nảy lên tiếng.
- Dạ, tôi hỏi thầy đã kỹ. Để Ngài nghỉ dưới giếng mắt rồng, vẫn có linh khí ngàn xưa tụ lại, mà còn mát nữa.
Giọng trả lời vẫn ngọt ngào, tự tin lắm. Nhưng các cụ đâu có chịu, rằng chưa ai làm thế bao giờ, đẻ chuyện gây tốn kém, rằng… Bà Lành không đáp lời. Thì ông chủ tịch xã lên tiếng, không phải phân trần nữa mà là quyết định:
- Thưa các cụ, đảng uỷ, hội đồng và uỷ ban nhân dân chúng tôi đã họp bàn xong. Ngày rằm tháng sáu này sẽ rước Đức Chúa Ông mới và thay bức hiện nay. Việc này hoàn toàn do bà Lành cung tiến, không ai phải bỏ tiền ra cả. Đây, các cụ xem quyết định của uỷ ban. Đã có hiệu lực rồi.
Cả Ngộ ớ ra. Chức trưởng ban di tích của ông té ra chẳng là cái đinh mục với bà phó. Đêm ấy ông càng phải tủi phận, nhận ra thời binh quyền của họ Chu đã qua.

*

Trước rằm tháng sáu, ông cả Ngộ triệu tập hội nghị bất thường các đảng viên họ Chu. Tiếng cả thế, nhưng cánh họ Chu trong xã chỉ còn giữ những chức èng èng như thu tín dụng, khuyến nông, thuỷ lợi, còn bao nhiêu vai vế quan trọng khác họ Ngô đã chia nhau cả rồi, sớt lại gọi là cho các họ khác. Bởi vậy, hội nghị mở rộng ra cả các bô lão trong họ.
Mở đầu, cả Ngộ mời mọi người uống chè Thái của trưởng họ Nguyễn biếu. “Hai họ phải kết hoà hiếu để chống lại đứa quỷ trá cậy của”. Rồi ông nói cụ thể hơn chuyện Đức Chúa Ông, bà Lành được uỷ ban xã ủng hộ. Mọi người đều nhất trí thế là giẫm đít bụt, làm hỏng những truyền thống đã có tự nghìn năm.
Bên họ Nguyễn, trưởng Thìn cũng quán triệt cho mọi người nguy cơ mất hết cổ vật của tổ tiên và cũng đạt được nhất trí cao. Hai họ Chu, Nguyễn thảo một giác thư lên văn hoá huyện văn hoá tỉnh, cậy người thân quen quà cáp để chuyện gở đừng xảy ra. Nhưng có vẻ như đã quá muộn. Hai họ lại định rằng đến ngày ấy nhất định phải tụ họp lên đền tranh đấu, kẻo rồi ảnh hưởng đến cả long mạch. Táo gan thật. Dám làm chuyện tày trời.
Rằm tháng sáu nhằm đúng chủ nhật. Từ sáng sớm, ban di tích đã đủ đầy trên sân đền, cả thảy sáu cụ, trừ bà Lành đi thỉnh tượng bên Hà Bắc. Ngoài ra còn có các bô lão trong xã, nhất nhất đều muốn giữ lại Đức Chúa Ông đương vị. Đám thanh niên đến cũng nhiều, phần vì hiếu sự, nhưng hai ông trưởng họ điểm mặt thấy yên lòng, khối đứa họ Nguyễn họ Chu.
Hút thuốc lào vặt, uống rượu vã mãi, rồi ô tô chở tượng mới cũng về đến nơi. Có mươi bà buôn ở Hà Nội hay đóng nữ quan trong các đám rước. Đồ nghề trên xe khuân xuống mãi mới hết. Bà Lành dõng dạc chỉ huy mấy thanh niên khiêng Ngài lên nhà tiền tế. Bên này, cả Ngộ và trưởng Thìn trố mắt nhìn, chỉ thấy lụa điều phủ kín, có vẻ to hơn Đức Chúa trong kia. Không hiểu bên trong thế nào.
Trước sự chứng kiến của Ngô chủ tịch xã, hai bên chủ khách chào hỏi nhau trịnh trọng, lịch sự, nhưng bên trong như bài binh bố trận thế nào. Ông cả Ngộ thay mặt ban di tích và các cụ trong làng cảm ơn các bà bên Hà Nội đã không quản xa xôi mà lui tới ngôi đền nhỏ bé của chúng tôi. Bà hội trưởng Chân Tâm tín ngưỡng đáp rằng đây là chốn thần tiên, đến được là có cơ duyên lắm, xin phép các cụ vào thắp hương. Tuần trầu nước đã qua. Kính thưa, cảm tạ mãi, bà hội trưởng có lời:
- Chúng tôi ăn chay nằm mộng, chọn ngày lành tháng tốt, hôm nay rằm tháng sáu dọn mình sạch sẽ sang đây. Trên có uỷ ban, dưới là các cụ ở ban di tích, xin cung tiến quý đền một đôi lọng, mười mâm nhôm to, một trống đại, hai đỉnh đồng cùng bộ bát bửu.
“À vâng!”. Món cung tiến quá to khiến cả Ngộ ngỡ ngàng, chỉ đáp lại được vậy.
“Hội Chân Tâm tín ngưỡng xin biếu uỷ ban xã Vân Ổ mười triệu đồng tiền mặt, vì đã góp phần ủng hộ phong trào uống nước nhớ nguồn, quay về với tổ tiên”.
Cả Ngộ và trưởng Thìn nhìn chủ tịch Ngô Tiến Đoàn tiến lên nhận tiền, cảm ơn, đưa mắt cho nhau. Ra họ gớm thật, cho cái thằng tham này há miệng mắc quai cái đã. Để rồi xem.
“Bà Ngô Thị Lành có hỏi ý kiến chúng tôi về pho tượng Đức Chúa Ông hiện nay, đã cũ rồi và không được oai phong mấy. Nếu thay Ngài bằng một tượng mới to đẹp hơn thì thu hút được thập phương đến nhiều hơn, thanh thế đền Úc Phụ càng lớn. Chị em chúng tôi nghĩ thế cũng phải, vậy xin ý kiến quý uỷ ban và các cụ”.
- Việc này chúng tôi đã bàn và đồng ý rồi, Ngô chủ tịch xã lên tiếng. Tượng cũ cổ lắm, không còn thích hợp với thời đại mới nữa. Phải mở cửa ra mới được. Dân tình thập phương đều chỉ thích đến chỗ đền đài nguy nga, đồ thờ lộng lẫy. Ý định của các bác ở hội đây và bà Lành rất hợp với sở nguyện chính quyền và dân xã. Chúng tôi xin chấp nhận và cảm ơn tấm lòng vàng này.
Ông cả Ngộ há hốc mồm, uất quá không nói được. Đến khi ra lời thì chả thành bài bản gì. “Việc này chưa từng có bao giờ. Từ thuở còn chăn trâu, chúng tôi đã quen thân với Ngài, thọ lộc của Ngài, khi nải chuối khi phẩm oản. Bây giờ thay tượng là dứt khoát không thể được.
- Thì có phải đem Ngài trôi sông báng bổ như năm xưa cụ làm chủ tịch xã đâu. – Bà Lành nói kháy – Chúng tôi chỉ định đưa Ngài xuống giếng Mắt rồng cho mát mẻ thôi mà. Việc hô thần nhập tượng mới đã có chuẩn bị, khấn đúng bài các cụ tổ ta dùng khi xưa. Có gì đâu mà bác cả Ngộ gây khó khăn làm vậy.
- Không được. Dứt khoát là Đức Chúa Ông y như bây giờ. Bà đừng có mà cậy của đòi thay đổi tất cả. Bà quen đi xa về gần mấy chục năm nay rồi, có biết tình cảm làng quê với Đức Chúa Ông, với ngôi đền này như thế nào đâu.
- Bác cả Ngộ không được nóng nảy thế, giọng Ngô chủ tịch xã chắc nịch. Bà Lành đây có chân tâm mới cung tiến như vậy. Hơn nữa đền chùa cải tiến, đổi mới, thiên hạ đổ đến nhiều thì mới có tiền công đức mà thay đổi bộ mặt làng xã. Hay là ông muốn chúng ta cứ nghèo hèn quê kệch mãi, hả?
- Anh thì chỉ biết có tiền! – Ông cả Ngộ đốp trả - Thằng Phương con nhà Tròn trốn đi di tản năm xưa, các anh lên án bao nhiêu. Mà năm ngoái nó ở Mỹ về, mới thăm hỏi một tẹo đã tôn thành Việt kiều yêu nước. Đừng có lộng giả thành chân, giẫm đít bụt.
- A, này… - Chủ tịch xã lắp bắp – Ông đừng hỗn với chính quyền. Tháng chín tới hết nhiệm kỳ, đảng uỷ bầu lại sẽ cách ông khỏi chức chủ tịch mặt trận tổ quốc. Rồi cũng tong khỏi chân trưởng ban di tích, cho mà biết.
- Tôi còn ngồi đây thì đừng hòng bê Đức Chúa Ông vứt xuống giếng!
Cả Ngộ đỏ mặt tía tai, chân giẫm bành bạch. Ông đứng ngó quanh tức tối. Quái, lão trưởng Thìn bàn bạc quyết tâm làm vậy, mà bây giờ đ. thấy hé răng. Thì ông đương đầu cũng chẳng sao. Được cái bên kia, con mẹ Lành và các bà Chân Tâm tín ngưỡng cũng im phắc.
Đang căng thẳng, thốt nhiên một ông lão từ nhà thờ chạy ra. “Các ông các bà xem kìa, tượng Đức Chúa Ông trên ban mồ hôi cứ rịn ra”.
Ai nấy sợ cứng người lại, kể cả bà Lành. Chỉ riêng chủ tịch xã điềm nhiên: “Ngài mừng đấy, vì sắp được xuống Mắt rồng tắm mát". Đoạn quay lại bảo đám trai tráng: “Các cậu còn đợi gì nữa, vào thắp hương xin phép, rồi hạ Ngài xuống đi”.
Chẳng ai bảo sao. Ông cả Ngộ đần người ra, bất lực nhìn đám trai họ Ngô rục rịch chuẩn bị đòn khiêng. Thì trưởng Thìn lên tiếng, giọng điềm đạm và sang sảng, hệt ngày còn là lý dịch:
- Không hạ xuống được đâu. Làm thế vừa trái đạo trời, vừa sai phép nước. Thứ nhất, tượng Đức Chúa Ông có tự bao giờ không biết, chỉ thấy khi lớn lên đã có Ngài rồi. Ngài tuy nâu sồng mộc mạc thật nhưng lại hun đúc khí thiêng bao đời. Thứ nhì, khi xin bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá, trên đã kiểm kê bao nhiêu tượng, bao nhiêu hoành phi câu đối, đến từng bức cửa võng chạm con gì bông hoa gì cũng vào sổ cả rồi. Nay hạ Ngài xuống bỏ ra ao Mắt rồng, liệu có phải xâm phạm di tích lịch sử không? Các ông uỷ ban có chịu trách nhiệm được không?
Chủ tịch xã không dám hé môi. Lý sự của lão già làm quan một thời cứng cáp quá.
- Cổ vật mới là của quý! - Giọng trưởng Thìn lại càng sang hơn - Lọng vàng bát bửu mâm nhôm trống đại các bà cung tiến chúng tôi xin nhận và cảm tạ hết lòng. Nhưng đó là đồ mới, có tiền là mua được. Chứ như đây, bạc tỷ có làm được vầng đá mọc dưới đít tượng Đức Quán Thánh không, mỗi năm lại nhô lên mấy phân đấy. Ông chủ tịch nói không phải. Thập phương đến đây vì các pho chư Tiên chư Phật đã có từ lâu đời, đâu phải vì mấy bức hoành mới tô vàng choé. Tôi nói lại chuyện cũ, bà Lành cho bật những viên gạch trạm rồng có từ đời Trần ở trong điện để lát đá hoa vào cho sáng choang lên, cũng là dốt nát rồi – Ông đột ngột hỏi – Bà đặt làm tượng Đức Chúa Ông mới này hết bao nhiêu tiền?
- Da, mất hai mươi hai triệu, bà Lành lí nhí đáp.
- Thôi, thế này, tôi đề nghị… Bà Lành là người có tâm đức, tuy hơi hợm của một tỵ. Tượng đã thỉnh về đây, thì đưa cả lên ban, ta thờ cả hai Đức Chúa Ông một lúc. Ý kiến chúng tôi là vậy. Dứt khoát không bỏ Ngài xuống ao Mắt rồng được.
Trưởng Thìn đứng dậy, quay hẳn sang các bà Chân Tâm tín ngưỡng: “Nếu các bà không đồng ý thì mang cả bát bửu lọng vàng cùng các thứ đem đi đâu cho thì đi”.
*
Tượng Đức Chúa Ông trên ban được kê dịch sang trái, lấy chỗ cho Đức Chúa Ông mới. Thoạt nhìn đã thấy khác nhau lắm. Bên này thì nâu đỏ mộc mạc, một chân để trần, đôi mắt vừa dữ lại vừa hiền. Pho bên kia bằng gỗ mít tô đỏ rực, hai chân đều dận hia, đôi mắt xếch ngược, lông mày dựng đứng như tranh trong sách Tầu. Rồi ngai, ngù, rồi mũ cánh chuồn vàng choé. Vì đôi con ngươi là hai hòn bi bằng thuỷ tinh nên lúc nào trông Ngài cũng như lúc nào, vô hồn và ít sinh khí hơn Ông cũ. Nhưng Đức Chúa Ông mới ngồi trên ngai vàng, tầm vóc cao hơn, nên khi đặt lại tượng, các cụ trong làng nhất quyết đôn thêm cái bục dưới đít Đức Chúa Ông cũ. Phải cho bằng nhau, phải thế. Không thì lại nhất bên trọng nhất bên khinh.
Đêm đến, ông cả Ngộ ngồi xếp bằng dưới chân tượng cũ. Cái bát hương chỉ cắm một nén nhang đỏ đọc như mắt người. Lòng ông mang mang hỗn độn. Lạy chư Phật chư Tiên, bây giờ có hai Đức Chúa Ông thì ai cai quản mười tám vị sơn thần coi sóc dương gian? Cái lão trưởng Thìn lý sự ghê thật, không bên nào đồng ý nhưng bên nào cũng phải theo. Bây giờ họ ông phải đoàn kết với họ Nguyễn thôi. Hai họ mà mạnh thì làng mới mạnh, không để lũ quỷ trá hợm của làm càn mãi. Dầu thế nào các ông phải giấy rách giữ lấy lề, khôi phục lề thói làng xã, truyền thống dân tộc cho bọn trẻ còn có cái để quay về với Tổ Tiên chứ.
“Lạy Đức Chúa Ông, Ngài ở với chúng con”
Bên phải ông Ngộ, bà Lành ngồi trước Đức Chúa Ông của bà, bát hương còn mới tinh ngùn ngụt như đám cháy. Bà đang nghĩ gì? Bà ấy còn định làm gì với ngôi đền của chúng ta nữa đây?
T.C

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

HỒI ẤY

Đầu năm 1969 khóa 3 NVT đã trở thành khóa 3 của Trường ĐHKTQS với phiên hiệu mới là Đại đội 135 và đóng quân tại Thậm Thình-Vĩnh Phúc. Đó là thời kỳ toàn khóa đang ôn thi tập trung để chuẩn bị vào năm thứ nhất. Giữa đêm ngày 3/9 có lệnh báo động và được thông báo tin A1 (mật danh của Bác qua điện báo) bệnh nặng, đêm đó qua đi trong linh cảm chẳng lành. Ngày hôm sau là tin đến, tất cả rơi vào hụt hẫng..., rồi thì lúc tập trung thành đám đông, khi tụ lại thành nhóm nhỏ...Rạng sáng ngày hôm sau nữa, toàn khóa còn khoảng 70% quân số, lại một ngày nặng nề trôi qua. Rồi rạng sáng của ngày kế tiếp, toàn khóa còn khoảng 30% quân số...Ngày tiếp theo, số còn lại nhận được lệnh "cho về nghỉ phép tới ngày N có mặt tại đơn vị".
Thế là từ trước ngày 9/9, toàn khóa đã có mặt tại Hà Nội để viếng Bác và tham dự Lễ truy điệu tại Quảng trường Ba Đình.
Ngày N, toàn khóa có mặt tại đơn vị không thiếu một người. Hôm sau, tất cả số quân "đã về Hà Nội khi chưa được phép" đều tự viết đơn xin nhận kỷ luật của nhà trường...
Rồi cũng qua một kỳ thi vào đại học trong năm ấy, toàn khóa không còn là một đại đội 135 nữa mà tách ra theo các ngành chuyên môn như cơ điện, xây dựng, điện tử...
Một năm sau, vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác (19,5/1970), tôi có làm một bài thơ "Bác về" và xin chép lại :

"Tám mươi tuổi vẫn còn xuân",
Bác cười, Bác nói với nhân dân mình.
Trời cao lồng lộng bóng hình
Bạc phơ mái tóc nghĩa tình, Bác ơi!
Vạn bồn mây đã ngừng trôi
Kết Bông Sen giữa đất trời quê hương
Bác về, với vạn tình thương.


XN.K3

120 Năm Ngày sinh Bác Hồ



Hồ Chí Minh
Nhật ký trong tù

折字

Chơi chữ


囚人出去或為國
患過頭時始見忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;

Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.


Người thoát khỏi tù ra dựng nước,


Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!
Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù () bỏ chữ nhân (), cho chữ hoặc () vào, thành chữ quốc (). Chữ hoạn () bớt phần trên đi thành chữ trung (). Thêm bộ nhân () đứng vào chữ ưu () trong “ưu sầu” thành chữ ưu () trong “ưu điểm”. Chữ lung () bỏ bộ trúc đầu () thành chữ long ().
Nguồn : Thái Nhi