Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Họp CB mở rộng. (P1)

  Là CB của Bình ngọn nên rất cởi mở và phần nào đó dân chủ. Vì là CB nên về đường lối chung, nó cũng tuyệt đối tuân theo ý chí của Đ ta: Thời kỳ lạm phát với chỉ số tiêu dùng tăng 10% chẳng hề gì! cứ quán triệt nghị quyết là bình ổn được tuốt. Cụ thể nghị quyết: Mỗi đ/c nộp 10% lương hưu để ăn mừng ngày giải phóng MN, thống nhất đất nước. Để đúng với ý nghĩa "kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" Bí thơ mở ngoặc thêm: "Đ/c nào nạp trước 1/5/2011 sẽ được bớt 10% (của cái 10% ý)!" Vậy là anh em hưởng ứng góp đầy đủ ngay sau khi bí thơ gương mẫu nộp đầu tiên. Chỉ là phần trăm lương hưu, nhưng nhờ sức mạnh ĐV của CB nên tổng cũng kha khá. Bí thơ ra nghị quyết tiếp theo: "Tổ chức gặp mặt nhân ngày lễ trọng đại này phải được làm tại địa điểm mới, có phòng biệt lập, máy lạnh mát rượi, phục vụ chu đáo, món ăn ngon và quan trọng nhất là đủ khách thân"
    Nghị quyết phải được quán triệt! Địa điểm là nhà Hàng Kỳ Đồng 2. Địa chỉ quen thuộc của BT! Phòng máy lạnh lầu 1. Khách thì trên cả mong đợi, ngoài đội chị em Minh Oanh Vân Hoa....còn có các đ/c đã lui về "dự bị" như Công còm, Kỳ Nghĩa, Đức Cối...Rồi nhóm Tám Tự, Chí Nhân...và cả các chú em K6, K7. Đặc biệt có sự góp mặt của 2 VIP trong BLL trường là Vinh Voi và Thái Mã.
   Chỉ là qui mô CB nhỏ trong k3, nhưng buổi gặp mặt cực dzui dzẻ. Mời các bạn coi hình trước nha, món ngon để sau, sẽ có trên phần kế tiếp

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Giày đi bộ

Bọ nay đã già. Sáng sáng bọ ra công viên đi bộ (gọi là "đi bộ thể thao") để cho nó khỏe. Nhưng nếu đi giày không đạt chuẩn thì, thay vì đi bộ là tốt, có thể hư chân, hư tuốt lên đầu gối, lên nữa. Vậy làm sao để chọn được giày đi bộ?
Dưới đây là kinh nghiệm của bá tánh:

1. Theo kinh nghiệm của anh Dũng, một người sành về giầy thể thao, thì hầu hết các hãng giầy nổi tiếng trên thế giới đều đúc logo của hãng vào đế. Logo được đúc rất sắc nét, không bị méo. Những đôi giầy nhái thường có kiểu “đầu Ngô mình Sở”, logo khi thì dập, lúc thì thêu trên trên giầy, ít khi đúc ở đế giầy, hoặc nếu có thì rất “nhoè”, hình ảnh không nét. Giầy “xịn” lót thường làm bằng da hoặc vật liệu tổng hợp, được dán keo rất kỹ vào đế, không bị bong tróc hay xô lệch.
Lót giầy của hàng nhái thường làm bằng bìa cứng, nên dễ bung, dễ ngấm nước. Với loại hàng nhái tinh vi thì khó phân biệt hơn, người mua cần kiểm tra kỹ đường nét, mầu sắc, còn lại là... phó mặc cho “may rủi”.

2. Và anh Âu, chủ một cửa hàng giầy thể thao ở đường Nguyễn Trãi thì cho rằng, giầy thể thao hàng xịn rất nhẹ, chỉ khoảng vài trăm gram, đi êm chân, đệm lót mềm, khả năng hút ẩm tốt. Đế giầy được ép nhiệt nên khác với hàng nhái được dán keo, vì thế ít khi có hiện tượng bong tróc hay há mõm. Điều quan trọng nhất khi đi mua giầy nên đặt giầy lên một mặt phẳng, xem chúng có cân đối không. Giầy tốt sẽ không bị nghiêng vẹo, đầu và gót nằm trên một mặt phẳng, khi ấn vào mũi hoặc gót giầy, giầy vẫn không bị bập bênh.

3. Cách lựa chọn giày thể thao: "Nếu luyện tập trên 3 lần/tuần thì giày thể thao là người bạn đồng hành tốt nhất".

- Thử cả hai bàn chân khi đo giày. Vì bàn chân có thể tăng/giảm kích cỡ hơn so với đôi giày cũ.
- Thử giày ở bàn chân lớn nhất. Hầu hết mọi người đều có một bàn chân lớn hơn chân kia.
- Thử giày cùng với loại tất và quần áo thể thao bạn sẽ mặc cùng.
- Ngoáy ngó ngón chân. Nếu các ngón chân có thể tự do ngoáy ngó trong giày thì giày đó phù hợp với bạn.
- Chú ý kích cỡ và kiểu dáng của các thương hiệu giày khác nhau.
- Thấy thoải mái khi đi (thử) giày.
- Nếu có thể hãy đi bộ hay chạy thử.
- Thấy gót chân của bạn thật vững chắc.
- Bạn nên đi mua giày vào buổi chiều để bảo đảm giày không bị chật.

Thời gian tốt nhất để thay giày mới? Thời gian để thay thế một đôi giày thể thao phụ thuộc vào tần suất sử dụng, tình trạng và tuổi của giày. Giày thể thao nói chung nên được thay thế khi:
- đi/chạy được 4.800-8.000km.
- 300 giờ tích cực hoạt động cùng với giày.
- 45-60 giờ bóng rổ, aerobic dance hay quần vợt.

Nên thường xuyên kiểm tra 4 phần chính của giày thể thao là phần ngoài cùng của đế giày; phần giữa giày; phần gót chân – điểm dễ bị tổn thương giúp giữ chân, ngăn cản chuyển động quá mức gót chân; phần giày gần xương ống chân (khu vực giày uốn vòng cung).

Chúc các bọ chọn được đôi giày như ý (còn tui, tui đã chọn Chân Nhái thay vì chọn giày).

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Nhặt nhạnh Tây Nguyên

Tôi đi TN nửa tháng, trời khô khốc, lúc nào cũng như uống không đủ nước. Đề tài báo giao cho làm thì hay: những di sản đang “bay” mất, tiếp theo cái phần chữ Thái nhà Mông hôm trước đã kể với anh em. Nhưng viết cho báo chính thống thì vừa đéo vừa run. Tiếc của giời, đổ ra đây anh em sài tạm…
- TN được giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, văn hóa đánh giá rất cao. Ở chỗ là cái bảo tàng sống. Một xã hội còn nhiều dấu vết thị tộc, gần như không có ảnh hưởng Trung Hoa như phía Bắc, Ấn Độ như phía Nam, còn Pháp để lại có nhưng ko đáng kể lắm. Nó được ví như một văn hóa tương đương Đông Sơn với người Việt. Còn chế độ mẫu hệ. Ê đê – chủ yếu ở Đắc Lắc - được người Pháp đánh giá là tộc thông minh, hùng mạnh nhất. Có thuyết bảo họ từ Nam Ấn xuống đường sông Mê Kông, vượt biển sang Mã Lai, In đô, rồi lại vượt biển về duyên hải ta, đụng người Chăm bật lên TN, đứng chân lại. Tất cả đều là do chiến tranh giành nơi cư trú giữa các thị tộc. Đàn ông Ê đê có miếng đỏ rực trước ngực, tượng trưng cánh buồm vượt biển năm xưa của tổ tiên. Ê đê tiếp tục chèn ép M’nông “bản địa hơn”, đẩy họ từ ĐẮc Lắc xuống Đắc Nông hiện nay, và sang Lâm Đồng thành K’ho.
Người TN quan niệm dòng sông, bến nước, khu rừng, nương rẫy đều có linh hồn, tức họ theo Đa thần giáo.
- TK 19, đây là vùng “Hoàng Triều Cương thổ” của nhà Nguyễn. Sự cai quản rất lỏng lẻo, phó cho hai thủ lĩnh địa phương là chính, gọi “Vua Lửa” và “Vua Nước”, có triều cống sừng tê, ngà voi… Tổ Tây Sơn ở giáp An Khê, là tù binh bị bắt từ Nghệ vào, anh em ông Nhạc, Huệ chuyên đi buôn trầu không, cồng chiêng, quen biết các tù trưởng, nhờ đó, và nhờ những cánh đồng rộng, có lương thực và đội tượng binh hùng mạnh.
Nguyễn Ánh dựa vào Tây lấy giang sơn. Nhưng ông con, Minh Mạng, bình Tây sát Tả, làm đám cha cố miền Trung dạt lên TN, đem theo mấy gia đình Bình Định, lập các làng người Việt đầu tiên. Sau An Khê, thì Kon Tum (làng gò đồi) là chỗ đỗ lại nhiều, nên tòa giám mục địa phận TN lập ở đây, tức cái nhà thờ gỗ nổi tiếng ngày nay.
- Theo tạp chí Ngok Linh của nhà văn Nguyên Ngọc, gần 10 năm trước, người bản địa (Ba na, Ê đê, Gia Rai, Xê đăng, K’ho…) có 1 triệu, còn 3 triệu là Việt, Tày, Nùng, Quảng, Nghệ, Thừa Thiên… Giờ thì đã đứng chân đủ 54 dân tộc.
Đất đai quá tốt, nó thành đất hứa cho nông dân những vùng vừa ít ruộng vừa cằn cỗi. Người ta đi theo quy hoạch, kiểu kinh tế mới, rồi đi tự do, từng làng từng họ kéo nhau vào. Trên răng dưới dái chả thằng đéo nào nghĩ chuyện về, vì làm ăn quá dễ. Dân mới căn cơ, chăm chỉ, táo tợn, nhiều anh đi kiểu trong nghị quyết tỉnh ghi là để “làm trong sạch địa bàn” – tức rách giời rơi xuống.
- Nảy sinh vấn đề sở hữu. Đất đồng bào thành đất công, nhà nước, quay đi quay lại thành đất nông trường, dự án, quay phát nữa thành của riêng ông nào đó. Muốn vào rừng lấy mật trên cái cây mình đã đánh dấu không được. Rẫy cũ không còn. Nhiều khi bán cho dân mới rồi đi làm thuê trên chính đất ấy.
Tất nhiên đồng bào học được cách làm ăn của người mới, cũng cà phê, cao su, có điện đường trường trạm. Nhưng có tiền cho con đi học Sài Gòn thì rất hiếm. Người nông dân Bắc Bộ, nếu cứ ở quê, hay đi công nhân ở Bình Dương, Biên Hòa, chả bao giờ dám mơ đi máy bay về thăm quê như đám TN.
- Về văn hóa là thàm họa rồi. Người Kinh cho nhiều thứ, nhưng muốn đồng bào nghĩ, sống giống mình, cho thế mới là ko lạc hậu. Làm nhà rông bê tông họ không đến, vừa nóng vừa không có linh hồn. Nhiều khu định cư mới họ bỏ, ra nhà ngoài rẫy ở. Mà có ở thì bên nhà bê tông xây sẵn nhất định làm nhà sàn. Nhà sàn sàn tre mái tranh dầy, đỡ nóng, rượu cần rớt ra, rác rưởi rơi xuống dưới cả, hút tẩu thuốc nhổ dễ. Nhổ rất mả, vèo phát đúng khe sàn. Và đống lửa trên nhà sàn ấm áp hơn.
Một điều làm mình bất ngờ: Tin lành là một yếu tố phá văn hóa ác liệt. Cấm cồng chiêng, uống rượu, hút thuốc, cúng lễ, họ làm những sử thi kể nguồn gốc tổ tiên, những cuộc nhảy múa… không còn đất sống. Một già làng ở Lâm Đồng, người K’ ho, giải thích theo TL “vì giảm được nhiều lễ, bớt tốn kém lắm”.
- Không tìm hiểu về các tôn giáo cùng ảnh hưởng, tôi thấy vùng theo Công Giáo còn nhiều di sản văn hóa hơn. Không cấm đoán cúng lễ. Mấy anh đàn ông chỉ vài thanh tre đã lắc lư “lên đồng” được. May mắn vào một làng Ba na nguyên bản, nhà sàn quây quanh nhà rông như đàn gà con quây về mẹ. Còn năm ông già ở lại, trong khi con cái ra khu định cư cả, thỉnh thoảng quay về trông họ, đám gà lợn, và… đưa ma. Đi lại trong cái làng hoang thấy như hồi chiến tranh, làng chạy càn, vài ngày sẽ về. Nghe quả xoài non rụng cái bộp, vắng ơi là vắng.
- Tác giả “Đất nước đứng lên” luôn xót xa cho TN: “Không có không gian văn hóa thì không còn văn hóa”. Một nhà báo khác: “Ngôi bảo tàng sống đang chết lâm sàng”.
Tôi không nghĩ tất cả nên quay về như cũ. Nhưng nắm tay đồng bào lôi xềnh xệch đến văn minh sẽ đánh mất nhiều thứ lắm. Hai không gian văn hóa cơ bản là rừng ở TN, và làng ở Bắc Bộ, nó đang tan ra từng mảnh, mà cái thay thế rất chi nhiều bất ổn.
Vài dòng ghi vội, “đăm chiêu” có khí nhiều?

Trường Chiến

Cảm là gì (Đông y)

(BS.LÊ QUYÊN)

Thuật ngữ "Cảm" theo Ðông y để chỉ những tình trạng bệnh lý gây ra bởi sự xâm nhập của các yếu tố thời tiết, khí hậu bất thường vào cơ thể. Yếu tố thường gặp nhất là lạnh, và những rối loạn cơ thể do nhiễm lạnh được gọi là cảm lạnh. Ðông y gọi cảm lạnh là "Thương hàn" – nó khác với bệnh Thương hàn (Typhoid) của Tây y.

Khi hàn khí lưu hành, nếu cơ thể suy yếu thì chính khí không thể đối kháng được hàn tà, do đó hàn khí sẽ xâm nhập vào kinh lạc và tạng phủ gây ra bệnh thương hàn. Chính khí, tức khí dương (hay còn gọi là khí thái dương), là năng lực tự vệ của cơ thể con người chống lại tất cả mọi sự tấn công của những biến chuyển khí hậu, thời tiết bên ngoài (gió, mưa, lạnh, nóng, khô...). Khí dương này ở trên bề mặt da vào ban ngày và lui vào trong tạng phủ vào ban đêm. Do đó, người ta dễ nhiễm lạnh nếu nằm ngủ suốt đêm trước quạt máy, nơi có gió lùa hoặc trong môi trường quá lạnh.

Khí dương (hay khí thái dương) trong cơ thể do 2 kinh mạch thống lĩnh là kinh Túc thái dương bàng quang và Thủ thái dương tiểu trường. Sự phân bố của 2 kinh này chi phối toàn bộ phần sau cơ thể, được xem như hàng rào ngoài cùng để bảo vệ cơ thể. Khi khí lạnh phá vỡ được hàng rào này và xâm nhập vào cơ thể, các triệu chứng đầu tiên thường là ớn lạnh dọc xương sống, đau nhức cổ gáy, nhức đầu vùng đỉnh và sau gáy, đau ngang thắt lưng, lạnh 2 bàn chân.

Vì sao bị cảm?
Dĩ nhiên thủ phạm chính là khí lạnh, nhưng như đã nói trên, khí lạnh chỉ xâm nhập cơ thể và gây bệnh được khi khí dương của cơ thể suy yếu hoặc khi khí dương "chìm" vào trong. Một số yếu tố thuận lợi làm giảm sức chống đỡ của cơ thể là:
- Lao lực hoặc lao tâm: Làm việc quá sức mà không để ý đến sức khỏe hoặc không có điều kiện bồi dưỡng cơ thể đúng mức sẽ làm khí dương bị phân tán, suy yếu.
- Ăn uống lạnh: Ăn uống quá nhiều đồ lạnh làm cơ thể bị khí lạnh tấn công từ bên trong, do đó khi gặp khí lạnh bên ngoài thì không đủ sức chống đỡ.
- Lo buồn thái quá: Lo nghĩ, buồn bực quá nhiều làm ăn uống kém nên cơ thể suy mòn, khí dương suy giảm.
- Ban đêm khí dương lui vào sâu trong cơ thể (đã nói ở phần trên). Thời gian dễ bị cảm lạnh nhất là từ 11 giờ khuya đến khoảng 3 giờ sáng.

Ðánh gió
Mục đích là đem khí nóng vào cơ thể ngay trên kinh thái dương để cho thấm qua da.
Vật liệu gồm 1 đồng xu tròn (hoặc 1 muỗng bằng kim loại) cạnh tròn, không bén và 1 chai dầu (cù là, dầu nóng...). Có thể dùng 1 củ gừng tươi thay thế cho dầu.

Bắt đầu bôi dầu và dùng tay chà xát dọc 2 bên cột sống, cổ, vai rồi dùng cạnh của đồng xu hoặc muỗng đánh vào vùng đó theo chiều hướng lên hay xuống cũng được. Gọi là "đánh" nhưng thật ra là cạo nhẹ nhiều lần cho mặt da nóng lên. Như đã nói, đây là vùng chi phối của 2 kinh Thái dương trong cơ thể.

"Ðánh" gió đến lúc nào thì ngưng? Thường đánh cho đến khi cơ thể mất cảm giác ớn lạnh, đau nhức cổ gáy. Ða số người dân hiện nay thích đánh gió cho đến khi lưng bầm tím vì cho như thế là "có gió", bầm tím bao nhiêu càng hiệu quả vì "gió" bị trục ra ngoài càng nhiều(!). Ðây là quan niệm sai lầm vì khi bị nhiễm lạnh, cơ thể chúng ta sẽ đáp lại bằng một loạt các chuỗi phản ứng làm những Mastocyte (dưỡng bào) bị vỡ, phóng thích ra một số chất hóa học, trong đó có chất Histamin. Chất này gây ra một số triệu chứng của sự dị ứng và làm tăng tính thấm của các mao mạch dưới da. Do đó, khi đánh gió ta đã vô tình làm vỡ các mao mạch này, gây chảy máu. Vết bầm "có gió" chính là sự xuất huyết dưới da.

Nếu dùng củ gừng tươi, ta nên chọn củ to, rửa sạch, cho vào cối giã nhuyễn (cả vỏ), vắt nước cốt lên vùng cần đánh gió rồi dùng bã chà xát cho đến khi người nóng lên. Dùng khăn khô lau sạch bã gừng. Vùng cơ thể được chà xát sẽ nóng ấm lên rất dễ chịu mà sau đó vùng da tại chỗ lại không bị lạnh như một vài loại dầu nóng khác.

Khi nào không nên đánh gió? Vì mục đích đem sức nóng vào cơ thể nên phương pháp này không thể dùng trong trường hợp cảm nắng, trúng nắng. Nếu làm có thể gây nguy hiểm.

Cháo giải cảm: Tô cháo trắng nấu loãng, thêm một ít rau thơm như tía tô, kinh giới, quế hoặc vài lát gừng tươi. Có khi chỉ cần xắt vài lát hành ta, thêm ít hạt tiêu là đã thành một tô cháo giải cảm.

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Chuyên san "Trại Hoè - Trại Cờ". TTh k6


Mấy ngày trước tôi (cùng một số  bạn  nữa) nhận được một mail từ  nvt k6  ( ngvtk6@gmail.com ) ,nguyên văn như sau :
"

vt k6

 tới kienquoc.trvankieptrantôihoquyky1950letu_thanhh.doanhdoanczhonghai52.nguy.honghai52.nguy.nghi23pdphameok6thanh.hachi
hiển thị chi tiết 03 / 4 (3 ngày trước)
Em không phải dân "Trại Hòe" nên rất muốn tìm hiểu giai đoạn này, những ngày đầu của Trường Trỗi. Nhân bài viết của a. hadongtran, đọc lại các bài viết trên các Blog Trỗi thấy nhiều cái hay nên gom về đây: http://issuu.com/nvtk6/docs/traihoe-traico-f , để ai quan tâm tiện xem, đỡ phải Guk: "Trại Hòe" :-) . Đây chỉ là "bản nháp", mong các bác "Trại Hòe" góp ý sửa chữa, viết thêm bài bổ sung cho bức tranh thêm phong phú.
TTh k6
"
 Chân thành cám ơn Bạn TTh k6 vì công phu biên tập thành một chuyên san ' Trại Hoè-Trại Cờ ' chan chứa tình cảm với bố cục rất hay này  Mời ACE coi (nháy vào trang để xem lờn hơn,nếu đường truyền tải chậm xin kiên nhẫn chờ) : 


Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

NGÀY ĐẦU TÔI ĐẾN TRƯỜNG. (Cảm hứng từ "hồi ký" của ông bạn Hà Đông.Trần).




Tinh mơ một ngày gần cuối hè năm 1965, từ nhà số 04 Nguyễn Cảnh Chân-Hà Nội, tôi và vài ông nữa được chú Thái (Ban TCQT) đưa đi nhập học Trường Thiếu sinh quân. Mấy hôm trước, bọn bạn thân cùng học phổ thông cấp II - Trường Nguyễn Tri Phương, khu Hoàn Kiếm - đều bảo là tôi sướng, vì lúc này bọn tôi đang chuẩn bị theo trường cũ sơ tán lên vùng Bình Đà -Hà Đông, vài đứa đã theo cô giáo Chủ nhiệm năm sau (lớp 8) đi tiền trạm nơi ở mới và về kể lại là làng nghèo, chẳng có hàng quán gì, buồn lắm... Có lẽ vì vậy và ở vào thời đó ba chữ "thiếu sinh quân" nghe rất oai nên chúng bảo tôi sướng, rồi tôi cũng thấy mình sướng vì chúng bảo vậy, chứ đã biết cái nơi mình sắp đến thế nào đâu.

Đi gần cả ngày, rồi chiều về tối cũng đến nơi, dưới một cây đa. Từ cây đa, ông nào ông nấy đi về nơi ở của khóa mình (lớp 7 và lớp 8) theo hướng dẫn. Tôi và vài ông cùng khóa (lạ có, quen có và cũng chưa biết hết tên nhau) lẽo đẽo đeo ba lô theo Thầy ra đón đi bộ sâu dần vào hướng núi. Với một cây đèn bão và một cây đèn pin, Thầy (chắc là cũng kiên nhẫn lắm) soi đường cho chúng tôi đi. Con đường ghập ghềnh, rừng rú tối om, qua một con suối... đến một căn nhà lá leo lắt ánh đèn hắt ra. Bước vào nhà, thấy mấy ông cũ nói "chào đại phó" (nghe thấy lạ tai!) và nhìn chúng tôi lom lom ; Thầy thì chỉ cho chúng tôi mỗi thằng một cái giường (tấm phản đặt trên bốn cái cọc cây) và dặn mấy ông cũ hướng dẫn cho chúng tôi, rồi xách đèn bão ra đi.

"Muốn rửa chân tay xuống suối dưới kia, nhà vệ sinh đằng này, có đèn pin lấy ra mà dùng" - một ông cũ vừa nói vừa chỉ tay ra màn đêm theo hai hướng . Rồi chúng bảo nhau đi điểm danh (lại cái lạ nữa!). Nhóm mới không phải đi, nhưng trong ngoài tối om, nghe tiếng suối chảy (sơ tán nhà dân có giếng sướng hơn-tôi nghĩ vậy), thằng nào thằng nấy ngồi trên giường mình. Lúc sau, có ông (tôi không nhớ là ông nào) giở ba lô lấy đèn pin và màn ra mắc, tôi và mấy thằng còn lại làm theo nhưng chỉ mắc được một phía vì có một cái dây căng ngang ở giữa nhà, còn phía kia là vách nứa chẳng biết mắc vào đâu (?!). Rồi kệ nhà vệ sinh, cả bọn ra đầu nhà đái (may không ông nào mắc ị) xong chui vô màn nằm, đầu quay vào giữa nhà. Tôi nằm mà thấy chán, nghĩ sơ tán theo trường cũ sướng hơn...rồi ngủ lúc nào không biết.

XN.K3

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Ngày này năm xưa

Ngày 23 + 24 /3 /1965 những học viên đầu tiên thuộc k3 , k4 , k5 trường thiếu sinh quân Nguyễn văn Trỗi có mặt tại Trại Hòe - Hiệp Hòa - Hà Bắc , bắt đầu trang sử của ngôi trường thân yêu và cũng là sự bắt đầu cho trang sử của mỗi cá nhân chúng ta .

Thấm thoắt vậy mà đã 46 năm , chúng ta người còn người mất , tuyệt đại bộ phận đã rời nhiệm sở , trở về với cuộc sống đời thường . Nhớ tới ngày này , là chúng ta nhớ về 1 phần quá khứ , nhớ lại 1 phần của thời thơ ấu gian khổ mà tươi đẹp đã qua , chẳng bao giờ trở lại ....

Bằng trí nhớ của mình , tôi thử điểm lại tên những con người đầu tiên ấy của K3 chúng ta :
*) Quân khu Phan đình Phùng : Trần Hùng , Trịnh Tường , Bùi Quang Vinh , Võ Duy Kiên , Hoàng Quang Linh , Hồ Bắc , ( Nguyễn Bá Khôi ? ) , Nguyễn Thanh Kỳ , ( Nguyễn Thắng , Nguyễn Tiến Dũng ?) .
*Quân khu Lí Nam Đế : Dương Thanh , Lê Việt Bắc , Hoàng Minh Chính , Lữ Thái , Nguyễn Trọng Chiến Thắng , Lê Hữu Hoàng , ( Hoàng Định ) , Phan Thế Châu , Phạm Sĩ Thành ,
*) Quân khu Trần Phú : Đỗ Trung Việt , Nguyễn Đồng Tiến , Nguyễn Khắc Linh ,
*) 1A Hoàng Văn Thụ : Tống Thái Liên , Nguyễn Tuấn Linh
*) Quân khu Nam đồng : Nguyễn Văn Toàn , Cao Long Tỉnh , Trần Hà Đông ,
*) Các nơi khác :Phạm Phi Hùng , Lê Cảnh Nghiã , Đồng Xuân Hiền , Chu Văn Kim , Nguyễn Quang Hưng , Hồ Phước Khải , Nguyễn Văn Trung , Hà quang Chí , Nguyễn Thanh Hải , Đoàn Đức Bình , Doãn Thịnh ,

Lên sau 1 chút , rải rác : Lê Viễn Chiến , Nguyễn Vũ Định , Tiến ( sần ) ,


Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

KHÓC HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Có một tác giả vô danh đã để lại cho Huế mấy vần thơ khóc thương cho nàng công chúa bạc phận, được truyền tụng đến nay theo điệu nam bình.
Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi,
Mượn mầu son phấn, đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì, đương độ xuân thì,
Số lao đao hay nợ duyên gì ?
Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn với chì,
Khúc ly ca mà sao mường tượng Nghê thường!
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết.
Bóng dương hoa quỳ
Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân, vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần...

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Chuyến đi đầu năm




Lâu nay có nhiều tiếng kêu di sản văn hóa dân thiểu số bay nhanh quá, lại có nhiều tiếng la phải giữ lấy những bản sắc ấy. Lần này, ban phóng sự báo tôi bảo nhau làm loạt bài về chuyện này, xin kể ra đây những chuyện “bếp núc” sẽ chả bao giờ được chường lên mặt báo.
      Cơn cớ: Nghĩa Lộ
      Có câu nói về bốn cánh đồng lớn nhất Tây Bắc: Nhất Thanh (Mường Thanh – Điện Biên) nhì Lò (Nghĩa Lộ - Yên Bái) tam Than (Than Uyên – Lai Châu) tứ Tấc (Phù Yên – Sơn La). Nghĩa Lộ được xem là chỗ đổ xuống đầu tiên ở Việt Nam của người Thái, khi bị người Hán đuổi khỏi Vân Nam TQ. Cuối năm ngoái tôi gặp ở đây ông Lò Văn Biến, người thông thạo văn hóa Thái Đen. Chuyện thì nhiều, có đoạn ông mở lớp dạy tiếng Thái. Nhiều người học, rất thích thú, nhưng an ninh văn hóa hỏi thăm, tỉnh ko muốn “nhân” rộng. Nó làm tôi chú ý, phải hỏi “tại sao?”. Dạy chữ để đọc các sách cổ tốt chứ, hay có ai nghĩ sự thống nhất, vẹn toàn về chính trị bị ảnh hưởng vì điều đó… Một dân tộc biết gốc tích mình có muốn tách khỏi “đại dân tộc” – tức quốc gia – không? Ở một đại hội nhà văn ông nhà thơ Tày Nông Quốc Chấn, còn là thứ trưởng văn hóa, phát biểu “Mất chữ là mất văn hóa”, thì ông ấy đau đến mức nào? Thực tế là chữ Nôm Tày chỉ còn mấy ông mo đọc, vài lần mỗi năm.
      Nghĩ thế, và nhân đi làm loạt bài trên, tôi dò dẫm theo chữ Thái.
      Sơn La: đi tìm chữ Thái
      Xã Mường Sang huyện Mộc Châu cách nay hơn 10 năm, hai ông về hưu, một là giám đốc sở văn hóa, một là giáo viên trường sư phạm Tây Bắc, mở lớp dạy chữ Thái cổ. Chưa kịp sủi tăm xã huyện đã xì tốp, giờ còn ấm ức: “Có coi thường dân tộc không? Ai cũng nói như nhau thì nhạt nhẽo lắm”. Tôi nghĩ thêm: “Phải. Bảo các ông con Lạc cháu Hồng không thuận thế nào”. Năm ngoái nơi này một hiệu trưởng cấp 3 mở tiếp. Nhiều người ủng hộ. Bí thư xóm: “Văn bản chỉ thị đều chữ Việt cả, học làm gì”. Chính quyền ko ủng hộ nhưng ko cấm, lớp dạy tằng tằng, chả phải góp gì, hao hụt dần nhưng vẫn có người theo. Thầy giáo trên lại mở tiếp lớp xã khác, đảng ủy ở đây lại ra nghị quyết bắt cán bộ xã (đâu tới 19 “ngành, đoàn thể”) phải học, rất có đà.
     Lên Sơn La – mới lên thành phố - thì phong trào lại rất cao. TT Giáo dục thường xuyên vài trăm trò. Tỉnh ủng hộ, bộ GD ĐT chỉ thị học. Té ra là có cả một nghị định chính phủ rằng cán bộ công chức, biên phòng công an bộ đội… biết thêm tiếng dân tộc sẽ xét vào việc lương thưởng, đề bạt. Người ta bỏ tiền đi, dọn việc nhà đi.
      Nhu cầu học chữ của cộng đồng Thái có từ lâu, và âm ỷ trong thôn bản như lớp tôi gặp ở Nghĩa Lộ. Người ta muốn có một bộ chữ chung, nhưng cả nước có tới 7 tỉnh có Thái, mỗi anh khác nhau mỗi tý. Sau bao nhiêu họp hành mới ra được bộ chữ Thái thống nhất, hao hao ta lấy nắm giá đỗ vứt ra đất. Đánh vần được, đặc biệt là thêm bớt vài nét thì đọc được sách cổ, kiểu như ta đọc được Truyện Kiều vậy.
      Hình thành rồi thì rộ lên, nhưng nhất là Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên. Những nơi khác chính quyền chả ủng hộ thành nghị quyết, còn có cản không thì không biết…
      Nhà Mông ở Hà Giang
      Tộc này cũng chạy người Hán từ phương BẮc xuống. Chiến tranh biên giới, họ rất ngán ngẩm vì ko được tin tưởng. Trong tục của họ còn nhiều nét thù Hán đến xương tủy, như đám ma đi vòng quanh nhà xua ma Hán đi. Thường treo trước cửa tấm vải đỏ, là “mảnh” của lá cờ quốc gia Tam Miêu xé ra trước khi bị Hán đuổi giết. Họ không có chữ, bài cúng, sử sách gì đều truyền khẩu. Lại có lối dạy nghề thầy mo rất lạ: ông thầy ra đồng bắt con cào cào hát nó nghe, ông trò ngồi gần đó học lỏm. Học trực tiếp hồn thầy bị ma tha mất mà. Vì thế tam sao thất bản, mỗi nơi hát, cúng một khác, thầy cúng đố hai ông một bài như người Việt ta quán triệt bài thơ Thần với lại Chiếu dời đô.
      Tóm lại không có văn tự thì rất mong manh. Bởi vậy mà trong di sản văn hóa Mông, ngôi nhà có giá trị lớn. Ở Đồng Văn, thường nhà bao quanh là hàng rào đá, có khi cao 2 mét mà gió không xô nổi. Trong vườn thế nào cũng có lê, mận, đào, rồi chuồng trâu bò, dê. Nhà tường chình, lợp ngói âm dương, ba gian có chức năng cụ thể. Bếp lửa rất quan trọng, để hong khô xâu thịt trâu, ngô, đậu trên gác, đàn ông hút thuốc uống rượu bên cạnh.
      Từ bên ngoài nhìn vào, nhà Mông rất đẹp. Rào đá, lê mận, sa mộc, tường chình mái ngói âm dương thấp thoáng, nhưng người xuôi lên hay bảo bẩn, chỗ nào cũng ám khói, tối, và mang “quan điểm” ở của mình áp vào. Chi chít các dự án, chương trình xóa đói giảm nghèo, hạ sơn, xóa nhà tạm, tái định cư thủy điện…, kết quả là ra đời những nhà gạch mái bằng 20 triệu cạnh đường, nhà gạch lợp ngói “phi bờ rô xi măng” mùa hè là cái lò, mùa đông núi đá lạnh thấu xuơng. Không có vườn và rào đá, tất nhiên chẳng lê đào mận. Nhìn những “xóm” mới ấy khô, trơ, phần lãng mạn ít đã đành. Nhưng công năng ở chả hợp, như không có bếp lửa, chỗ để cất ngô, sấy thịt, thành thử nhiều chỗ người ta bỏ không đến, mà cứ cheo leo lưng núi mà cắm. Dĩ nhiên khi tính thành tích, số căn nhà căn hộ ấy sẽ nhấn rất đậm trong tổng kết của các cơ quan, doanh nghiệp.
Nhà thì vậy. Còn làm đường? Nhà đầu tư, thường là bên giao thông, “chỉ thích làm đường nhựa hay những gói thầu lớn”. Đường ô tô đến trung tâm các xã rồi dừng, một cán bộ Mông bảo giá làm đường cấp phối hay bằng đá xây xi măng, giá chỉ bằng 1/3, thì trèo đến các bản được. 4 huyện núi đá Hà Giang ít nước, được chính phủ cho 30 cái “hồ treo” vài trăm khối, nhưng có cái ngay bên đường khô khốc, khi làm không tính đến nguồn nước. Còn nhiều chuyện nữa. Nghĩ mà sót ruột cho đồng tiền mang từ xuôi lên, và cho những người vùng cao luôn mang tiếng “được cho”.
      Kể sơ sơ một chút. Sắp tới tôi lại đi Tây Nguyên, nơi mỗi buôn có một “nhà rông nhà nước” hoành tráng, xây theo chương trình gì đó. Đã nghe nói nhiều chỗ dân không đến, cứ tụ tập ở “nhà rông đồng bào” xập xệ hơn nhưng có hồn vía của tổ tiên họ.

Chiến Trần

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011

Tấm áo Mẹ vá năm xưa


Sáng tác : Nguyễn Văn Tý, hát : NSND Trung Đức



Các con của mẹ

Một tấm hình thời chống chiến tranh phá hoại. (Nom 2 anh chiến sỹ thấy giông giống a.Bình ngọng và Tuấn Linh).

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Lão mù lái máy bay

Miles Hilton-Barber, 58 tuổi, người Anh, đã hoàn thành chuyến bay 35 ngày qua 19 quốc gia, dài gần 21.000km, từ London đến Sydney, vào tháng 8-2004.

Máy bay siêu nhẹ hai chỗ ngồi, một phi công sáng mắt đồng hành đề phòng trường hợp bất trắc, và hệ thống thiết bị đặc biệt, phần mềm chỉ dẫn bằng giọng nói. Còn lại là ý chí, kiến thức, khả năng cảm nhận của Miles. Trong bản đồ hành trình phải vượt qua có các địa danh như Pháp, Ý, Ấn Độ, Singapore… nhưng chuyến bay ấy còn được hình thành từ những điều không ghi trên giấy – các trở ngại đầy thử thách :

Cái lạnh độ cao và lốc tuyết. Gió sa mạc gây nhiễu sóng, cản trở thông tin hướng dẫn từ xa. Chỉ có bóng tối chuyển động liên tục phía trước, viên phi công mù im lặng nghe các chỉ thị, tay chân điều khiển các cần gạt, nút bấm, gõ bàn phím để chỉnh tốc độ, cao độ, sức gió, hướng bay... Phi công đi cùng, Richard Meredith-Hardy, như tượng gỗ vì Miles thao tác chính xác như một phi công sáng mắt thực sự. Bay với máy bay 100 mã lực mà nhiên liệu chỉ chứa được 10 giờ bay đối với Miles là một thử thách lớn. Tuy nhiên, cảm xúc khám phá thử thách thật khó tả và lạ lùng. Ông nói “ở độ cao 1,5km khi bay qua một thành phố, một nhà máy, cánh đồng tôi đều ngửi được từng mùi khác nhau”. Khứu giác của Miles cảm nhận được hơi sương và khí ẩm khi lướt cạnh các rìa mây.

Không phải những kỷ lục nguy hiểm đã hớp hồn Miles. Ông thực hiện chúng với mục đích rõ ràng cho mình và cho cộng đồng : “Cần sống với những giấc mơ. Hãy mơ những mộng ước lớn. Các giới hạn duy nhất trong đời bạn là những gì bạn chấp nhận. Người mù chúng ta vẫn có thể “nhìn rất rõ”, nếu muốn. Ta có thể lên trời, xuống biển, bay như chim lặn như cá. Một đời người không là tổng số những nhịp ta thở mà gồm những khoảnh khắc phải nín thở”. Những câu nói trong các buổi nói chuyện của Miles đã biến thành khẩu hiệu của Hiệp hội Người Mù trên toàn thế giới:

“Cứ kỳ vọng những điều bất ngờ, không bao giờ bỏ cuộc, tận dụng sức mạnh tập thể, đừng để quá khứ quyết định tương lai, sẵn sàng đối đầu với những nỗi sợ, tận dụng tất cả mọi trở ngại xuất hiện trong đời và biết cám ơn sai lầm”.