Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Ngày này năm xưa

Ngày 23 + 24 /3 /1965 những học viên đầu tiên thuộc k3 , k4 , k5 trường thiếu sinh quân Nguyễn văn Trỗi có mặt tại Trại Hòe - Hiệp Hòa - Hà Bắc , bắt đầu trang sử của ngôi trường thân yêu và cũng là sự bắt đầu cho trang sử của mỗi cá nhân chúng ta .

Thấm thoắt vậy mà đã 46 năm , chúng ta người còn người mất , tuyệt đại bộ phận đã rời nhiệm sở , trở về với cuộc sống đời thường . Nhớ tới ngày này , là chúng ta nhớ về 1 phần quá khứ , nhớ lại 1 phần của thời thơ ấu gian khổ mà tươi đẹp đã qua , chẳng bao giờ trở lại ....

Bằng trí nhớ của mình , tôi thử điểm lại tên những con người đầu tiên ấy của K3 chúng ta :
*) Quân khu Phan đình Phùng : Trần Hùng , Trịnh Tường , Bùi Quang Vinh , Võ Duy Kiên , Hoàng Quang Linh , Hồ Bắc , ( Nguyễn Bá Khôi ? ) , Nguyễn Thanh Kỳ , ( Nguyễn Thắng , Nguyễn Tiến Dũng ?) .
*Quân khu Lí Nam Đế : Dương Thanh , Lê Việt Bắc , Hoàng Minh Chính , Lữ Thái , Nguyễn Trọng Chiến Thắng , Lê Hữu Hoàng , ( Hoàng Định ) , Phan Thế Châu , Phạm Sĩ Thành ,
*) Quân khu Trần Phú : Đỗ Trung Việt , Nguyễn Đồng Tiến , Nguyễn Khắc Linh ,
*) 1A Hoàng Văn Thụ : Tống Thái Liên , Nguyễn Tuấn Linh
*) Quân khu Nam đồng : Nguyễn Văn Toàn , Cao Long Tỉnh , Trần Hà Đông ,
*) Các nơi khác :Phạm Phi Hùng , Lê Cảnh Nghiã , Đồng Xuân Hiền , Chu Văn Kim , Nguyễn Quang Hưng , Hồ Phước Khải , Nguyễn Văn Trung , Hà quang Chí , Nguyễn Thanh Hải , Đoàn Đức Bình , Doãn Thịnh ,

Lên sau 1 chút , rải rác : Lê Viễn Chiến , Nguyễn Vũ Định , Tiến ( sần ) ,


Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

KHÓC HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Có một tác giả vô danh đã để lại cho Huế mấy vần thơ khóc thương cho nàng công chúa bạc phận, được truyền tụng đến nay theo điệu nam bình.
Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi,
Mượn mầu son phấn, đền nợ Ô Ly,
Đắng cay vì, đương độ xuân thì,
Số lao đao hay nợ duyên gì ?
Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn với chì,
Khúc ly ca mà sao mường tượng Nghê thường!
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết.
Bóng dương hoa quỳ
Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân, vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần...

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2011

Chuyến đi đầu năm




Lâu nay có nhiều tiếng kêu di sản văn hóa dân thiểu số bay nhanh quá, lại có nhiều tiếng la phải giữ lấy những bản sắc ấy. Lần này, ban phóng sự báo tôi bảo nhau làm loạt bài về chuyện này, xin kể ra đây những chuyện “bếp núc” sẽ chả bao giờ được chường lên mặt báo.
      Cơn cớ: Nghĩa Lộ
      Có câu nói về bốn cánh đồng lớn nhất Tây Bắc: Nhất Thanh (Mường Thanh – Điện Biên) nhì Lò (Nghĩa Lộ - Yên Bái) tam Than (Than Uyên – Lai Châu) tứ Tấc (Phù Yên – Sơn La). Nghĩa Lộ được xem là chỗ đổ xuống đầu tiên ở Việt Nam của người Thái, khi bị người Hán đuổi khỏi Vân Nam TQ. Cuối năm ngoái tôi gặp ở đây ông Lò Văn Biến, người thông thạo văn hóa Thái Đen. Chuyện thì nhiều, có đoạn ông mở lớp dạy tiếng Thái. Nhiều người học, rất thích thú, nhưng an ninh văn hóa hỏi thăm, tỉnh ko muốn “nhân” rộng. Nó làm tôi chú ý, phải hỏi “tại sao?”. Dạy chữ để đọc các sách cổ tốt chứ, hay có ai nghĩ sự thống nhất, vẹn toàn về chính trị bị ảnh hưởng vì điều đó… Một dân tộc biết gốc tích mình có muốn tách khỏi “đại dân tộc” – tức quốc gia – không? Ở một đại hội nhà văn ông nhà thơ Tày Nông Quốc Chấn, còn là thứ trưởng văn hóa, phát biểu “Mất chữ là mất văn hóa”, thì ông ấy đau đến mức nào? Thực tế là chữ Nôm Tày chỉ còn mấy ông mo đọc, vài lần mỗi năm.
      Nghĩ thế, và nhân đi làm loạt bài trên, tôi dò dẫm theo chữ Thái.
      Sơn La: đi tìm chữ Thái
      Xã Mường Sang huyện Mộc Châu cách nay hơn 10 năm, hai ông về hưu, một là giám đốc sở văn hóa, một là giáo viên trường sư phạm Tây Bắc, mở lớp dạy chữ Thái cổ. Chưa kịp sủi tăm xã huyện đã xì tốp, giờ còn ấm ức: “Có coi thường dân tộc không? Ai cũng nói như nhau thì nhạt nhẽo lắm”. Tôi nghĩ thêm: “Phải. Bảo các ông con Lạc cháu Hồng không thuận thế nào”. Năm ngoái nơi này một hiệu trưởng cấp 3 mở tiếp. Nhiều người ủng hộ. Bí thư xóm: “Văn bản chỉ thị đều chữ Việt cả, học làm gì”. Chính quyền ko ủng hộ nhưng ko cấm, lớp dạy tằng tằng, chả phải góp gì, hao hụt dần nhưng vẫn có người theo. Thầy giáo trên lại mở tiếp lớp xã khác, đảng ủy ở đây lại ra nghị quyết bắt cán bộ xã (đâu tới 19 “ngành, đoàn thể”) phải học, rất có đà.
     Lên Sơn La – mới lên thành phố - thì phong trào lại rất cao. TT Giáo dục thường xuyên vài trăm trò. Tỉnh ủng hộ, bộ GD ĐT chỉ thị học. Té ra là có cả một nghị định chính phủ rằng cán bộ công chức, biên phòng công an bộ đội… biết thêm tiếng dân tộc sẽ xét vào việc lương thưởng, đề bạt. Người ta bỏ tiền đi, dọn việc nhà đi.
      Nhu cầu học chữ của cộng đồng Thái có từ lâu, và âm ỷ trong thôn bản như lớp tôi gặp ở Nghĩa Lộ. Người ta muốn có một bộ chữ chung, nhưng cả nước có tới 7 tỉnh có Thái, mỗi anh khác nhau mỗi tý. Sau bao nhiêu họp hành mới ra được bộ chữ Thái thống nhất, hao hao ta lấy nắm giá đỗ vứt ra đất. Đánh vần được, đặc biệt là thêm bớt vài nét thì đọc được sách cổ, kiểu như ta đọc được Truyện Kiều vậy.
      Hình thành rồi thì rộ lên, nhưng nhất là Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên. Những nơi khác chính quyền chả ủng hộ thành nghị quyết, còn có cản không thì không biết…
      Nhà Mông ở Hà Giang
      Tộc này cũng chạy người Hán từ phương BẮc xuống. Chiến tranh biên giới, họ rất ngán ngẩm vì ko được tin tưởng. Trong tục của họ còn nhiều nét thù Hán đến xương tủy, như đám ma đi vòng quanh nhà xua ma Hán đi. Thường treo trước cửa tấm vải đỏ, là “mảnh” của lá cờ quốc gia Tam Miêu xé ra trước khi bị Hán đuổi giết. Họ không có chữ, bài cúng, sử sách gì đều truyền khẩu. Lại có lối dạy nghề thầy mo rất lạ: ông thầy ra đồng bắt con cào cào hát nó nghe, ông trò ngồi gần đó học lỏm. Học trực tiếp hồn thầy bị ma tha mất mà. Vì thế tam sao thất bản, mỗi nơi hát, cúng một khác, thầy cúng đố hai ông một bài như người Việt ta quán triệt bài thơ Thần với lại Chiếu dời đô.
      Tóm lại không có văn tự thì rất mong manh. Bởi vậy mà trong di sản văn hóa Mông, ngôi nhà có giá trị lớn. Ở Đồng Văn, thường nhà bao quanh là hàng rào đá, có khi cao 2 mét mà gió không xô nổi. Trong vườn thế nào cũng có lê, mận, đào, rồi chuồng trâu bò, dê. Nhà tường chình, lợp ngói âm dương, ba gian có chức năng cụ thể. Bếp lửa rất quan trọng, để hong khô xâu thịt trâu, ngô, đậu trên gác, đàn ông hút thuốc uống rượu bên cạnh.
      Từ bên ngoài nhìn vào, nhà Mông rất đẹp. Rào đá, lê mận, sa mộc, tường chình mái ngói âm dương thấp thoáng, nhưng người xuôi lên hay bảo bẩn, chỗ nào cũng ám khói, tối, và mang “quan điểm” ở của mình áp vào. Chi chít các dự án, chương trình xóa đói giảm nghèo, hạ sơn, xóa nhà tạm, tái định cư thủy điện…, kết quả là ra đời những nhà gạch mái bằng 20 triệu cạnh đường, nhà gạch lợp ngói “phi bờ rô xi măng” mùa hè là cái lò, mùa đông núi đá lạnh thấu xuơng. Không có vườn và rào đá, tất nhiên chẳng lê đào mận. Nhìn những “xóm” mới ấy khô, trơ, phần lãng mạn ít đã đành. Nhưng công năng ở chả hợp, như không có bếp lửa, chỗ để cất ngô, sấy thịt, thành thử nhiều chỗ người ta bỏ không đến, mà cứ cheo leo lưng núi mà cắm. Dĩ nhiên khi tính thành tích, số căn nhà căn hộ ấy sẽ nhấn rất đậm trong tổng kết của các cơ quan, doanh nghiệp.
Nhà thì vậy. Còn làm đường? Nhà đầu tư, thường là bên giao thông, “chỉ thích làm đường nhựa hay những gói thầu lớn”. Đường ô tô đến trung tâm các xã rồi dừng, một cán bộ Mông bảo giá làm đường cấp phối hay bằng đá xây xi măng, giá chỉ bằng 1/3, thì trèo đến các bản được. 4 huyện núi đá Hà Giang ít nước, được chính phủ cho 30 cái “hồ treo” vài trăm khối, nhưng có cái ngay bên đường khô khốc, khi làm không tính đến nguồn nước. Còn nhiều chuyện nữa. Nghĩ mà sót ruột cho đồng tiền mang từ xuôi lên, và cho những người vùng cao luôn mang tiếng “được cho”.
      Kể sơ sơ một chút. Sắp tới tôi lại đi Tây Nguyên, nơi mỗi buôn có một “nhà rông nhà nước” hoành tráng, xây theo chương trình gì đó. Đã nghe nói nhiều chỗ dân không đến, cứ tụ tập ở “nhà rông đồng bào” xập xệ hơn nhưng có hồn vía của tổ tiên họ.

Chiến Trần

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011

Tấm áo Mẹ vá năm xưa


Sáng tác : Nguyễn Văn Tý, hát : NSND Trung Đức



Các con của mẹ

Một tấm hình thời chống chiến tranh phá hoại. (Nom 2 anh chiến sỹ thấy giông giống a.Bình ngọng và Tuấn Linh).

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Lão mù lái máy bay

Miles Hilton-Barber, 58 tuổi, người Anh, đã hoàn thành chuyến bay 35 ngày qua 19 quốc gia, dài gần 21.000km, từ London đến Sydney, vào tháng 8-2004.

Máy bay siêu nhẹ hai chỗ ngồi, một phi công sáng mắt đồng hành đề phòng trường hợp bất trắc, và hệ thống thiết bị đặc biệt, phần mềm chỉ dẫn bằng giọng nói. Còn lại là ý chí, kiến thức, khả năng cảm nhận của Miles. Trong bản đồ hành trình phải vượt qua có các địa danh như Pháp, Ý, Ấn Độ, Singapore… nhưng chuyến bay ấy còn được hình thành từ những điều không ghi trên giấy – các trở ngại đầy thử thách :

Cái lạnh độ cao và lốc tuyết. Gió sa mạc gây nhiễu sóng, cản trở thông tin hướng dẫn từ xa. Chỉ có bóng tối chuyển động liên tục phía trước, viên phi công mù im lặng nghe các chỉ thị, tay chân điều khiển các cần gạt, nút bấm, gõ bàn phím để chỉnh tốc độ, cao độ, sức gió, hướng bay... Phi công đi cùng, Richard Meredith-Hardy, như tượng gỗ vì Miles thao tác chính xác như một phi công sáng mắt thực sự. Bay với máy bay 100 mã lực mà nhiên liệu chỉ chứa được 10 giờ bay đối với Miles là một thử thách lớn. Tuy nhiên, cảm xúc khám phá thử thách thật khó tả và lạ lùng. Ông nói “ở độ cao 1,5km khi bay qua một thành phố, một nhà máy, cánh đồng tôi đều ngửi được từng mùi khác nhau”. Khứu giác của Miles cảm nhận được hơi sương và khí ẩm khi lướt cạnh các rìa mây.

Không phải những kỷ lục nguy hiểm đã hớp hồn Miles. Ông thực hiện chúng với mục đích rõ ràng cho mình và cho cộng đồng : “Cần sống với những giấc mơ. Hãy mơ những mộng ước lớn. Các giới hạn duy nhất trong đời bạn là những gì bạn chấp nhận. Người mù chúng ta vẫn có thể “nhìn rất rõ”, nếu muốn. Ta có thể lên trời, xuống biển, bay như chim lặn như cá. Một đời người không là tổng số những nhịp ta thở mà gồm những khoảnh khắc phải nín thở”. Những câu nói trong các buổi nói chuyện của Miles đã biến thành khẩu hiệu của Hiệp hội Người Mù trên toàn thế giới:

“Cứ kỳ vọng những điều bất ngờ, không bao giờ bỏ cuộc, tận dụng sức mạnh tập thể, đừng để quá khứ quyết định tương lai, sẵn sàng đối đầu với những nỗi sợ, tận dụng tất cả mọi trở ngại xuất hiện trong đời và biết cám ơn sai lầm”.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Khúc hát Sông Quê

Sáng tác : Nguyễn Trọng Tạo, hát : Tố Uyên

Về " Khúc hát sông quê "

Cách nay chừng 10 năm , sự ra đời của ca khúc này đã gây nên 1 chấn động lớn trong đời sống âm nhạc . Chúng ta , nhất là những người con xứ Nghệ , có lẽ đều dành nhiều cảm xúc đặc biệt cho " nó ".
Về hoàn cảnh ra đời của bài hát , người ta đã nói tới rất nhiều . Và người ta còn nói nhiều hơn nữa về mối tương tác giữa nhạc sĩ và thi sĩ...mỗi khi xuất hiện 1 tuyệt phẩm như " Khúc hát sông quê " này .

Xin sưu tầm và giới thiệu bài thơ cùng tên của Lê Huy Mậu - tác giả phần lời của bài hát :

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thưở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...

Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông thánh chạp
ôi! Phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...

Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thưở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi
lại nghe nói
thưở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng , ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước ...

chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta ở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...

Này dòng sông !
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả ?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam ?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...

Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng ba...tháng năm...tháng chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng...

Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người
trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnhnhai cả mùa đông lạnh...

Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...

trong kí ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

"...mở to bài " The Final Countdown " cho Trung Việt nghe!". Tạ Vinh


The Final Countdown - Europe


We're leaving together,
But still it's farewell
And maybe we'll come back,
To earth, who can tell?
I guess there is no one to blame
We're leaving ground
Will things ever be the same again?


                                      It's the final countdown...


                             We're heading for Venus and still we stand tall
                             Cause maybe they've seen us and welcome us all
                             With so many light years to go and we're leaving ground
                             I'm sure that we'll all miss her so


TẠM DỊCH (sưu tầm)

Giây phút cuối cùng

Tuy ta cùng ra đi
Nhưng vẫn phải cho nhau lời tạm biệt
Có thể ngày mai ta sẽ lại trở về
Với trái đất thân yêu này
Thiết nghĩ, đâu có trách ai được
Ta phải bỏ mặt đất này thôi
Chắc gì mọi thứ sẽ trở thành như cũ?

Đây là phút giây cuối cùng
Phút giây cuối cùng rồi

Chúng ta sẽ đi tới Sao Kim,
nơi mà ta sẽ lại đứng với niềm kiêu hãnh
Có lẽ những sinh vật trên ấy biết đến chúng ta
Và sẽ chào đón chúng ta với tấm lòng thiện cảm
Còn mấy vạn nghìn năm để đi
Và khối điều mới mẻ chờ được khám phá
Cho dù thế nào
Ta chắc chắn một điều: ai cũng sẽ nhớ về Trái Đất

Kìa, giây phút cuối cùng rồi
Ôi, giây phút cuối
                         TK8
01:43 Ngày 19 tháng 2 năm 2011



Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2011

Di tích minh chứng...?


Mấy ngày Tết ta được nghỉ dài, tui dẫn gia đình đi chơi. Tại Vũng Tàu, trên núi Lớn nay có một khu du lịch sinh thái (theo cách họ gọi ở đây). Theo chỗ tui biết thì trước kia đây là khu quân sự, dân thường không vô được. Nay đã được cải tạo thành khu du lịch Hồ Mây (Cloud Lake) với nhiều công trình còn đang xây sửa ngổn ngang. Hy vọng sẽ có dịp đăng các hình ảnh về chuyến đi hầu các bác. Có một công trình của QĐ Mỹ còn được giữ lại và còn được liệt vào "Di tích" (không biết đã xếp hạng chưa) xin đưa lên để các bác, nhất là các chuyên gia TT-LL cho nhận xét, phân tích. Tui dù không phải chiên ra trong lãnh vực này nhưng cũng cảm thấy những lời chú thích dưới đây thật kỳ cục.

Các bác nghĩ sao? Cái gì đây?

Nó là đây, anh Chí lớn chắc quá rành thứ này.

Và nếu nhìn chính diện.


Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

XEM HỘI ĐẦU XUÂN

Vẫn còn trong mùng, nhưng không có điều kiện, đành xem bà con đi lễ hội đầu xuân qua các phóng sự trên tivi. Vui thật, vì nghe giới thiệu có quá nhiều lễ hội, vì có dư ăn dư mặc thì mới có được nhiều hội chứ ! Cứ như những tết xưa, nhất là thời bao cấp, đâu có nhiều hội thế để biết thêm về lễ của các vùng.
Tâm linh là phải trọng và nhớ về nguồn cội là việc phải của đạo làm người. Có ai mà không hiểu vậy!
Thế nhưng, mới xem qua (chỉ là trên tivi đấy) mà vẫn cứ thấy thế nào...
Chắc là dần dần rồi sẽ hoàn thiện hơn...tin là thế.

XN.K3

Ảnh: Các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hà Nam xuống đồng thực hiện những đường cày. (Laodong.com.vn) - Lễ hội Tịch điền.

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

TẾT ĐẦU TIÊN Ở QUẾ LÂM


Khi ấy vừa sang Quế Lâm thì cũng là lúc tết ta năm 1967 đến gần , toàn trường đang ở Y Trung bên dòng sông Ly. Khóa 3 là đại đội 9 (C9), ở trong một khu nhà phía cuối sân bóng đá. Có lẽ đấy là tết đầu tiên xa gia đình của tất cả lính Trỗi từ C5 đến C11. Tôi nhớ như lúc đó lại đúng vào thời kỳ bệnh viêm màng não đang đe dọa, hàng ngày phải uống một cái loại thuốc nước màu nâu nâu, đeo khẩu trang khi ra khỏi phòng, các C cách ly nhau...và tết thì cũng chẳng được đi đâu...Có lẽ vì vậy mà kỷ niệm về cái tết đầu tiên ấy ít in lại trong tôi. Chỉ nhớ rõ là rất lạnh (nhưng không có tuyết rơi, mãi mùa tết năm sau khi đã sang trường mới, thì mới thấy cảnh tuyết rơi), được phát rất nhiều các loại kẹo cứng và là lần đầu tiên biết đến hạt hướng dương...
Dẫu sao thì đấy cũng là cái tết đầu tiên trong đời không chỉ xa gia đình mà cả xa Tổ quốc.

XN.K3