Hiển thị các bài đăng có nhãn 1000 năm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1000 năm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 6


Xa lông, điếu cầy


Ngày Tết, người ta được hưởng cái thú đi bộ. Thành phố vắng vẻ, tinh tươm, chả pháo nổ hay kẹt xe tắc đường. “Ô sin”, thợ thuyền về quê. Nhà trọ sinh viên vắng tanh. Thế rồi bật ra câu hỏi: “Thật sự thì chen chúc trong Thủ đô mình ngày thường có tới chục triệu người không?”.
Lần đi xe ôm, biết ông lái người Xuân Trường Nam Định tôi nói bừa “Dân Xuân Phú à?”, ai ngờ ông ấy hỏi lại “Anh xóm nào?”. Người xã ông lên đây chạy xe có đến một tiểu đoàn. Gần nhà tôi có chị hàng xôi trông hay hay, hỏi chuyện ra chồng bán nước ghi đề bơm xe đầu phố, con học trường phường, còn cái ông tối tối ép nước mía cách mấy dãy nhà là bố đẻ, đều từ Thái Nguyên xuống. “Em còn bà nội trên ấy. Làng đi vãn, cụ chỉ sợ chết không ai biết, có biết thì đám ma không ai đi”.
Ngoài Chương Dương Hàm Tử có những “xóm” Hưng Yên, “xóm” Thái Bình, ngày gánh mướn đội thuê, quét dọn, rửa bát thuê ngoài phố, đêm về kềnh trong vòng tay người làng, giá hai ba nghìn mỗi đêm ngủ, tất nhiên cả tắm giặt. Đa phần phụ nữ, dai sức không thể tả và rất tiết kiệm, về quê đạp xe từ nửa đêm. Trước họ về cả vụ cấy, nhưng giờ đã “khoán” cả ruộng cho họ hàng, “tập trung vào chuyên môn” trên này. Thiếu họ, những lao động đơn giản, và thiếu đội quân “ô sin”, thành phố hẳn sẽ cuống lên.
Hà Nội, như thế, đã thở cùng một “nhịp” với vùng nông thôn vĩ đại xung quanh mình. Và hẳn là xem xét Hà Nội mà không tính đến những vấn đề của Bắc Bộ (tạm thu hẹp thế thôi), có lẽ giống đặt nồi lên bếp mà chưa biết củi lửa mắm muối đủ chưa. Vậy thì cái nông thôn ấy đang như thế nào, quan hệ với Hà Nội ra sao?
Điều tích cực thì chúng ta đã nói đến nhiều: cung cấp thóc gạo, thực phẩm, đất đai, nhân lực, nguyên vật liệu... Người tài người đẹp từ Quảng Bình Thanh Hoá ra, Lạng Sơn xuống, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xó xỉnh chợ búa đâu đâu cũng gặp... Đến đây với khát vọng đổi đời, chả mấy kẻ uể oải, đa phần đều năng nổ, bổ sung phần cần cù mạnh bạo vào cái nhịp yếm thế của người phố. “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, bổ sung sinh lực, tóm lại là có rất nhiều điều hay để nói về họ. Một nhận xét khác: “mỏ” nhân tài cho Thăng Long xưa nay lớn nhất là Nghệ Tĩnh và xứ Quảng, có lẽ còn mầu mỡ hơn cả Kinh Bắc, Đông, Đoài, bởi người Nghệ người Quảng cạnh tài năng còn là ý chí vô song.
Nhưng lại cũng có cái dở, mà chả hề ít. Sự phát triển làm khoảng cách địa lý giữa thành thị với nông thôn gần lại, nhưng cái hố sâu về mức sống, văn hoá, tập quán... lại toang hoác ra. Những chú phụ nề hơn chục tuổi từ Bắc Giang xuống hay nghêu ngao câu hát về một tình yêu dang dở. Chưa hề thất tình, hẳn thế. Nhưng có lẽ trong vô thức, hàng ngày thấy cả lũ “em Chã” bằng tuổi, chú chả thể bằng lòng về phận mình. Và chú cũng có những ước mơ chứ, có điều chả hướng về ngôi nhà trên đồi có mẹ già cằn cỗi. Nông thôn đang không giữ đợc người. Cái êm ả sau luỹ tre chỉ có nghĩa là ăn đã đủ, mặc không bị rét nữa thôi. Nhưng thế chưa đủ. Đất đai ít, bởi người đẻ mãi ra, trồng cấy sinh lợi ít. Một sào ruộng chịu nhiều khoản: thủy lợi, khuyến nông, phân hoá học, thuốc sâu rầy..., mà trời không thương có khi mất cả. Một “suất đinh” chịu đóng góp các thứ quỹ xóa đói giảm nghèo, tiếp khách, bảo tồn di tích, khuyến học, người cao tuổi, cựu chiến binh, văn nghệ... của xã, thôn, của họ tộc. Thế là phát canh lấy thóc cho bố mẹ ăn, còn mình “ra đi vào chốn đô hội”, chả biết làm nghề gì khác ngoài sức vóc. Cũng không ít đàn bà, với “vốn tự có”. Cái sự ra đi ấy có thể quy cho là bần cùng hóa?
Làng xóm nhiều nơi, vùng xa là chính, đàn ông, thanh niên vãn cả, còn lại là ông già bà lão và những anh dốt nát chả có tài cán gan góc càng không. Nhà văn Dạ Ngân “miêu tả” bằng chữ “trống toang”. Ra đồng tinh đàn bà, tuy đã có đôi ủng cao su buộc cạp lên quá gối lội bùn tiện hơn, nhưng cái việc xấp mặt xuống cấy thì không thể trốn. Tệ hơn là cái nạn cường hào mới. Người giỏi giang ra tỉnh học nghề rồi ở lại, bằng không cứ lao động đơn giản cũng kiếm bằng mấy chân quê. Tết đến, ít hào đem về lại đóng tiền xây nhà thờ họ, mộ tổ, cùng bao thứ quỹ chỉ ở xó xỉnh mới có. Mấy chú đánh giầy bán báo qua bao lần “bắt cóc bỏ đĩa”, nghĩa là những đợt “làm sạch phố phường”, lại nhẩy phắt ra phố. Chúng ưa thích cái “vị” tự do (dù đầy cạm bẫy) hơn tôn ty trong luỹ tre chăng? Và thanh niên ăm ắp khát vọng với tài năng, còn chỗ nào có thể đem lại học vấn, cơ hội đổi đời hơn thành phố? Chả lẽ học xong rồi về quê, nơi lắm khi sự êm đềm lại như một tấm lưới trói chặt cá tính, nghĩ gì nói gì cũng không thể trái lời ông trưởng họ...
Vùng nông thôn gần thì sao? Không thể không nhận thấy là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thay đổi nhiều làng quê cũ kỹ. Giao thông phát triển, những khu công nghiệp mọc lên đem lại bộ mặt mới mẻ, hiện đại. Các dự án đem lại công ăn việc làm. Nhiều làng nghề đang suy sụp hồi sinh. Thanh niên rành vi tính, kỹ thuật mới, hay có thể tậu con xe tải chạy pành pành.
Nhưng cạnh phần được đó, lại là bao cái đáng tiếc. Tiếc mà không níu được, có lẽ là những di sản gắn với đời sống nông nghiệp. Nhiều nơi đập cổng làng, xén đất đình cho ô tô đi. Cái hình ảnh một làng quê xấu đi là rõ nhất: đố thấy còn nhà tranh, nhưng “kiến trúc” mới chả có quy hoạch quy chuẩn nào, cứ xây chằn chặn xìn xịt mà cái nọ chửi bố cái kia. Vườn tược cây cối ao chuôm biến mất khiến nước thải chẳng còn chỗ chảy, vừa đem theo cái vẻ êm đềm thanh mát vừa khiến hàng xóm to tiếng.
Dù sao cái phong cảnh “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” đó còn xa xỉ chán, chỉ mấy lão thi sĩ tiếc quắt ruột. Đáng ngại, là hậu quả của việc mất đất canh tác cho các dự án. Vèo cái, qua một đêm, người nông dân gần đô thị có cục tiền cả đời mơ không thấy. Nhưng vẫn là cái anh chỉ biết cấy cầy mà không còn đất, họ đâm thất nghiệp. Tiền dự án đền bù cho sẽ xoay ra làm gì, càng nhiều có khi càng xảy sự, con cái tranh giành, họ tộc đòi góp. Nhà lên được, xe đã mua, có dễ con thành hỏng. Đất đã sụt dưới chân, mà chuyển nghề chạy chợ thì cụt vốn có khi, bởi “quê ta thuần nông, có mả làm thương nghiệp đâu”. Đó là những con tính nát óc bao ông chủ gia đình. Một điều tra của Đại học Kinh tế Quốc dân trên địa bàn Hà Nội vừa cho biết 57% nông dân dùng tiền đền bù đất đai để xây nhà, chỉ có 1% đầu tư cho nghề mới và 3% cho học nghề. Sự thay đổi là cần thiết với đất nước, thủ đô, làng xã, nhưng xa xôi quá, với họ thì lại nhanh và nghiệt ngã khiến trở tay không kịp.
Và ngay ở phạm vi đất nước, cái đất nước xuất khẩu gạo vào loại ác chiến trên thế giới bỗng dưng lại đối mặt với vấn đề an ninh lương thực, thì hẳn là phải có chuyện trong đường hướng phát triển rồi. Giá đắt chừng nào trời nào mà đong!
Dầu sao, cảnh khó của làng quê gần còn là ước mơ của bao xó xỉnh xa xôi. Và lại dầu sao “giầu nhà quê không bằng ngồi lê kẻ chợ”, nên chi “Làng ơi, chào nhé”, nên chi “Cô dì chú bác ở lại, cháu ngược”.
*
Mấy chục vạn, hay mấy triệu người kéo lên Hà Nội, chả biết. Lên theo thời vụ hay thành hẳn “người phố” là mấy phần, chả hay. Chỉ biết cái nội thành cho triệu người là vừa giờ san sát, cựa cái đã chạm nhau. Diện tích mở rộng, đường xá thêm ra, nhà cao tầng rộng lên cho tiết kiệm đất, bao nhiêu cũng không đủ. Thủ đô như cái đầu máy phải gánh phải kéo vùng nông thôn, thở hồng hộc, lem nhem, kém thanh lịch đi. Cũng phải, vì tiền xây cất là còn do thuế từ nông thôn chứ. Và thành phố đâu phải chỉ của người ở đã lâu, ai cấm ai vào được.
Người nông thôn mang vô vàn sức lao động đến, kèm theo cách sống của họ. Tư duy tuỳ tiện, áp dụng lệ làng, xây cất cơi nới, đi đứng hồn nhiên, phạm luật mà không biết. Đa phần lao động đơn giản, họ thành công cụ cho người chủ, có thể bị bóc lột, làm nạn nhân, cũng có khi phá đám lại chút ít. Thành phố cần họ và hiển nhiên, “xếp” họ vào đẳng cấp dươi dưới. Với cái “dươi dưới” ấy, và với tâm lý đi ở tạm “hàng xóm”, liệu họ có yêu quý, lo cho cái cộng đồng chung bằng cho làng nước mình? Từ đấy đến chỗ vứt con chuột ra đường, đái một bãi “mặc bố thằng nào ngửi” rất mỏng.
Nhưng có những con người có chí tiến thủ, học hành đầy đủ, chiếm được những vị trí cao, đủ quyền lực định đoạt việc lớn. Sự tác động của họ vào đời sống đô thị có hay dở của nó, chỉ xin nêu ra ở đây cái phía không tích cực.
Từ nơi khác đến lập nghiệp, cái tâm lý không tự tin và cũng chả tin người rất dễ có. “Cơ chế” cục bộ, co cụm để bảo vệ nhau xuất hiện. Những “tập” người hình thành xung quanh vị “gia trưởng” mới để “chào cờ xã ta”. Người huyện người họ kéo ra, dùng người tài theo kiểu hẹp hòi... ác nghiệt nhất là những ông tiểu nông ấy mà càng quyền cao chức trọng học hàm học vị xum xuê với cả cán bộ đảng viên nữa thì càng “Thôi rồi Hà Nội ơi!”. Nhiều yếu tố khiến cơ cấu dân cư thành phố vỡ một cách “tinh tế”, công tác tổ chức, cán bộ bị ảnh hưởng. Cái tâm lý “chín bỏ làm mười” thâm căn cố đế chiếm dụng, lấn át tư duy duy lý - nhất là trong khoa học, khiến nhiều khảo sát, điều tra, giải quyết vấn đề không được đẩy đến cùng. Và còn những biến thái nhỏ li ti nữa không thể không nghĩ tới. Như là liệu không gắn bó, yêu quý Hà Nội, người ta có chỉ tính tới những giải pháp ngắn hạn, “có tính chất nhiệm kỳ” cho nó? Như là một thành phố không có những dòng họ trí thức lớn như Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hồ Đắc, Hà Thúc ở Huế, hay “Hà Tĩnh họ Phan Nghệ An họ Hồ”, thì liệu có mất mát không? Nói thế thật ra không chính xác lắm, vì Hà Nội chi chít làng xóm, dòng tộc khoa bảng. Nhưng sao đã ngót nghìn năm theo Nho giáo, trí thức đô thị nhiều người huỷ tiết tháo đi, hành xử cứ hay khép lại, không nói ra cái điều họ nghĩ? Có một nỗi ám ảnh thường trực nào chăng?
Thành phố của chúng ta đa sắc thật. Những mảng mầu. Những tập người. Những thời khắc... Hệt như cái kính vạn hoa, chỉ nghiêng đi một tý đã thấy khác.

Trần Chiến

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 5

Thông tin xô đẩy

Hai chục năm về trước, khi cánh cửa Đổi mới mở ra, cùng với những quan niệm, cách thức làm ăn mới, xã hội cũng nhận được sự thay đổi lớn lao về thượng tầng. Báo Văn nghệ của tổng biên tập Nguyên Ngọc giới thiệu truyện Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh..., gây ra cú sốc lớn. Đến nỗi mà một nhà văn lớp trước thốt lên “sau họ (những nhà văn kể trên), ta không thể viết như trước nữa”. Sự nhạy cảm xã hội đã được đáp ứng, trước hết trên báo chí, khiến người quản lý có sự điều chỉnh, lúc mở lúc thắt, nhưng rõ rành là giai đoạn mới đã bắt đầu rồi. Trong vài năm, cả trăm tờ báo trên cả nước ra đời. Những tờ có từ lâu xuất hiện nội dung, giọng điệu mới, mạnh mẽ nhất là khối báo đoàn thể kiểu Lao động, Tiền phong, Tuổi trẻ... Làn sóng thay đổi tràn từ Nam ra Bắc, nơi cả chục năm trước “chưa mở báo ra đã biết viết gì rồi”. Cuối thế kỉ XX, Hà Nội đã có ngót chục tờ báo của riêng mình. Các kì bóng đá, Ô lim píc trên hành tinh được đưa ngay lập tức và phong phú làm người đọc ngây ngất, qua thể thao mà biết thêm bao nhiêu tập quán, văn hoá xứ người. Lúc đó có ai nói đến một gương mặt khác của thông tin, còn rộng lớn, cởi mở, đa dạng và chi tiết hơn, hẳn sẽ bị coi là “giàu trí tưởng bở” lắm.
Sang thế kỉ này, internet lan toả, lập tức chiếm lĩnh vị trí cực kì quan trọng trong các kênh thông tin - tuyên truyền. Cạnh các ấn phẩm, toà soạn nào cũng cố ra báo điện tử “kẻo thông tin muộn”. Cạnh các tờ “chính thống”, được phép của Nhà nước, blog ra đời. Theo một công bố, tháng 11 - 2007, cả nước có hơn 3 triệu blog, mỗi ngày vài nghìn (?) cái mở thêm. Ngần ấy “báo cá nhân” làm thay đổi khủng khiếp tri thức, và do đó, nhận thức, quan niệm xã hội, mà trước hết trong giới trẻ. Cái sự được dễ dàng nói ra điều mình biết, mình nghĩ tạo xung động mạnh mẽ vào cộng đồng, đặt ra những vấn đề không dễ giải quyết cho người quản lý, như đâu là tin thật, đâu là giả, thế nào là cách nghĩ “đúng”...
*
Cách đây vài năm, có một chuyện thế này: cậu bé đánh giầy Trương Bá Sơn đang lang thang “tác nghiệp” thì dính tai nạn, gãy tay, vào viện cấp cứu trong tình cảnh chả ai thân thuộc. Đường dây tư vấn trẻ em của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em (khi đó) biết chuyện, một mặt thông tin cho báo chí, mặt khác báo cho ngành dọc có liên quan can thiệp. Tỉnh Hà Nam quê Sơn bảo người thân em chả còn ai, mà “nó lên Hà Nội rồi thì Hà Nội chịu”. Quận Hoàn Kiếm trỏ sang Hai Bà, chỗ bị nạn, Hai Bà lại bảo Hoàn Kiếm là nơi Sơn trú ngụ. Chú bé nằm trong viện với số tiền giúp đỡ ít ỏi của nhân viên, bệnh nhân xung quanh, và có bà chủ nhà trọ của em ở ngoài bờ sông chăm sóc nữa. Khi báo chí loan chuyện, được nhiều ngời giúp đỡ, thì Sơn lại khư khư số tiền đã trở nên to, chả “đưa lại” cho bà chủ trọ đã giúp mình. Sau đó ít lâu, khi lành bệnh, em được hưởng những “giải pháp triệt để”, như cho lên trại xã hội chăm sóc, học nghề...
Chuyện đến đó là hết. Nhưng bình luận về thời gian chú bé đánh giầy gặp khó, một cán bộ cỡ vụ của cơ quan chăm sóc trẻ em coi đó là phép thử nghiệt ngã với xã hội. Có thể kể ra những thành phần “chính” sau: cơ quan chuyên trách về trẻ em ở các cấp, những người bình thường -trong đó có bà chủ trọ tốt bụng, và bản thân cậu bé - với tâm lý láu lỉnh, thực dụng của kẻ chả còn nơi nương tựa. Đây là một ví dụ về tác động của thông tin vào các thành phần của cộng đồng, cho ra những phản ứng khác nhau, điều trước đây hầu như không có.
*
Nhân chuyện này, ta xem lại vài phép thử khác, diễn ra trong thời gian gần đây mà dư luận hầu như đều tỏ.
Đầu tiên là “vụ” Lê Vân. Cuốn tự truyện của chị do một nhà văn chấp bút ra năm 2006 thật sự là một sự kiện. Cùng quãng này, nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Nguyễn Đức Thạc cho người ta biết phần nào cái trạng huống thật của con người ta trong chiến tranh, vừa bình thường vừa anh dũng, đem lại sự thấu hiểu, thông cảm, cả kính phục. Thì Lê Vân lại tạo ngay ra những phản ứng đối lập. “Phái” giận dữ (chí ít là trách móc) phê phán “Ai đời con cái kể bố ra thế. Sao không xem lại mình đi, có phải cái gì cũng hay đâu!”. “Đẹp tốt phô ra xấu xa đậy lại, chuyện gia đình có gì đóng cửa bảo nhau chứ”. “Vô trách nhiệm quá, gì thì cũng đã đóng vai chị Dậu cô Duyên, những biểu tượng phụ nữ Việt Nam rồi”. “Nổi tiếng đến vậy mà còn đem chuyện nhà ra buôn thì chỉ có là cần tiền”. Giới mạng, chủ yếu do người trẻ làm chủ, bình luận sôi nổi: “Có thế chứ! Nói ra được những điều thầm kín phải dũng cảm lắm”. “Ta quen đạo đức giả rồi, cứ phải kiêng kỵ không nói ra, khuôn mình vào cái khung chung chung nhạt nhẽo chả ai khác ai, nay có người bóc cái “màng” ấy tuột ra là chê ngay”. Tranh luận “xảy ra” ở cơ quan, trong gia đình, lúc ăn chơi ngủ ngáy họp hành, cũng có thể gọi là “mớ” “xung đột thế hệ”.
Tự truyện của Vân không có giá trị văn học cao, về “tư liệu” chả nhiều cái mới; vì ối người, ối nhà có chuyện tương tự. Nhưng về mặt xuất bản nó đúng là một cơn sốt: số lượng 8000 bản đợt đầu, còn in nối trốn thuế bao nhiêu chả ai biết, trong khi sách các nhà văn nổi tiếng được in 2000 bản đã là mừng. Nó gây sôi nổi vì chạm đến chỗ nhạy cảm của văn hoá, đạo đức truyền thống. Xã hội phương Tây xuất hiện loại sách này từ tám hoánh. Có câu cay nghiệt “Điếu văn để cho người sống, hồi ký để nói hay cho mình”, ở ta hai “thể loại” trên đều sống khoẻ, và đều “có họ gần” với tự truyện kiểu Vân. Nói thế để thấy cái xu thế “đem chuyện nhà mình ra kể” sẽ thành tự nhiên nay mai. Nhưng trước mắt, trong quãng “nay mai gần” thì còn khó: một nữ nghệ sĩ nhân dân đã bỏ trên chục triệu đặt nhà văn nọ chấp bút tự truyện cho mình, bản thảo xong rồi chuẩn bị in thì rút lại: sợ bị dư luận “phang” như Lê Vân.
Sang năm 2007, lượng “phép thử” càng nhiều, do người ta am tường cái thế giới xung quanh mình hơn, biểu thị phản ứng cũng dễ hơn. Sôi nổi nhất vẫn là cái “mô típ” “người của công chúng”: vụ Vàng Anh. Chương trình “Nhật ký Vàng Anh” làm chăm chút, phát trên VTV đang bắt mắt khán giả thì đoạn “phim” quay cảnh làm tình của TL, cô diễn viên chính xinh xẻo bị đưa lên mạng. “Xì căng đan” lớn quá. Chương trình phải ngưng bằng một buổi từ biệt, tất nhiên có cáo lỗi (nhân vật chính không gọi đó là “tội”); lại một dịp gây sự kiện nữa. Đến nỗi mà có ông lão chả biết sự tình chi chi, nhầm nhà thơ Phan Thị Vàng Anh, người được giải của Hội Nhà văn Hà Nội sau đó là cái cô Vàng Anh nọ.
Trở lại với dư luận xung quanh vụ này. Nhiều người phê phán diễn viên TL đóng Vàng Anh “đồi truỵ”, “nêu gương xấu”. Khá rôm rả và khái quát là những “quan điểm” trên một trang cá nhân, dưới hình thức đưa cả lời qua lẫn tiếng lại:
- “Nghệ sĩ không phải mẫu gia giáo, không nên xem đây là “sụp đổ thần tượng”. Nếu không phải thần tượng thì không phải giữ gìn ư?”.
- “Sao VTV3 dành cho TL một buổi chia tay, mà không có vụ sập cầu Cần Thơ?” - “Thì VTV3 là kênh giải trí cơ mà!”.
- “Đài báo sao ỉm vụ này đi? Để người có liên quan dùng ảnh hưởng dẹp đìa?” - “Cuộc sống còn khối chuyện còn phải nhắc. Đó là quyền được thông tin của dân, và quyền được tôn trọng tự do cá nhân. Moi móc không phải là để đáp ứng quyền được thông tin”.
-“Hành vi phát tán hình ảnh (sex) qua internet là phạm pháp rồi. Còn giao cấu và quay hình không phạm pháp. Mà văn hoá, đạo đức phương Đông không bất biến đâu. “Tây sương ký” chả ăn cơm trước kẻng a?”.
- “Bạn có thể không tha thứ cho TL, nhưng không thể bắt nó như bạn muốn”. “Cho rằng TL có trách nhiệm giữ đạo đức vì là người của công chúng là giả dối. Cho những quan niệm truyền thống vẫn còn nguyên giá trị là nhầm lẫn!”.
(Địa chỉ: http://svnhanvan.org)
Trang http://nguyenquanghuy.wordpress.com, sau khi “mô tả” về việc thông tin trên các báo đã “thỏ thẻ”: “Với mình, báo chí cũng nh một người “lắm chuyện”, ta nên tin tưởng có chừng mực. Phải hết sức tỉnh táo”.
Vụ Vàng Anh làm nhiều người nghĩ đến Văn Quyến. Cả hai đều còn trẻ, hồn nhiên trong hành xử. Cô gái nghĩ đơn giản là sẵn máy điện thoại thì ghi lại chuyện ấy của mình, rồi mất vai, phải đi tìm việc. Còn chàng cầu thủ đội tuyển vương vào lao lý vì “đằng nào mình cũng thắng, cho nó một bàn kiếm bạc triệu có sao!”. Cái giá cả hai phải trả cảnh tỉnh được nhiều ngời đồng lứa đang muốn nổi tiếng bằng cách “cũng” đưa clip sex của mình lên mạng “khoe chơi”. Cậu bạn trai “đóng” chung “phim” với TL bị chửi bới, đe doạ sợ mất mật. Nghĩa là nhìn chung, giới trẻ nhìn nhận sự việc này rất tỉnh táo, chín chắn, phân rõ đâu là “cái chỉ làm ta khinh bỉ chứ không thể tống vào tù”. “Thuốc thử” Vàng Anh, do đó, cũng có thể coi như một liều vác xin tăng cường sức đề kháng cho cộng đồng, ngăn chặn những ai muốn chơi trội, hay đơn giản chỉ là “hồn nhiên” quá.
*
Thế giới mạng không phải chỉ là ảo. Thông tin, té ra tạo xung động có tính chất rất thật. Nếu những tranh luận xung quanh tự truyện Lê Vân, clip Vàng Anh là giữa các cá nhân, thì cũng lại có va đập giữa cá nhân với cơ quan truyền thông nhà nước. Báo điện tử nọ “dựng” chân dung nhà văn Hồ Anh Thái, một bloger đáp trả. Báo nữa đăng phỏng vấn Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ này nhảy chồm chồm lên rằng trả lời của anh bị cắt xén, thay đổi. Mà tất cả những nói đi nói lại ấy ai ai cũng có thể đọc được. Một “vụ” khác không om xòm bằng Lê Vân, Vàng Anh nhưng có diễn biến khá thú vị, là xung quanh Vương Trí Nhàn. Nhà nghiên cứu này vài năm nay giữ mục “Thói hư tật xấu người Việt” trên báo Thể thao & Văn hoá, chủ yếu trích đăng những nhận xét của các vị trí thức đầu thế kỷ XX: Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng bàn về tính ỷ lại, Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh nêu thói “nhất mẹ nhì con” chả cần biết đến bên ngoài thế nào... Rồi trong một lần phát ngôn, ông Nhàn cao hứng “Người Việt là một khối tự phát khổng lồ”. www.vietimes.com, “nhánh” của một báo điện tử “túm” được, bèn tổ chức “trận” phỏng vấn ông Nhàn. Những câu hỏi đưa ra, đại để: “Nước ta đã có những Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... mà còn những thói tật ấy à?”, “Đưa ra như vậy thì bản thân ông có những thói tật ấy không?”, “Ông có nói với con cái mình về những thói tật ấy chứ, và chúng nó có mắc phải không?”... Cuộc phỏng vấn kéo đến phút thứ 24 thì ngưng, ông Nhàn bỏ về vì “Tôi không thể trò chuyện theo kiểu này!”.
Bài đăng ra lập tức có sự hưởng ứng. Khoảng hai chục ý kiến kèm theo, từ các blog trong nước, cho rằng ông Nhàn không có lòng tự trọng dân tộc, không được mở chiến dịch nói xấu người Việt.
Nhưng cái thế giới các nhà báo đang hành nghề lại “phẳng”. Đám bloger ngay lập tức biết chuyện, và ác cái, lại có phương tiện để bầy tỏ chính kiến (đa phần hẳn là trí thức trẻ). Họ kêu báo mạng nọ chơi không hay, “kích động bạn đọc nhẹ dạ”, phê phán lối đặt câu hỏi khi phỏng vấn là “đấm dưới thắt lưng”... Họ tán thành ý của Vương Trí Nhàn, một dân tộc muốn tiến bộ rất cần tự biết nhược điểm của mình, bằng vào cứ “mẹ hát con khen” chả khá được. Lỗ Tấn vạch ra cái xấu của người Trung Hoa mà vẫn được tôn vinh đấy chứ. Và tác phẩm “Người Mỹ xấu xí” rất là được các “đối tượng phê bình” quý trọng. Phải mạnh mẽ nhìn thẳng vào các thói tật mới được!
Chả biết có bao nhiêu blog “phản hồi” lại, và phản hồi như thế nào, mà sau đó vietimes. com nhanh chóng “bóc” ngay cái trang phỏng vấn nọ. Sự kiện này cho thấy tính chất “phẳng” của thế giới ngày nay. Hầu như ngoài địa hạt chính trị, người ta đều có thể tham gia vào thông tin một cách bình đẳng, sòng phẳng. Cái phong cảnh “vừa thổi còi vừa đá bóng”, “tay này múa tay kia vỗ”, “cả vú lấp miệng em”, “mẹ hát con khen hay” rất khó kéo dài. Cuộc can thiệp của giới truyền thông vào hoạt động của cơ quan điều hành bóng đá đỉnh cao dai dẳng và dữ đến độ (nghe nói) các vị đứng đầu ở đấy bảo “cứ đọc báo thì chả dám làm gì!”.
Thông tin biến cái không thể thành có thể, cái tưởng như bất biến thay đổi hình trạng. Đa chiều, cởi mở, “khoáng đạt”, nó lại đặt ra những vấn đề khác, không phải chỉ là chuyện “giới hạn đến đâu” cho giới quản lý, mà còn cả đạo đức, văn hoá... của người được nói. Báo nọ đòi treo giò cầu thủ đuổi đánh trọng tài, mấy tháng sau, khi án kỷ luật vẫn còn, lại lớn tiếng “sao không đưa anh này vào đội tuyển?”. “Thủ thuật” tìm sự kiện ”thổi” cho to lên được dùng nhiều. Và không ít bloger, vì muốn nhiều người truy cập đã “nhấn mạnh”, “đẩy tới” cái điều mình định nói lên, làm giảm tính chất thật thà cần phải có của “thể loại” “nhật ký cá nhân”.
Rối nhiễu thông tin, cộng đồng bối rối, hẳn thế. Nên chi một người có tuổi nhận xét: “Dân đô thị sướng vụt lên sau một thời nghèo khó thì lại phải trả giá cho “trình độ hưởng sướng” thấp của mình. Vì được ăn được uống thả phanh, những căn bệnh “của người giàu” như gút, tiểu đường, béo phì lan tràn. Cũng vậy, sau giai đoạn thông tin nhỏ giọt, có kiểm soát, định hướng, người ta dễ “rối loạn tiêu hoá” (về tâm lý) khi bỗng nhiên bể cả thông tin ập đến quá tràn trề, đa chiều, khiến ngạc nhiên, khiến bối rối, hoang mang, cái gì cũng “ô thế à?”. Nghĩa là bội thực về thông tin cũng gây bệnh chứ chả phải riêng do rượu thịt ê hề quá”.
Đó là một nhận xét chí lý, nếu xét riêng ở đô thị. Còn nếu kể cả nông thôn, nó làm một người con ra thành phố chưa lâu, trở về nhà đã thấy nhận thức của mình khác xa của phụ huynh nhiều lắm. Có nghĩa là, cái sự cách biệt về thông tin ở trung tâm lớn với các vùng quê cũng mênh mông vô kể.
Dù sao, nhìn đại thể, xã hội lành mạnh, được hưởng lợi nhiều hơn khi thông tin phát triển. Đặt ra thách đố về quản lý, nó làm số đông biết mình biết người, “tiện” cho sự hoà nhập.

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 4


Tiếng ta “trôi”

Khoảng năm 1915 – 1917, những hoạt động khoa cử theo Nho giáo cuối cùng diễn ra. Giai đoạn phổ biến tiếng Pháp cho tầng lớp trên, sau đó là Quốc ngữ cho đại chúng bắt đầu. Quốc ngữ, trên một chừng mực, mang theo tinh thần dân tộc, được cách mạng tận dụng triệt để trong công cuộc chống ngoại xâm, đã có sức sống mạnh mẽ. Vả chăng nó có những lợi thế rõ ràng để phổ cập: đánh vần được, âm thanh thì vẫn ta mà con chữ lại “gần gần” của người Tây phương. Tức là học nó rất dễ, nâng cao dân trí, tuyên truyền cách mạng nhanh chóng. Trong thôn hương, bên cạnh những ông đồ lại có trí thức bình dân, trình độ cao hơn cộng đồng nhưng “ăn nói dễ hiểu”. Giáo sư Đặng Văn Ngữ kể chuyện khi trở về nước, thấy dân làng nọ phải đánh vần “a bờ cờ” được mới có thể đi qua trạm kiểm soát, ông đã run lên vì cảm động.
Tuy chả phải độc tôn, chủ yếu ở tầng lớp trên, tiếng Pháp vẫn là tấm “thông hành” để trở thành trí thức thượng lưu hay chiếm vị trí quyền lực thực sự trong bộ máy cai trị (chỉ chữ Nho không thì nhiều khi chỉ có hư quyền). Chả thế mà có một tầng lớp làu thông cả Nho lẫn Pháp, như “Tứ hổ Tràng An” Quỳnh - Vĩnh - Tố – Tốn, không chỉ có thể phiên dịch mà còn tư duy được bằng hai ngữ ấy. Nhưng chữ Nho “đứt” dần. Văn hoá Pháp, lợi quyền làm quan quyến rũ lớp người trẻ. Người Việt, hình như không có âm “pờ”, bắt đầu làm quen với “pin”, “pích”, “poóc – ba – ga”, “ping – pông”, “pê – nan – ty”...
Giống như mọi xứ, sự tiếp biến ngôn ngữ ở ta cũng có sắc thái hài hước, tức là pha trộn theo nguyên tắc phải gây cười. Các cụ Nho – Tây làm thơ tứ tuyệt bằng âm “tây” rất đúng niêm luật:
Đờ puy cờ giơ tơ cổn nét
Giuýt ki xì xít xết an nê
ẳng tăng đồng xíp lê xà lúp
Tú xơ là xà cúp mông cơ
(Từ khi em biết anh đến nay đã sáu bẩy năm rồi, (giờ) nghe tiếng còi tầu thuỷ thét vang như xé tim em)
Đây chắc là “cõi lòng” của một “me” khi gã “quỷ hồng mao” “ngược” về trời tây. Có những câu khác, mang sắc thái chế giễu nhiều hơn, nhắc lời bồi ta tả con cua cho chủ tây: “Luý to cẩm manh, luý a uýt cẳng đơ càng, luý cắp đau chết cha, rô ti luý thơm cẩm nước hoa, măng giê luý bố cu bồng quên chết”, tức là “nó to bằng bàn tay, tám cẳng hai càng cắp đau chết cha, rán lên thơm như nước hoa, ăn ngon quên chết”. Lại có những “từ” được phiên sang âm Hán, chả biết nghiêm túc đến đâu, như gọi máy chữ là “cơ khí tự”, đánh máy chữ là “đả cơ khí tự”, người đánh máy là “đả cơ khí tự viên”.
Rồi đánh Pháp, tinh thần dân tộc, tinh thần giai cấp trên hết, tiếng Tây lắm lúc như hủi. Những ông đốc tờ thầy cãi theo kháng chiến gặp nhau trong kháng chiến chỉ sợ bị đánh giá, nói tiếng Tây như ăn cắp. Chiến dịch Biên giới nổ ra, cùng với những ảnh hưởng của Trung Quốc, âm Hán (bạch thoại?) hoặc trở lại hoặc tràn vào, như “phương vị” của pháo binh, “thổ cải” thời cải cách ruộng đất. Những “hoả xa”, “lý trình” của ngành giao thông còn mãi đến ngày nay.
Tiếng Nga có vị thế từ những năm sáu mươi, lưu học sinh mang về, nhà trường cũng dậy. Văn hoá Nga làm thổn thức bao thế hệ, lính đánh Mỹ ra trận nhiều người trong ba lô có thơ tình Ôn – ga Béc – gôn. Nhưng quá khó, và việc dậy dỗ cũng tam khoanh tứ đốm, nó chưa kịp mọc rễ đã bị tranh chỗ khi thời thế thay đổi. Phải nói là trong khoảng ba chục năm, từ ’60 đến ’90, việc dậy ngoại ngữ trong trường phổ thông, đại học ở Hà Nội tạo ra một lớp trí thức “kinh qua” cả Trung Nga Anh Pháp văn nhưng chả ngữ nào ra hồn. Chữ Hán thì hoàn toàn mù tịt rồi, thành thử vươn ra thế giới hiện đại thì khó, mà quay về với quá khứ lại tắc tị. Nghĩa là nẻo vào các nền tri thức khác bít kín.
Tiếng Nga nay còn lại trong người vui tính, có lẽ là những “Tình hình xây chác (bây giờ) có gì nố vưi (mới)?”, hay “I a tôi cũng tố gie”.
Vụt cái đã sang thời của tiếng Anh. Nói thế vì bao người “sôi Nga nấu Pháp”, thoắt cái thấy mình lạc hậu. Tài liệu, thông tin, môi trường làm ăn, giao tiếp..., đâu đâu cũng là “thằng” Ăng lê. Thế kỉ XXI sập đến với những “com piu tơ”, “lép tóp”, mạng “gút gồ”, chả biết tiếng Anh thì “thôi rồi nghỉ cho khoẻ”. Những chuyên gia lành nghề phải nhả suất du học cho đứa trẻ ranh. Những bộ trưởng về hưu cố một học bổng Anh quốc. Những giáo viên tiếng Nga đang nuôi con nhỏ giằn lòng chuyển sang tiếng Anh. Không chỉ là chìa khoá mở vào tri thức, văn hoá, nó còn là phương tiện sinh nhai hay tiến thủ đến quyền lực.
Lại giống cách nay dăm bẩy chục năm, con đường phổ biến tiếng Anh cũng có sắc thái hài hước. Học sinh, thanh niên, do nhu cầu học mà chơi, chơi mà học, “sáng tạo” ra những “giải pháp thông dịch” đánh đố nhau. Sugar you you go, sugar me me go tức là “đường anh anh đi, đường tôi tôi đi”. “Rùng rợn” hơn, I love toilet you go go là “tôi yêu cầu anh đi đi”. Nhả nhớt, nghịch ngợm, dường như là một phẩm chất không thể thiếu của sự tiếp biến văn hoá nghiêm túc.

*
Trôi giữa các dòng chẩy không thể nói là hiền hoà, tiếng Việt ta đã tiếp nhận, biến đổi thật nhanh. Sinh ngữ như một cơ thể hồn nhiên, chịu ảnh hưởng của thời thế - cái liên tục thay đổi. Và càng là đô thị thì thay đổi càng chóng mặt. Có cái cảm giác người Việt tiếp nhận những ảnh hưởng ngôn ngữ rất hồn nhiên, và bộc lộ luôn sự tự ty về văn hoá. Thứ tiếng cổ, thuần khiết chỉ còn nơi những bà còng tỉ mẩn gà qué ở quê, cụ mà lên tỉnh khéo lắm khi thành ra đi nước ngoài. Lắm nhà văn, lắm ông nghiên cứu ngôn ngữ thích đôi hồi với các cụ là vì sợ tuột mất những nôm na, phương ngữ...
“Trôi” về đâu, như thế nào, thì rất bộn bề, và nó dành cho nhà nghiên cứu. Trên phương diện chủ quan, người viết cứ “dựng” tạm lên mấy xu hướng sau:
- Bình dân hoá. Cách nói, viết không cần chuẩn, cốt hiểu được. Từ mới phát sinh theo những “quy luật” thật vui: “vấn nạn”, “cảnh báo”, “hơi bị hay”... Do tiếng Việt dậy trong trường phổ thông, thậm chí trường báo chí khá nham nhở, nhiều tờ báo dùng bài sử dụng từ sai, câu không đủ thành phần. Quy tắc viết hoa, phiên âm dường như không có. Nhiều hàng ăn, có lẽ nghĩ đến câu “ăn cơm Tàu”, dựng biển có chữ “quán” sau cùng, thậm chí cả “Dân tộc quán” dù cách ghép từ này chả hề dân tộc. Văn viết là vậy, văn nói – chủ yếu trên truyền hình – lại càng lơ lớ. Lơ lớ nhưng lại là thời thượng.
- Quốc tế hoá. Thời tiếng Tây, người đô thị học nói “phi dê”, “gác đờ bu”, “sếp”. Sang thời nay, câu bị động sử dùng nhiều: “Nàng bị quấy rối tình dục bởi giám đốc”, “hội ăn thịt chó dẫn đầu bởi kẻ vừa trúng mánh”, “B. xếp sau A. với 3 điểm ít hơn”... Chả biết đến một lúc người ta có nói “mắm tôm dậy mùi bởi chanh” không? “Đến từ” là một cách nói sành điệu thì vừa rối rắm lại rất đáng ngờ về sự chính xác. Sắc thái, tiếng vang trong âm nước ngoài thấy rõ trong những “xâu (show) diễn”, “đi toa lét”, “nâu (no) vấn đề”... Lối thoại cộc, ít từ phái sinh kiểu “à  nhỉ nhé”, có lẽ ảnh hưởng từ văn hoá bình dân Mỹ được dùng nhiều. Và một điều không thể không lan đến tiếng ta là cách xưng hô dân chủ, ít tôn ty, chỉ dùng có vài đại từ nhân xưng của ng
ười Âu Mỹ. Có thể vì điều này mà những người của công chúng, khi xuất hiện trước đám đông thường xưng tên, vừa giản tiện vừa không mất khiêm nhường. Cái cách xưng tên này cũng được đã vài lão sáu mươi sử dụng, đã sinh ra hiệu quả rất hài hước.
- Cá thể hoá. Những tập người khác nhau về tuổi tác, văn hoá, tầm mức kinh tế... có cách “lập ngôn” khác nhau rõ ràng. Rõ nhất là trong câu thoại, diễn ra trong cộng đồng của họ. Văng tục đa phần bị cho là thiếu văn hoá, nhưng nhiều người bảo không thể trộn nó với cách nói tục; “nói” khác với “văng”, có chọn lựa, để thể hiện một nội dung không có cách thể hiện khác. Báo “Người cao tuổi” không “híc híc” như “Hoa học trò”, báo Đảng giọng nghiêm trang, giầu chính luận hơn báo đoàn thể. Cùng một báo, chuyên mục này luôn phải giữ tính định hướng, giáo huấn, trong khi chuyên mục khác cứ phải bông phèng mới xong. Lứa 8X nói khác lứa 9X. Lại có loại “văn” chít chát, nhắn tin, tất nhiên lấy ngắn gọn làm đầu, tỉ nh “j” là “gì”, “ko” là “không”. Có người đặt vấn đề “văn mạng”, nhưng cho đến lúc này, những “tác phẩm” đưa lên mạng mà đứng lại được đều phải chỉn chu cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Còn đâu, do chả ai biên tập, chả phải chịu trách nhiệm nhiều lắm, đa phần mỏng manh trước thử thách trường tồn; nghĩa là giá trị chính của mạng vẫn là ở chỗ “ai đến ai đi cũng được”, nghĩa là còn lâu nó mới trèo được đến vị trí của “văn học giấy”.
*
Tiếng Việt dễ tiếp nhận các ảnh hưởng, và người Việt cũng hồn nhiên giữa các tiếp biến. Vì thế, rất khó đoán các xu hướng trên phát triển đến đâu. Nhưng chúng ở ngoài ta, ghét hay thích chúng cứ độc lập vận động. Sinh ngữ là vậy, luôn luôn mở, luôn luôn ngọ nguậy đón chào, cái vừa là mới đã có thể thay bằng cái khác. Có lẽ vì thế mà sách, tạp chí, nhất là báo (báo mạng thì “thôi rồi”) không ai có thể chuẩn hoá được việc viết hoa, để nguyên hay phiên âm tiếng nước ngoài...

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 3


Đô thị tự phát

                                          Những điều nhìn thấy
Nhà văn Hồ Anh Thái có lần “cho” nhân vật của mình, từ máy bay nhìn xuống, thấy nhân sinh bên dưới tựa đàn kiến. Cái ý nghĩ có vẻ khinh bạc ấy, nếu chĩa vào Hà Nội bây giờ, cơ hồ như còn trân trọng chán. Kiến là loài có kỷ luật, bầy đàn được tổ chức tốt, kiểu như gặp nhau trao đổi thông tin qua râu là hiểu đường này đi được hay không. Thành ngữ “vỡ tổ” có lẽ chỉ đúng khi chúng bị dội nước, như cách mấy cô bé đã làm trong “Dế mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài. Còn thành phố của chúng ta lại quá nhiều quy luật, chiều hướng chồng lấp nghịch ngược nhau, lắm lúc đem lại cảm giác hỗn độn. Đó có phải là một nhận xét bi quan?
*
Thế thì quan sát cung cách đi đường của người đô thị chúng ta trước. Kẻ mới mua ô tô toe toe khoe còi to. Xe máy lạng lách, “chảy” theo quy luật nước vào chỗ trũng. Xe đạp đủng đỉnh. Ông nào cũng có “luật” của mình, cứ như cái khái niệm “phần đường không phải của mình” không tồn tại. Những anh quê ra gặp người làng tâm sự dăm ba câu giữa đường. Những chị sành điệu vừa lượn SH, Dylan vừa nhoay nhoáy bấm điện thoại. Người ta chửi cảnh sát giao thông ác, “có tý cũng phạt”, trong khi những ông này lại “chán chả buồn phạt” dân nghèo hay người đi xe đạp. Vắng bóng cảnh phục là đi tắt, vượt đèn đỏ, chết ai đâu mà kiêng. Cho nên ai chấp hành luật thành ngu, người nước ngoài sợ rúm người khi được phép qua đường.
Phố ta nhiều kẻ quê, mà tình quê rất quý. Nên hai ông va chạm sắp đánh nhau, nhận ra giọng đồng hương thì cảm động cùng tiến vào quán bia ngay. Những đội sếp Tây như trong truyện Nguyễn Công Hoan bị lên án. Đã chẳng có máu đồng bào thì chớ, bọn “Min đơ Min toa” này lại ác, cứ nhè thằng vứt chuột chết ra đường, con khạc nhổ lung tung mà phạt. Chúng nó đại diện cho đế quốc, mà đã đế quốc thời cái gì cũng là đồ hủi, nên bỏ. Các vị đại diện pháp luật ít nhiều có thái độ hiền từ trước thói đi đường xấu. Nhưng gần đây, nghe nói công an Hà Nội cho phép cảnh sát giao thông được hưởng một tỷ lệ trong tiền phạt, dù sao sự nghiêm khắc cũng tăng lên được.
Không thể đổ lỗi hoàn toàn cho cảnh sát giao thông, cũng không thể nói thành phố toàn người “đi láo”. Sang mấy năm cuối của thập kỷ đầu tiên trong thế kỷ XXI, cũng có những quy định, những công trình để khắc phục, như xây cầu vượt, làm rào chắn chỗ giao lộ bắt đi vòng…, kể thì cũng là chịu nghĩ chịu làm chịu chi. Nhưng vẫn toàn “thành tích khắc phục”, chứ cái nguyên nhân thì không (thể?) đụng đến. Đây cũng là điều dễ thấy khi trông sang trật tự xây dựng.
Hiển nhiên phải kể trước cái hình ảnh thành phố đang vươn lên tầm cao ở nghĩa đen. Mấy chục khu đô thị mới có trường học, siêu thị, khu vui chơi, thậm chí mặt nước, cây xanh xuất hiện. Hàng trăm chung cư hai ba chục tầng vừa tiết kiệm đất vừa đem lại hình thái mới cho sinh hoạt đô thị: hàng xóm biệt lập không biết nhau, rác đổ vào “ống”, điện nước khí đốt gửi xe có bộ phận quản lý, sáng ra cả nhà chui ô tô vào trung tâm bố mẹ đến sở con học trường “cao cấp”, chủ nhật đi siêu thị mua đồ ăn cho cả tuần. Ở nhà này khổ nhất những bà cụ quê ra, dù con giàu có ngất ngưởng mà không tìm đâu ra đồng hương, thậm chí bị “dốt”. “Ô sin” thì giải quyết nỗi nhớ nhà dễ hơn, tối đến bế con chủ xuống sân trước là tha hồ “buôn” với người cùng đẳng cấp. Căn hộ biệt lập, từ gia đình đến cá thể đều được giải phóng khỏi quan niệm, “quy định” xã hội, cũng nên được đánh giá là một sự tiến bộ.
Có lẽ từ tâm lý cần đất, quý đất của nông dân, nhiều người có của vẫn thấy mình “không có đất” khi ở chung cư. Căn hộ liền kề xây trên đất chia theo lô (đã chấm dứt từ cuối thế kỷ trước) “sang trọng” hơn, hình thành nên khái niệm “nhà công ten nơ”. Sang nữa là những khu biệt thự nhà cửa khuất sau tán cây, tiếc là tâm lý tận dụng vẫn còn đó, nên ít người tôn trọng tỷ lệ nhà - đất khi xây dựng. Không ít chủ, khi kiến trúc sư vẽ tầng một có độ cao quá 4 mét đã “hay là làm gác xép”. Tuy nhiên, chung cư cao cấp hay biệt thự im ỉm đều ít nhiều mang lại dáng vẻ “kiêu sa” cho thành phố, tất nhiên lại làm nảy nở sự so sánh rằng “xã hội đang phân hoá ghê quá”. Và không làm chung cư cao tầng thì đất đâu mà chia mãi!
Cạnh khu đô thị mới thường là làng cũ, cư dân là chủ ruộng đất đã bị lấy. Bỗng nhiên được thành công dân phường, người nội thị hẳn hoi, sang quý thay, họ lại phải đối mặt với tình trạng là nông dân mà không còn đất. Buôn bán, làm thợ, học hành thành trí thức… đều không biết, cầm đống tiền đền bù mất ngủ kinh khủng. Chưa kể ao hồ lấp hết, nước thải chả biết đổ đi đâu, chưa kể cha mẹ muốn chết vì con cái đòi chia tấc đất - tấc vàng hay chơi bời nghiện ngập.
Còn cái lõi của đô thị - khu phố cũ, khu phố Tây và lân cận thì sao? Chật ních. “Phố cổ sống khổ”, ít người tưởng ra điều ấy khi nghĩ về Ba sáu phố phường. Ăn uống ngon, trường học tốt, nhưng ô nhiễm, bất tiện kinh khủng. Thành phố không cho xây cao nên gia đình sinh hoạt trong mươi mét vuông. Hàng Ngang Hàng Đào tiền nong dư dật thì thường bên dưới là dân đến sau, thuộc sở hữu nhà nước, bên trên anh cũ bị cải tạo những năm sáu mươi thế kỷ trước còn sở hữu, không thể thống nhất để sửa sang được. Ai mà ngờ trong khu vực mỗi mét vuông giá ba bốn chục lạng vàng, “tiền đè chết người”, buôn bán rầm rập thuế đóng nhiều nhất thành phố, vẫn còn hố xí xập xệ, cống rãnh ứ trệ. Rất khổ, kể cả khi được phường quận “bầu” lên làm “Gia đình văn hoá tiêu biểu” vì có vài bốn thế hệ cộng sinh hiền hoà.
Trông sang khu phố Tây, không còn mấy cái hình ảnh sang trọng, biệt thự êm đềm ẩn sau cây cối. Nhà bồi nhà bếp đằng sau chia nhau lên tầng, phía trước xuất hiện ki - ốt rồi cũng lên tầng. Ngôi nhà chính các gia đình thành viên chia cắt, sàn gỗ không đánh xi, cầu thang bước chỉ sợ sập, máng sành vỡ rỉ nước bẩn, ban công không ngăn lại thành bếp thì cũng um khói róm than tổ ong. Các khu tập thể cũ như Kim Liên, Trung Tự, niềm mơ ước của công chức cấp sở ngày nào, người ta đục tường nới ban công nới cả tầng bằng “con sơn” đưa ra, kết cấu nhà bị phá vỡ nguy hiểm kinh khủng. Sân chơi cho trẻ con, người già bị lấn dần dần, trường kỳ, nhà mới mọc lên có cửa sổ trông sang nhà cũ rất hồn nhiên. Liệu có thể nói hình ảnh chính của kiến trúc – xây dựng khu nội thị bấy nhiêu năm qua là cơi nới?
Quy hoạch là chứng cứ về tầm vóc nhà quản lý với đô thị của mình, và sự ổn định của đô thị ấy. Vai trò của Pi - ốt Đại đế với Xanh Pê – téc – bua, của vua Lu – i (mười mấy?) với Pa – ri đã rất rõ. Những nguyên tắc của quy hoạch trường tồn vài thế kỷ dù chế độ chính trị luôn thay đổi. Ta thì Lý Công Uẩn khi dời đô ra Thăng Long đã vượt khỏi tầm một thủ lĩnh quân sự, bước sang thời đàng hoàng bang giao thiên hạ. Nhưng chuyện đó lâu quá rồi. Hà Nội gần đây có quy hoạch tổng thể không?
Tất nhiên có! Hình như cái đầu tiên do Liên Xô vạch ra. Sau đấy chiến tranh liên miên xen với hoà bình, xây dựng, nó được điều chỉnh nhiều lần. Những ý đồ đưa Thủ đô lên Xuân Hoà, Xuân Mai (chữ “Xuân” nhiều thật), Vĩnh Yên. Những chọn lựa lấy đâu làm trung tâm. Bao nhiêu lần quyết định là bấy nhiêu công sức, toan tính, và nông dân mất thêm ít đất. Quy hoạch Thủ đô, cả quy hoạch từng vùng trong đó, đôi lần được đem ra báo cáo, lấy ý kiến. Và những đề đạt, trong đó có “cái” của kiến trúc sư Trần Thanh Vân lấy vùng giữa hồ Tây và sông Hồng làm “nhân” thành phố. Tóm lại là nhiều quá, khiến tâm lý “ta không có quy hoạch lâu dài” xuất hiện, rất bất an.
Thế giá trị của những quy hoạch ấy thế nào? Chỉ xin quay lại Bờ Hồ, “lẵng hoa giữa lòng thành phố”, không gian văn hoá - lịch sử mà ai tới Thủ đô cũng phải tìm cách đi bộ đủ một vòng. Nó đã đứng vững được “khoảng” trăm năm, từ khi người Pháp xây toà Thị chính xinh xắn, phố Hàng Khay chỉ lấp xấp hai ba tầng. Được bảo vệ bằng “luật” rằng các kiến trúc quanh đó không thể nhô cao hơn tầm 30 độ so với mặt nước, con hồ huyền thoại “tránh xa” được các kích thước cỡ Nhà thờ lớn. Duy nhất có Thuỷ Tạ lấn sang mặt nước được nhưng cũng khiêm nhường. Tình hình liên tục xấu đi từ khi khát vọng phồn vinh trỗi dậy. Sau đổi mới, ai có điều kiện - trước hết là tiền và quyền lực - đều muốn in dấu ấn lên khu vực huyền thoại này. Nhà bưu điện vuông vức, khối nặng chạy quá dài. Toà Thị chính mới in lên nền trời đường nét nghiêm khắc. Do là đôi công trình nhà nước, báo chí không thể làm gì. Nhưng họ đã ầm lên khi khách sạn Hà Nội vàng và ngôi “Hàm cá mập” thành hình, khiến cả hai phải cắt bớt kích cỡ, kiểu dáng đè nén định có. Thế rồi khi một cơ quan (lại là “ông” Nhà nước) định lên trụ sở đồ sộ “đè” hẳn “luật” 30 độ nói trên, các bên hữu trách như Thành phố, Bộ Xây dựng… đã “phối kết hợp” sửa quy hoạch khu vực Bờ Hồ để không ai nói gì được. “Sửa” mỗi chỗ đó, xong đóng lại không cơi nới thêm trường hợp nào nữa. Mới đây, Điện lực Việt Nam lại mở cuộc xâm lăng đè chết không gian huyền thoại bằng toà siêu thị phía đông, nhưng thất bại; may là báo chí lại được mở mồm.
Hồ Gươm, lẵng hoa giữa lòng thành phố, nếu không được bảo vệ bằng một sắc lệnh cỡ “Chiếu dời đô”, lúc nào cũng bị đặt dưới hoả lực của khát vọng hiện đại hoá.
Lạ, là trong bối cảnh ngặt nghèo ấy dân kiến trúc vẫn mơ màng một không gian còn tươi xanh, đậm tính lịch sử - văn hoá hơn cho Bờ Hồ. Lê Thị Kim Dung, mới đây là Hoàng Thúc Hào, đã giành giải thưởng quốc tế khi muốn có đường đi bộ, giảm bớt tiếng động, xe khói quanh hồ, làm cho nó thật gần gụi thiên nhiên. Tất nhiên đó chỉ là ý tưởng. Tin rằng ai đó thực hiện điều mình nghĩ ra, hoạ có là phát rồ. Kiến trúc sư cứ thi, giành giải để tỏ rằng “tôi cứ giữ quyền mơ mòng đấy”, hay vì cái gì?

Phía thượng tầng
Dăm sáu chục năm nay chiến tranh hoà bình thống nhất đất nước rồi đổi mới… vần vũ, tạo nên những thay đổi trong thành phố. Sau tiếp quản công nông binh lên ngôi, những cán bộ quân sự được cử ra ngoài nắm vị trí yết hầu. Người có của bạt đi Nam, nước ngoài, ai ở lại bị cải tạo nhà cửa rất chới với. Trí thức, nhiều người là con cái khoa bảng phong kiến cũ được tận dụng tuỳ hoàn cảnh, tuỳ mức độ “trầm trọng” trong lý lịch. Chiến tranh tạo dựng một trật tự nghiêm khắc cho sinh hoạt, bổ nhiệm, nói năng, ăn mặc…
Sang thời đổi mới, xã hội có chiều hướng dân sự hơn. Luật pháp được hô ủng. Thì cán bộ đoàn lên ngôi. Nhiều vị trí then chốt không “kinh qua” quá trình này thật khó bổ nhiệm. Phải nói là họ giỏi “hô” lên các phong trào, kiên nhẫn tiến thủ. Khi bằng cấp là một tiêu chuẩn trong nguồn cán bộ, họ lại chịu khó học. Chính trị, chuyên môn phải vững cả đôi chân, nên cấp phòng cấp sở trở lên đều hết bằng này đến bằng nọ. Nghĩa là cán bộ được trí thức hoá. Có cơ quan báo chí quy định ai cũng phải học, rồi chả ai đánh máy, sửa chính tả.
Song song với các thời, các trào lưu cán bộ, là làn sóng nhập cư vừa bền bỉ vừa vũ bão. Thành phố ngày Tết vắng vẻ vì cư dân về quê cả, được hưởng thú đi bộ thấy rất thanh bình. Quá rằm tháng giêng, lao động từ đơn giản đến cao cấp lại ập vào, giải quyết nhiều nhu cầu và cũng gây áp lực không ít. Hà Nội ngày thường dễ chín mười triệu dân. Không ít hơn đâu.
Sang thế kỷ này, Thủ đô mở rộng, đô thị hoá như vũ bão. Cỗ xe thô sơ phải chạy với tốc độ “Công thức I” cuống cuồng cuồng. Những tảng cấu trúc dân cư cũ rơi xuống. Những tập đồng hương đồng môn đồng nghiệp… mọc lên. Khái niệm “nhóm quyền lợi” ra đời và ngày càng hay được nhắc đến. Đấy là những “yếu tố tạo nên hoàn cảnh” phải tính đến khi xem xét phần thượng tầng của đô thị. “Xem” một phần thôi, và tất nhiên là cảm tính.
*
Về giáo dục, vùng cũ của Thủ đô cơ bản đã phổ cập trung học cơ sở, nhiều nơi xong cả trung học phổ thông. Hệ thống giáo dục thường xuyên, dạy nghề hình thành, vươn lên cao đẳng cả. Những giải thưởng quốc tế (quốc gia thì không tính rồi). Những cải tiến sách giáo khoa, bồi dưỡng giáo viên, tiêu chuẩn hoá học hàm học vị trong các đại học và viện nghiên cứu. Những trung tâm ngoại ngữ nhiều “như nấm sau mưa”. Các trường phân tầng thành đẳng cấp trên dưới, sự xếp sắp lành mạnh và cần thiết. Tóm lại là hình ảnh một xã hội học tập hình thành. Phải công nhận là thanh niên bây giờ nạp vào một lượng kiến thức, ngoại ngữ, cập nhật thông tin để tiếp cận thế giới hiện đại nhiều hơn so với thế hệ cách đây hai ba chục năm. Có thể điểm ra nhiều điểm tích cực nữa về dân trí.
Nhưng phát triển ở nhiều khía cạnh lại khó bề kiểm soát. Nhu cầu học lớn thật, mà ai cũng muốn con thoát kiếp làm thợ. Thế là hình thành cuộc chạy đua từ mẫu giáo: cho học ngoại ngữ, học chữ. Có trường tiểu học chỉ tuyển sinh đã qua mẫu giáo vì “đã biết đọc biết viết”. Trường trung học xịn quát giá nghìn đô (không thể công khai) mà cửa chạy đông nghìn nghịt. Học thêm, nhồi nhét kiểu “gạo”, thầy dậy trò chép rất phổ biến. “Tuổi thơ bị đánh cắp”, ai cũng gào lên như thế nhưng đố thoát khỏi cái guồng quay nghiêm khắc. Hệ thống dậy nghề kiểu cắt may, điện dân dụng chỉ hứng được con nhà nghèo hoặc con thằng giầu mà không bổ đầu nhét chữ được. Bởi ai cũng muốn làm thầy, thành kỹ sư, cử nhân bất kể sau đó ra làm việc trái ngành đào tạo, hệ thống đại học phình to như ung thư. Lấy đâu lắm giáo sư giỏi mà đào tạo lượng tốt nghiệp lớn thế, nên các “hệ” cấp thấp được đẻ ra, bên trên là “lớp tài năng”. Cái hình chóp giáo dục, mô hình phát triển lành mạnh ngày càng vĩ đại phía “thượng tầng”. Điều rất khó ngờ mà tồn tại trong một thời gian dài: điểm vào đại học Sư phạm - cỗ máy cái đào tạo kiến thức phổ thông, lại vào loại thấp, chìm lỉm trong những trường ngất ngưởng chữ “ngoại”. Sinh viên báo chí đến thực tập các toà soạn đôi khi nhận được lời khen “viết câu đủ thành phần nhỉ”.
Ở phía trên, bộ máy quan liêu có những tiêu chí mới, chẳng hạn phải tiến sĩ, phải đủ bấy nhiêu bằng chính trị, quản lý thì mới được bổ nhiệm. Thế là những ông “chăm học”, những ông đã thi là đỗ xuất hiện. Báo chí “giật” tít “Chạy quyền chạy chức: đầu tư siêu lợi nhuận”. Các thầy cũng khả kính một cách đáng ngờ, cho thấy giới trí thức tha hoá chả khó khăn gì. Đã đến lúc xem xét lại cái định đề “Dân tộc ta hiếu học” vằng vặc bất biến lâu nay, khi học là để tốt nghiệp, vừa học vừa kính thầy 20-11 chạy cô 8-3, tết lễ không thiếu dịp nào, và có tấm bằng là quăng hết sách vở. Một ông rành Hán Nôm bảo các cụ trên bia Văn Miếu không nhiều người có tên trong “Tác gia Việt Nam” lắm, tức là cử tử trường ốc nhai văn nhá chữ đỗ rồi ra làm quan thôi, quan đến giờ vẫn sướng chứ lỵ. Sướng mà lại sang.
Trí thức nhiều, bằng cấp lắm, năm nào thành phố cũng vinh danh thủ khoa trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Nhưng cái định nghĩa giản dị “Đại học là tự học” của cố Bộ trưởng Đại học Tạ Quang Bửu đúc kết hoá ra vẫn còn là xa lạ. Phải nhớ, phải thuộc, chệch đáp án, hỏi “mẹo” tẹo là không lần được. Dạy văn thì đếm ý ăn điểm, toán thì luyện đi luyện lại các dạng. Sự suy luận chủ quan dẫn đến các kết quả khác nhau, dù không hẳn thầy cô nào cũng phản đối nhưng không tồn tại được vì “không thể chấm điểm”. Lỗi kỹ thuật hay lỗi hệ thống, rằng ta là loại dân không thể sáng tạo?
Hẳn là không vừa lòng với cách dậy khuôn thước, bóp chết tư duy chủ quan nói trên, nhiều nhà có điều kiện cho con ra nước ngoài học. Họ gọi đó là “tị nạn giáo dục”. Nhiều “hiền tài” như thế không trở về nước, trong khi trong nước, các cơ quan Nhà nước có chính sách bổ nhiệm “hiền tài” - tức người có bằng tiến sĩ, báo hại trưởng phòng này, phó giám đốc nọ trở nên chăm học, theo đúng lời khuyên của Lê nin. Nhưng cái mác trí thức có khiến họ tạo lập một tư duy độc lập đâu, ý kiến riêng, phát hiện khác không, phản biện lại càng không. Phản biện phải có tư thế bình đẳng, trong bộ máy quan liêu tôn ty mới là thứ đáng quán triệt nhất, nên nó không tồn tại. Đâu như là “thủng” điều này, không ít thanh niên ra trường từ chối một vị trí trong cơ quan nhà nước, chọn làm ngoài. Làm thuê cho chủ tư cũng có cái khốn nạn nhưng đâu như lề luật trên dưới thẳng đuột, dễ lần ra hơn, xác định chấp nhận là xong. Chứ phận công chức, ngành khoa học chẳng hạn, viết cả đề tài vẫn phải sếp chủ biên; đến lúc anh công chức ấy lên sếp lại chủ biên một lúc dăm bẩy đề tài, địa hạt chuyên môn xa nhau mấy cũng “lãnh chỉ đạo” được. Nghĩa là anh thị dân trí thức ấy chưa thể cắt cái đuôi “tiên chỉ mâm bát nào cũng phải ngồi”, ngồi cho oách, biết thế, còn tham không chưa biết.
Trật tự công chức nảy ra những mối liên hệ để quan sát rất thú vị, làm đề tài lớn nhưng dường như chỉ để cho văn nghệ “thể hiện”, kiểu Sê - khốp đã làm. Đấy là tâm lý phe giáp, “hương đảng tiểu triều đình”, từ cấp phường đã phải đủ “mâm bát” cho “tiên chỉ”, càng lên càng sẵn, để mà trách nhiệm chịu chung tuy quyết định cuối cùng chỉ vài anh. Những trí khôn vặt vãnh, nông cạn của người quen nhìn không quá bờ ruộng của mình như là đang nhường chỗ cho “cái mới đương lên”: những “khối lợi quyền” cố kết chả ra hình thù nào, những chia cắt khó mà nhìn thấy, những lời lẽ, từ ngữ ai tin thời dại dột. Bên trong sơ mi cravát - một “mốt” đồng phục - là sự hãnh tiến, thói ham quyền lực, cái rên rỉ ken két, cái rất “hoành tráng lệ”. Nên đánh giá đây là “tàn tích” tiểu nông hay “biểu hiện” tiểu thị dân, chưa rõ. Nhưng có điều đang phổ biến dần: ngày càng nhiều thanh niên gốc đô thị không chấp nhận nó. Họ bỏ vào Nam làm ăn, nơi dịch vụ đắt nhưng sắt ra miếng, không có khoản “phát sinh” đâm lại rẻ hơn, không có kiểu nói “thôi tôi làm giúp anh thôi” sau khi đã thoả thuận giá cả. Hình như ở Nam Bộ, với cơ chế làng xã, đồng hương lỏng lẻo hơn, ý thức cá nhân phát triển khiến người ta sòng phẳng, ngửa bài hơn trong giao tiếp. Một chú binh nhất khi ra quân sẵn sàng làm những nghề đơn giản, đủ sống chứ không nhất thiết tìm mọi cách “thoát ly” để tiếp tục làm “người nhà nước”. Không ít người Bắc han rỉ trong bộ máy công chức, khi vào Nam lại thể hiện được mình, sáng trưng lên. Thủ đô, một mặt thu hút được tinh hoa Bắc Hà, Hoan Ái, bổ sung sức sáng tạo, mặt khác lại để mất những nguồn sáng như thế. Điều ấy dường như bổ sung cái đặc điểm dân cư nghĩ ra rất khó phấn khởi, là anh không sáng tạo được ở cái gốc của mình, để chỗ cho anh mới “múa”. Anh mới có yêu gốc mới bằng anh cũ? Hừng hực tham vọng, không hối tiếc những “kỉ niệm vớ vẩn không bốc mùi tư sản thì cũng phong kiến”, anh ta phả vào đời sống thành phố nhịp gấp gáp mà thiếu nhân văn, coi đó là “phát triển”.
Thành phố đông đúc, người đổ về ngày càng đông, cái tính chất “tứ xứ”, “bến bãi” khó mà tránh. Bên Pháp, thủ lĩnh đảng Mặt trận Dân tộc Le Pen, với sự ủng hộ của bà đào Brigide Bardot, ra sức bài trừ làn sóng nhập cư, thưởng tiền cho phụ nữ “thuần Gô – loa” đẻ nhiều, cho đội tuyển Pháp vô địch bóng đá thế giới năm 1998 với nhiều anh da mầu là “đáng xấu hổ”. Ta mà làm vậy khí không phải phép. Nhưng đã có những đối thoại kiểu sau: nghe A. than phiền thành phố quá hỗn tạp, B. bảo “Hà Nội là của riêng các anh à?” – “Thế căn nhà anh có thêm đàn đống cháu chắt từ quê ra được không? Cứ cho là các cháu ấy rất có tinh thần xây dựng đi, nhưng lồng tất chiếc nọ sọ vào chiếc kia, khăn lau nhà cứ lấy chùi bàn anh có phải chỉ bảo không? Và chỉ bảo được, thì trong căn nhà của mình anh có được xử thoải mái không? Tự do trên hết. Tôi là tôi cứ ích kỷ vậy đấy…”. Đô thị, một phần nào đấy giống căn nhà, dung nạp bốn phương quá sẽ xáo động, nháo nhào. Một gia đình đa phong cách quá thành vô chủ. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng từng “tổng kết” định đề nổi tiếng “Hội tụ - kết tinh – lan toả” về sự chan hoà giữa Hà Nội và tứ xứ. Nhưng lại có chiều ngược lại, tứ xứ đổ về “Thích nghi - ổn định - chế ngự, khai thác” thành phố. Vậy là nảy ra cái xu hướng tự phát thật khó kiểm soát. Đấy là đặc điểm cần được nhìn thấy, chấp nhận, như ta đang quen dần với những tắc tỵ trên đường.
Nhìn ra ngoài, các thủ đô Bắc Kinh, Wasington có quy mô chả thấm là gì so với Thượng Hải, New York. Cái họ cần giữ là các đặc trưng, không phải chỉ kiến trúc mà còn cả cấu trúc, tính cách dân cư. Hình như Hà Nội cũng có người quan tâm đến điều này. Nhưng mới đây, một dự thảo “quy chế nhập cư” khi đưa ra bàn để thông qua đã phải bỏ phần định rằng người tới thành phố phải có một trình độ lao động nhất định thông qua sự chứng nhận nào đấy. Có nghĩa là tình trạng đông nhưng không tinh còn là câu chuyện rất dài, càng ngày càng dài.

Trần Chiến K3

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 2

Thị dân, anh là ai?

Chốn quần cư.
Nhắc đến tính cách Thăng Long - Hà Nội, người ta thường dẫn câu của Nguyễn Công Trứ “chẳng thơm cũng thể hoa lài / Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Nhưng ở Tràng An, chỉ cái chốn đô hội của chúng ta, chả phải ai cũng thanh lịch, và chả phải đâu đâu cũng là “đô hội”. Là bởi vì cái tính chất quần cư của thành phố. Đấy là cái nơi ai cũng đến được, đến thì ở lại được. Nhiều người về hưu về Hà Nội. Trẻ đánh giầy, mỗi kỳ tết lễ “bỏ” lên xe, cấp quần áo trở về quê, ít lâu lại xuất hiện ở phố. Cuộc sống xa nhà đầy bất trắc, tai nạn, bệnh tật, hiểm nguy rình rập, chừng như đối với những “Ga - vơ - rốt đến từ Thanh Hoá” vẫn cứ hấp dẫn hơn. Nên chi “tôi thị dân, anh thị dân, chúng nó cũng thị dân”. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng, khi đưa ra cái “lô gô” nổi tiếng “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, cũng đồng thời xác định cái tính chất quần cư của thành phố. Ông bảo thật khó định nghĩa thế nào là người Hà Nội, nhưng cái tính chất cá biệt, chỉ riêng nó có thì tồn tại, tồn tại một cách bất diệt qua đằng đẵng những cay nghiệt của lịch sử.
Hà Nội hình thành từ một bến nước ven sông, chắc thế. Từ những căn quán bán nước chè, kẹo bột cho dân đợi đò, khu chợ hiện lên, trao đổi những tre luồng, gạo mắm. Rồi quan binh kéo về, thành trì mọc ra, có khu cho vua và vợ con, khu của lính tráng. Quanh thành là vành đai thị, với những làng nghề đặc trưng, sau trở thành những phố hàng (Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bông...). Sang thế kỷ XIX, khu phố Tây mọc lên với biệt thự, thư viện, bệnh viện..., nhà gạch có thể tồn tại cả trăm năm thay thế nhà tranh tre “cháy một cái đi vèo cả khu phố được”. Trải cả nghìn năm qua, Thăng Long - Hà Nội bao phen không được “phi chiến địa”, lúc Chiêm Thành ra, Nguyên Mông Minh Thanh xuống, nhưng cái tính chất là bến đỗ cho những đời người bốn phương thì không bao giờ thay đổi. Và lạ chưa, từ cái chỗ tấp lại, chả phải quê hương ấy, có những bông hoa vụt lớn lên, lấp lánh bền bỉ qua năm tháng đoạn trường. Nguyễn Du quê mãi Hà Tĩnh, nhưng nếu không đẻ ở kinh kỳ, chạy loạn muôn nơi ăn lộc hai triều, làm sao để lại được gương mặt buồn thảm cho đời. Giải nguyên Nguyễn Công Trứ nếu cứ ở Nghi Xuân thì có thể “giương” cái phong cách ngất ngưởng lên? Họ là người tài, đến đây được nhào nặn thì mới thành tinh hoa được. Nói thế lại có thể hình dung tiếp: cũng có bao ông tài hoa hơn Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ nhưng cứ ngâm vịnh sau luỹ tre làng mãi rồi đâm ra gàn dở lụn bại. Cái hồn vía, linh khí, tinh chất gớm ghê của Thăng Long - Hà Nội là ở chỗ này.
Kinh tế đô thị phát triển tạo ra thị dân, và họ tác động trở lại cái “nặn” ra họ. Ngoài nông, Thăng Long có cả sĩ, công, thương, những kẻ làm dịch vụ như¬ kỹ nữ, gánh thuê, thợ nấu ăn... Đô thị phát triển mạnh có lẽ từ thời Trần. Từ “nhà Nho trần xì”, tầng lớp nhà Nho tài tử “ra mắt”, khá gần có Phạm Đình Hổ, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, rồi hình như chấm dứt ở Nguyễn Tuân. Thị dân cần tiền nhưng không quá coi trọng nó đến mức chôn xuống đất hay làm nhà ngói cây mít như nông dân. Họ có quan niệm chất lượng cuộc sống khác, kiểu như tiêu tiền cho sướng ngũ quan, hình thành nhu cầu chân thiện mỹ. Đi hát (một nhà nghiên cứu nhận xét ca trù, nhất là hát nói, là đặc sản của thành thị), đánh cờ, phóng bút cho sang trọng, dần dần một nền văn hoá quý tộc hình thành với kiểu sống vừa phóng khoáng lại tinh tế. Tất nhiên, mỗi khi có chiến tranh hay thay đổi triều chính, dòng chảy đó lại bị đứt để rồi nối lại khi thời thế ổn định.
Trở lại thời bây giờ: Ai là người Hà Nội? Người đã đến đây từ 30 năm, hay phải từ năm bẩy đời rồi? Mươi năm nay vô số “người tỉnh” đến, đẻ con, đưa bố mẹ ra. Nhiều người “khẩu” một nơi mà “nhân” thì chắc chắn chung thân Thủ đô rồi. Muốn tìm người ở lâu nhất hoá phải ra ven đô, ngoại thành, nơi còn đình làng, nhà thờ họ, bằng khoán điền thổ. Và chính ở đây cũng lại gặp những bất ngờ khác, ví như ông Tổ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là tù binh Chiêm Thành. Thành phố không “thuần chủng”, đa tập người, vì thế thật khó xác định một tính cách cho dân của mình, và do đó, những giá trị, tính chất lâu bền cho mình, để mà rồi có thể dự liệu những ý tưởng, giấc mơ xa xôi khác. Và nên chăng dùng tới cái khái niệm “những người sống ở Hà Nội”?
Hình như đây cũng là một đặc điểm của nhiều nơi trong đất nước thời kỳ này. Xem truyền hình phỏng vấn nhiều người ở TP HCM, toàn thấy giọng Bắc. Tây Nguyên xa xôi, theo một con số trên tạp chí Ngok Linh, bên cạnh 1 triệu người bản địa là 3 triệu dân từ nơi khác đến; thiệt hại cho văn hoá rừng vô cùng.

Ai là thị dân?
Nhiều năm qua, chúng ta có rất nhiều chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng một cốt cách Hà Nội trên cơ sở văn hoá, đạo đức phù hợp với lối sống hiện đại. Những cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá mới, nếp sống mới. Những chiến dịch giáo dục, thuyết phục trên báo đài, ở đơn vị cơ sở... Tất cả đã góp phần tạo nên một diện mạo tích cực cho Thủ đô. Nhưng cuộc sống lại vẫn đặt ra những vấn đề khác...
Ví như hồi đất nước mới thống nhất, nhiều người vào Sài Gòn ở khách sạn, đã ngạc nhiên vì một lời khuyên đơn giản: “Người thành phố nên đóng cửa ra vào”. Những nhận xét khác: người ở trỏng làm các nghề “phục vụ” rất chuyên nghiệp; lái xe không chen lời sếp, bán hàng mềm mỏng. Họ bằng lòng với công việc của mình, còn cộng đồng tôn trọng nghề của họ. Đây là một đặc điểm của đô thị, con người phân tầng, mỗi anh mỗi kĩ năng rõ rệt, không ai làm thay ai được. Tuy có lịch sử ngắn ngủi nhưng TP Hồ Chí Minh có tính chất đô thị nhiều hơn Hà Nội? Nói thế không phải không có lý. Hơn nửa thế kỷ là thuộc địa Pháp, mấy chục năm dưới ảnh hưởng Mỹ đã làm Sài Gòn gần với xã hội Âu Tây hơn. “Văn Bắc - thơ Trung - báo Nam”, chả phải là nhiều nhà báo gốc Bắc vào Nam đã “quậy” tưng bừng trong môi trường ít nhiều có ảnh hưởng của tự do báo chí đó sao?
Cách mạng nổ ra. Luôn năm chiến tranh. Những thay đổi về chính trị, xã hội, kéo theo “nhân sự lãnh đạo”... Rất nhiều yếu tố khiến cấu trúc dân cư thành phố hoán đổi, bổ sung, di dời, không bao giờ ổn định. Hai quá trình thành thị hoá nông thôn và nông thôn hoá thành thị dù ngược chiều mà đều “chảy” mạnh mẽ. Ví như anh bộ đội “bốn túi chân chì” từ Thanh Hoá ra sau ‘54 vào làm rể gia đình “tạch tạch sè”, con đẻ ra đặc “mùi” thị dân lại là nhân viên ông thủ trưởng vận complet ngậm tăm. Trong mỗi cơ quan, gia tộc, phường phố đều có sự xen kẽ, giao lưu, tranh đấu và chấp nhận nhau.
Một đặc điểm của lối sống nông thôn là chế độ gia trưởng. Một con người tồn tại trước hết thuộc về cộng đồng, làm con ông ấy bà nọ họ kia người làng nớ. Ông trưởng tộc cưu mang cháu chắt hết nhẽ, xẻ cả cửa nhà ra, là một đặc tính tốt, chứ gì? Nhưng đố đứa nào lấy vợ sai ý ông, muốn mở lối đi riêng trong khu vườn (thênh thang) để đi về, tự do đón bạn bè là không thể. Tương thân tương ái đấy, nhưng cũng thật khe khắt. Nó khiến cho sau này, lúc ra tỉnh làm nghề truyền thống, một kẻ hậu sinh muốn sáng tạo thật khó. Chả phải bỗng dưng mà một học giả Pháp nhận xét “sự hình thành trên cơ sở các làng nghề làm chậm quá trình đô thị hoá của Hà Nội”.
“Người tỉnh” lại khác. Anh thị dân tồn tại trước hết với tư cách cá thể độc lập, chịu trách nhiệm về sự lựa chọn, những hành động của mình trong khuôn khổ pháp luật. Và tất nhiên, cả những thể chế đô thị. Mình làm mình chịu, có thể không biết hàng xóm, họ mạc, anh ta chơi với người tận cuối tỉnh. Có gan ăn cắp, làm giầu, học hỏi, sáng tạo, anh ta phải có gan chịu đòn, vào tù, phá sản hay tận hưởng thành công. “Đèn nhà nào rạng nhà nấy”, “anh em kiến giả nhất phận”, anh ta thật khó trách móc người thân đã không can ngăn mình khi sa ngã, cũng không dễ chia sẻ khi hưởng lộc, vì sinh hoạt, ý thức hệ, cá tính đều rành rẽ cả. “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, câu ấy là của Xuân Diệu nói về đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Nhưng nói vui ra, vơ vào theo cách điêu xằng, cũng có thể cho đó là tâm thế tồn tại của thị dân. Trong môi trường mình được là mình, sự sáng tạo, dấn thân, năng động đều dễ dàng, không bị níu kéo, chả phải nhìn ngang liếc ngửa sợ ảnh hưởng đến muôn ngàn mối quan hệ “như ở quê”.
Như trên đã nói, vì liên tục nhập cư, Hà Nội luôn tồn tại những tập người trong lòng. Dân đã ở dăm bẩy đời dễ chấp nhận, tránh va chạm đến chịu đựng, thích làm chuyên môn, văn nghệ, hay “nhường” vị trí thủ lĩnh cho “người mới”. Phải trải quá nhiều biến động thời thế, kém thích nghi với chúng (do đã có cuộc sống ổn định), họ cũng “lười lĩnh”, “yếm thế”, ít tham vọng hơn hẳn, trong khi “người từ quê ra” tính cách mạnh, luôn có xu hướng tiếp tục chiếm lĩnh đỉnh cao. Đất học cung cấp cho kinh kỳ người tài, do sàng lọc tự nhiên mà họ lại “tụ” về một chỗ. Ví như vì đông người Nghệ mà tạp chí Văn nghệ Quân đội được “đặt” là “Văn đội quân Nghệ”, Viện Văn học thành “Viện Văn Nghệ”. Còn trong đội ngũ giảng viên đại học thì khỏi nói. “Hà Nội một triệu Nghệ nhân”, như ông nghị Nguyễn Lân Dũng phát biểu, nên chi đội bóng đá Sông Lam ra thi đấu như ở sân nhà. Người xa quê cũng hay kéo cả họ hàng, người làng ra làm “phên giậu” cho chắc chắn. “Một người làm quan cả họ được nhờ”, biến tướng của câu ấy từ cơ quan, công ty lan ra cả nước ngoài (Nga chẳng hạn), nơi những “soái” cùng “tướng” đều đồng hương trong một doanh nghiệp lẫy lừng. Dù sao, vì lợi ích chung, họ không thể co cụm, kỳ thị hoàn toàn, mà vẫn dùng người tài, chuyên gia, nhưng không ở vị trí quyết định.
Có một quan sát khác khá là “có tính chất xã hội học”: nhiều người ở chung cư sang trọng, vài ba ô sin, ô tô bim bim rồi, vẫn mong có tý đất; ấy là cái đuôi của tâm lý nông dân, không có đất tức vẫn không có gì cả.
Tiểu thị dân lại là một hình ảnh khác. Tủn mủn, dựa cậy, sột soạt sau lỗ khoá, cánh cửa văn phòng, công sở những lời sau lưng, lối a dua, dò xét, nhưng trước mặt lại rất “sĩ”. Thủ trưởng muốn nghe lời nói thẳng không dễ, và nghe được lại rất khó dễ chịu. Đồng sự nhún nhường nhau trước mặt nhưng thị phi, bất hợp tác trong công việc. Người có chút quyền hành thực thi công vụ như ban ơn, còn người đề xuất, dù hợp lý đủ đường, vẫn là kẻ đi nhờ cậy. Những quan hệ dích dắc, có khi phí tổn chả bao nhiêu nhưng đấu trí để giải quyết thì quá mệt, là một nguyên nhân làm nản lòng nhà đầu tư nghiêm túc, những ý tưởng nghiêm túc. Chập chờn tấm lưới rất vô hình, những khuôn thước chẳng thể ngờ trước con người trẻ tuổi được dạy dỗ tính độc lập, có mơ ước hào sảng. Và ai có thể “phê bình” nhau, coi là “vi phạm”, là “khuyết điểm” trước những “tính cách” như thế nhỉ?

Xác định tính chất thị dân
Vì sao ai ai cũng muốn về Hà Nội, chúng tôi sẽ bàn đến trong một bài sau. Nhưng có một điều chắc chắn là làn sóng nhập cư hàng chục năm nay không có ai kiểm soát, đặt vấn đề hạn chế hay chọn lọc. Làn sóng ấy tạo điều kiện cho người tỉnh ngoài, đa tài năng, tinh hoa cũng như cặn bã về thành phố. Bổ sung nhân lực (“thô” thì anh xe ôm, chị “ô sin”, “tinh” thì ông giảng viên đại học, nhà nghiên cứu), nó lại gây sức ép cho thành phố: thiếu trường học, bệnh viện, điện nước, nhà ở, giao thông, vệ sinh... Thử tưởng tượng trong nhà mình có thêm vài người lạ, ai cũng có hoàn cảnh buộc phải xa quê, rồi đặt vào đô thị mà xem, sẽ rất khó để quyết định buông trôi hay là hạn chế. “Nhân đạo” với tập người này thành ra lại “vô nhân đạo” với tập người kia. Hy vọng là bài toán luẩn quẩn này, đã đặt ra bao nhiêu năm, sẽ phần nào giải được khi vùng Thủ đô hình thành, những đại học, cơ quan, khu công nghiệp... được đẩy ra Hà Tây, Lương Sơn. Hy vọng là thế...
Với những đặc tính dân cư kể trên, có thể thấy đặc tính đô thị của Hà Nội còn mỏng hơn Sài Gòn, nơi mới chỉ thành đơn vị “trấn” hơn 300 năm. Nhưng dầu “người tỉnh” về nhiều thế nào, quá trình thị dân hoá cũng vẫn diễn ra ngày một nhanh hơn. Trong gia đình trung lưu có nhiều buồng riêng, bố mẹ không tự do vào buồng con. “Tôi tự hào về bố mình, nhưng trước hết tôi là tôi, với những cái hay dở riêng. Trước người lạ, khi “bị” giới thiệu thân thế ra, người ta chỉ nói chuyện với “con bố tôi” chứ không phải với “tôi”, nó không giản dị, nhiều khi gượng gạo...”, con một cán bộ lão thành bộc bạch. Đẻ ít, có điều kiện kinh tế, những cặp vợ chồng trẻ đều muốn tách khỏi gia đình lớn: “Sống tam tứ đại đồng đường rất gò bó. Mình khá hơn ông anh, muốn ăn ngon chơi khoẻ thì ngại, mà giúp đỡ nhau luôn cũng thế nào... Báo chí hay nêu gương những nhà nhiều tiểu gia đình hoà thuận, chỉ là vì họ không có điều kiện tách ra thôi”. Còn trong xã hội, vai trò chuyên gia, người có hiểu biết trong một chuyên môn sâu ngày càng quan trọng. Đã chả có người rỉ hoen trong cơ quan nọ, khi rời khỏi biên chế thời được trọng dụng ngay ra đấy ¬... Trong những ngôi nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều, mỗi căn hộ là một thế giới khép kín, những người cùng tầng có con hằng chơi với nhau, gặp nhau trong thang máy đều chỉ ừ ào chiếu lệ. Nhân viên nhiều doanh nghiệp có lệ ăn trưa chung nhưng tiền trả riêng, thuốc lá không mời nhau nhưng xin thì cho. Các cụ văn nghệ cao niên uống bia quán Halida ở Lý Thường Kiệt lập nhóm KAMA, nghĩa là “Không Ai (phải) Mời Ai”. Và rồi đến lượt cỗ cưới, những bà chu đáo lo gắp cho người khác (đa phần không quen biết) lại trở thành nỗi kinh hoàng cho cả mâm. Nhà văn Hồ Anh Thái coi “động thái” gắp ấy là sự cưỡng đoạt quyền tự chọn lựa của người khác.
Nhưng sự giải phóng cá nhân giúp cho người này được độc lập, lại mang tới nỗi cô đơn cho người khác. Nhiều bố mẹ phát phiền vì con cố thủ trong buồng với máy tính và tivi riêng, chỉ có mặt bữa cơm. Ông bà muốn “tạt” sang chơi với cháu không gọi điện trước không được. Tức là sự độc lập cũng nên có chừng mực. Cứ thử đến những nhà nhiều tầng mạn Trung Hoà - Nhân Chính mà xem, có những bà cụ ở quê ra, con lo cho chả thiếu thứ gì nhưng suốt ngày ngồi bậu cửa ngóng người bắt chuyện, chả được như đám “ô sin” cứ bế trẻ xuống sân chung, gặp nhau là tha hồ “buôn”.
Có nghĩa là cộng đồng, “bầy đàn” hay cá thể cực đoan quá, đều có chỗ phát phiền!

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 1





Hà Nội có nhiều gương mặt, nhìn từ những góc độ khác nhau thì chả “cái” nào giống “cái” nào. Đành chọn một góc mà ngắm nghía nó theo chủ quan mình vậy…


Bài 1
Nẻo xưa đâu tá…

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ
Nhà thơ Vũ Đình Liên, khi làm mấy câu trên, chưa chắc nghĩ mình đã “đóng đinh” khép lại một giai đoạn văn hoá. Chữ Nho lụi, hồn xưa tản mát, mỗi xuân mới lại thấy “chợ ông đồ” họp một lần ở chân tường Văn Miếu. Khi mấy ông hoạ sĩ vẽ chữ thành tranh bảo đấy là thư pháp, có người reo lên truyền thống đang trở lại. Thực thế không?
Tôi có người bạn làm ở một cơ quan nghiên cứu quá khứ. Yêu nghiệp, kính trọng cái cổ xưa, cả chục năm sau khi ra trường, anh hầu điếu các giáo sư, chúi mũi vào đám thư tịch cổ. Quãng bốn chục thì lấy vợ, và thốt ra: “Thư viện quốc gia xếp tôi vào loại bạn đọc lỳ lợm nhất, nhưng giờ thấy nó chả đến đâu. Viện tôi ít việc, cán bộ nghiên cứu làm thợ nề, viết luận văn thuê, nghĩa là đời không cần mình...”. Những lời nghe thật cám cảnh! Có vẻ như một “mầm non trí thức” sẽ lụi tàn.
Rồi mới đây gặp lại, thấy anh trẻ trung, hiện đại hẳn. Làm không hết việc, bình thường dậy chữ Nho ở nhà, thỉnh thoảng đi xa dựng phả cho dòng họ, dịch văn bia, có khi tát ao để lôi tượng đá, bia đá ném xuống hồi chống mê tín dị đoan lên, còn mò được cả hoa cái cụ nghĩa quân Cần Vương đánh Tây bị nó chặt đầu thời cách nay trăm năm. Viện anh ngoài buổi họp chung vắng vẻ, ai cũng bận “giúp” các nơi viết sử địa phương. Những ông trước nay kiếm tiền kiểu “năng động” giờ mới tiếc mình không dùi mài vốn cổ, học chữ người xưa, nay chả ma nào mời. Mà tỉnh, huyện giờ người ta ưa làm địa chí, khoa học, phong phú hơn, chứ hệ thống lịch sử Đảng bộ từ cấp xã trở lên đã làm xong cả rồi, và cũng eo hẹp, không kham nổi nhu cầu dân trí cũng như quan trí. Anh hồ hởi khoe với tôi những bản rập văn bia, bản chụp sắc phong, phả hệ. Lớp Hán Nôm của anh đông sư sãi sắp nhập học viện, vài anh “số” ăn lộc Thánh, tức sẽ xung vào “nghiệp” cúng bái. Lại một đại tá chỉ cần qua Tam Tự Kinh để đọc được lịch sử họ mình, một ông thời cải cách ruộng đất quy tội địa chủ hăng quá, nay muốn vớt vát lại cái “cục” mình đã “quăng” vào quá khứ. Đọc tạp chí Xưa & Nay, họ ầm ầm thảo luận sao nhà Nguyễn được ghi nhiều công sức thế, những Phan Thanh Giản, Mạc Thiên Tích té ra là thế này thế nọ, mà sao đánh giá trong sách giáo khoa vẫn chả động gì nhỉ...
Thành phố, và phải suy rộng ra cho cả vùng xung quanh, trong “đà” hội nhập vào hiện đại hoá, công nghiệp hoá, có một dòng chảy theo hướng truyền thống. Âm thầm, phải len lách, có khi tự xác định tiêu chí, nó thật bền bỉ, chỉ ngun ngún như nén nhang cháy trong đêm. Những ông già tìm về quá khứ để giữ nếp nhà nếp làng, răn dậy con cháu. Những trí thức dăm ba ngoại ngữ chán nản vì đi đình chùa vãn cảnh không đọc được chữ cha ông. Thậm chí, những anh trẻ trai chỉ cần vũ trang vài chữ “phúc lộc thọ khang ninh” với “tâm”, “nhẫn” để kiếm tiền thập phương kì lễ hội. Cái dòng chảy ấy không ồ ạt reo vang, người “bơi” bên trong rất cô đơn, có khi còn tự giấu mình đi, mà nhanh nhách dai, mà gặp tri kỷ thì sướng phát rồ. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp dựng tượng Phật trong nhà. Hoạ sĩ Quách Đông Phương được tĩnh tâm trong “chùa” tại gia giữa phố. Hoạ sĩ Thành Chương gọi chốn bồng lai của mình là “phủ”. Dân văn nghệ, hướng về Chân – Thiện – Mỹ, làm vậy cũng dễ hiểu. Nhưng còn bao người thường, những cựu cán bộ phụ nữ xung vào đội tế nữ quan, lễ hội nào cũng có mặt, những quan chức mở miệng vô thần nhưng tìm cách vứt vàng vào yểm tâm ngôi tượng đang đúc..., họ có những căn gì, duyên gì? “Thế giới quan” của họ là duy vật hay “lấp lánh tâm linh”?
Nhu cầu về cội, tìm lại di sản trong quá khứ có những nguyên do thật phong phú. Trước tiên, chả phải Nho giáo là con số không tròn trĩnh, nếu không thì cả nghìn năm nay, cứ kể từ ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh đi, các cụ đã không tôn đây là Đạo Thánh Hiền. Lời người xưa chí lý, đọc như được “sang ngang” cái tâm hồn, những quan niệm nhân văn, đạo đức nuốt đi, cuốn mình đi. Đã có một thời Nho giáo bị đồng nhất với khái niệm phong kiến để phải bài trừ, chôn chặt. Nhưng các triều phong kiến có tinh thần dân tộc đã dùng nó như một công cụ để tề gia trị quốc yên dân đấy chứ. Các bậc Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông không có chữ, có Đạo, làm sao vĩ đại được vậy! Thời nào cũng phải có lý tưởng. Lý tưởng, đơn giản đi, như một thứ thần tượng, để thiên hạ hoà vào một mối mà noi theo. Cụ thái thú Sĩ Nhiếp từ phương Bắc sang cai trị, thương dân Giao Châu dạy cho chữ Thánh Hiền, nên được tôn là “Nam Giao Học Tổ”. Nho Giáo dần chiếm chỗ của Phật Giáo là vì bên cạnh phần cao cả của tâm hồn, khái niệm “quân tử”, còn có sức mạnh thế tục rất lớn, rất thực tế.
Rồi Nho tàn, gắn với thay đổi về chính trị. Quốc ngữ mà Alexandre de Rhode mang lại đẩy văn hoá ta đến gần với thế giới hiện đại, nền khoa học, công nghiệp tiên tiến, nhưng lại gián tiếp là nhát kiếm chí mạng chém vào sự liên hệ với quá khứ. Trường thi kiểu cũ bỏ hẳn, chữ Nho không còn tác dụng, bị quên dần, gần như quên hẳn. Nhưng rồi cũng đến cái lúc những thần tượng xã hội hằng noi theo mỗi ngày mỗi héo đi, rơi rụng, thì vì chưa có cái mới “lắp” vào, hoặc đã có nhưng nó không thuyết phục, người ta lại có nhu cầu tìm về cái cũ. Người đô thị, nhất là trí thức, vãn cảnh đình chùa, đứng trước tấm bia ghi sự tích cái nơi mình đang ở mà tựa trước bức vách, hẳn phải tức tối chứ. Càng tức tối khi đấy là “nguyên khí” mà các cụ mình hằng tựa vào cả nghìn năm. Và voi đá ngựa đá bát bửu cửa võng sẽ có hồn vía hơn khi người ta am hiểu cái không gian xung quanh, dính dáng đến nhân vật được thờ cúng. Có chuyện thật như đùa ở lễ hội nọ: tín chủ đọc danh sách toàn gia cho thầy viết sớ, xong bảo đọc lại xem có chính xác không, thì thầy… chịu, nghĩa là trứơc đó toàn múa bút lăng nhăng.
Dù sao, sự trở về cần thiết trên cũng chỉ để ghi lại những dấu ấn trong quá khứ, để cho khỏi đứt mạch mà thôi. Biết thì khỏi quên, biết để còn mang ơn, tránh cho hiện tại khỏi những chuyện chẳng may, sống khỏi bạc ác, chứ bước vào một xã hội đô thị thì không thể phục cổ hoàn toàn. Lớp Hán Nôm thời nay uyên bác đến mấy không thể tư duy bằng Hán văn nữa. Và một người nghĩ ngợi nói năng giống hệt các cụ cách giờ trăm năm ắt bị đám Tây học Nga học Mỹ học nhạo cợt. Nghĩa là sự trở về ấy đến đâu, như thế nào cần rất được chọn lọc. Chẳng hạn tinh thần “tham nhũng là sỉ nhục” của Nho giáo rất cần thiết, nhưng hạn chế sự độc lập của con người ta lại đã là hạn chế, trói buộc rồi...

Trần Chiến