Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyen ngan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyen ngan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

Hai Đức Chúa Ông

Truyện ngắn của Trần Chiến
Ông cả Ngộ biết rằng mình phải đến nhà trưởng Thìn hôm nay, ngay sáng nay. Mai kia ra thì cứt trâu đã hoá bùn rồi. Nhưng cái việc phải giáp mặt này nó bắt nhớ quá nhiều điều ông muốn quên. Lâu nay, ông hằng tính nát nước đến sự liên minh này. Hôm qua, thao thức cả đêm, để rồi sáng nay phải châm ấm chè, xem nên nói điều gì, nên bỏ câu gì. Đúng là ông phải chủ động sang bên ấy, vì trưởng Thìn có lý do để hận ông hơn.
Họ Chu, do cả Ngộ đứng đầu, năm mươi năm nay hiềm khích với họ Nguyễn của trưởng Thìn. Thời đế quốc họ Nguyễn phát đùng đùng, thay nhau làm hào lý, việc làng toàn ngồi mâm tiên chỉ. Tráng đinh họ Nguyễn nhiều người được học hành, nói tiếng Tây làu làu, lang bạt sang làm ăn tận Pháp, Mỹ. Trưởng Thìn hồi chín năm làm lý trưởng. Đứng ở cửa đình, lão thẳng tay nện trống thúc sưu, cứ ngũ liên cả buổi như hộ đê, cả làng mặt xanh như đít nhái. Đến khi Thìn cùng trương tuần tay thước vào nhà ai - cố nhiên, kể cả họ Nguyễn – thì nhà ấy tha hồ chắp tay “con cắn rơm cắn cỏ…”. Được cái là lão cũng nương tay, chẳng bắt ai ra giữa đình khảo hèo.
Đến năm năm ba, mọi bề đổi hẳn. Địa phương quân về đánh bốt Vân Ổ, dẹp hết hội tề. Đội bắt rễ ở nhà cố Lương, định tỷ lệ địa chủ trong làng là năm phần trăm, dĩ nhiên họ Nguyễn đa tiên chỉ lĩnh nhiều suất nhất. Con cái đang đi học trường kháng chiến bị đuổi về. Trưởng Thìn phải mặt bôi gio trát trấu, quỳ giữa đình cho bần cố nông kể hết chuyện cho vay đòi trả lãi đến đoạn “con gà nhà tao lạc sang vườn nhà mày không thấy về”.
Lệ là thế. Vít cành tre thì nó quật trả vào mặt. Con trai cố Lương là Chu Văn Ngộ vào thanh niên, nông hội, dần dần tham chính trong làng. Qua mấy lớp học về xâu chuỗi, bắt rễ, qua bình dân học vụ i tờ ít, anh đứng trong đội ngũ, trở thành chủ chốt ở xã. Lại hô hào dân công đắp đê, làm nghĩa vụ lương thực cho nhà nước tích luỹ vốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, nay mai máy cày sẽ chạy trên đồng thẳng cánh cò bay như nông trang bên Liên Xô. Lại kêu gọi thanh niên đi bê đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam. Rồi chống mê tín, bỏ tượng trôi sông Lồ Ồ. Rồi cưa hoành phi câu đối đem về thưng vách chuồng trâu, bụt ngồi trên đình chùa cứ nhấp nhổm như lửa cháy dưới đít. Những ngày hoạt động sôi nổi ấy, thanh niên họ Chu có điều kiện thoát ly, ra công trường xưởng máy làm, hoặc về thủ đô học nên bác sĩ, kỹ sư. Đám con cái họ Nguyễn, ngược lại, nem nép một bề, học hết lớp bảy đừng hòng tính chuyện lên cấp ba. Em ruột trưởng Thìn phải gửi sang huyện bên học, nức tiếng cả tỉnh vì được đi thi toàn quốc. Có giấy ở trung ương tư về cho đi đại học Bách khoa ở Hà Nội, chính quyền xã ỉm đi, mấy tháng sau mới đưa ra thì đã quá kỳ chiêu sinh. Nhưng mà quyết vượt vũ môn, cả họ Nguyễn góp tiền đem cậu ta lên trường tỉnh học lại, thi lại, đón lõng giấy gọi đại học từ trung ương về. Từ đấy, con cái hai họ gặp nhau chan chát ở Hà Nội, cộng tác làm việc với nhau, chẳng biết có nhớ đến hiềm thù nội tộc…
Sang những năm tám mươi, cả Ngộ về hưu, sang làm chủ tịch mặt trận Tổ quốc. Sinh hoạt ở tổ phụ lão với trưởng Thìn, ông giáp mặt hàng ngày, song tuyệt nhiên nhạt nhẽo, giao đãi gọi là. Hai họ bây giờ phương trưởng bằng nhau, cùng có giáo sư, tiến sĩ làm việc ở thủ đô, lũ thanh niên nam nữ ve nhau, lập gia đình tán loạn. Chiến tranh rồi hoà bình. Lại chiến tranh, lại hoà bình, bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi, còn sống mấy nỗi mà làm mặt lành mặt giận mãi. Vẫn biết thế, mà hai lão trưởng tộc không thể đến với nhau.
Cho đến những việc mới đây xẩy ra ở đền Úc Phụ, bà Lành được tụi lãnh đạo nhiệm kỳ mới của xã o bế định làm những việc quá thể đáng, thì hai họ đều không chịu nổi. Mẹ nó chứ, cái con mụ họ Ngô ấy tưởng được ô dù che đỡ thì giẫm đít bụt à? Nhưng mình mình – dù là chủ tịch mặt trận Tổ quốc - đứng ra cản nó thì cũng khó. Phải tìm. Cái khó là chẳng biết trông cậy vào ai ngoài lão đầu họ Nguyễn.
Ấm chè mộc đã nhạt thếch, nắng ngoài ngọn tre dạt vào góc sân, ông cả Ngộ vẫn ngồi im phắc, mặt như táo bón. Anh con trưởng đi thăm đồng về, gặng: “Sao bảo bố sang ông trưởng Thìn cơ mà?”.
- Thế lúc nẫy anh bảo tao sang có việc, lão ấy bảo sao?
- Ông ấy bảo mời ông sang. Thôi, ông sang đi. Việc trọng, các cụ phải ngồi với nhau chứ.
- Lão ấy cũng bảo việc trọng à?
- Không bảo. Nhưng con biết. Việc các cụ quan tâm giống nhau cả.
*

- Chào ông!
Ông cả Ngộ bước vào sân, đủng đỉnh chào, vừa đủ nhỏ để trong nhà nghe tiếng mà không ra chiều vồ vập quá. Ông trưởng Thìn đang xỉa răng chanh chách trên sập cũng chậm rãi bước xuống. “Mời ông vào”, lời nói nghe đủ lịch sự mà cũng rõ là khách khí lắm. Nhưng ông cả Ngộ còn nán lại ngoài sân, ngắm nghía căn nhà. Đây là chỗ nhà ngang trưởng Thìn được giữ lại sau kỳ cải cách, trước kia nó cũng rách rưới lắm, giờ đã thay bằng nhà hai tầng đúc bê tông, chỗ nào chỗ nấy sáng choang. Đặc biệt là quanh giếng chi chít những chậu cảnh, dễ cũng tinh xảo, có giá bằng của nhà ông.
Trưởng Thìn thấy khách còn vơ vẩn ngoài sân thì quay vào, lại xếp bằng trên sập, nhưng cũng quát đứa cháu tắt ngay cái đài đang đít cô đít cậu choang choác. “Lão không ra đón ta ngoài sân. A, lão cũng đánh ấm chén sẵn sàng rồi đấy chứ”, cả Ngộ nghĩ, cứ đủng đỉnh, khủng khỉnh cho đến khi trưởng Thìn lên tiếng “Mời ông vào”.
- Chè ngon đấy, ông nhỉ.
- Thằng em tôi mới đi nghỉ Bắc Thái, gửi về một cân, Tân Cương chính hiệu.
- Thảo nào, cứ mộc thế này uống mới hay.
- Tôi tính rồi, ướp sen ướp nhài chỉ được hương chứ vị thì vứt.
Ấm chè, sang tuần thứ hai, cứu cho đoạn vào chuyện khỏi nhạt nhẽo. Hai lão già chuyển sang mùa màng, năm nay dông bão lắm quá, thuỷ lợi phí ngày một tăng. Rồi cũng hết. Bèn vào việc: “Tôi sang đây định bàn việc đền Úc Phụ. Làng ta có bà Lành định làm thế, ông tính sao?”. Ông Thìn nghiêm ngay sắc mặt, lừ lừ đứng dậy thay ấm chè khác. Rồi đuổi chó xua gà mãi, mới ngồi xuống. “Thì có người đem thả bụt trôi sông trước đây, nay họ mới có cớ làm thế chứ”. Giọng ông buông sõng, ra điều muốn tới đâu thì muốn, đây vô can, không nhúng tay.
Ông cả Ngộ bèn giải thích:
- Hồi ấy, tôi làm chủ tịch xã thật, nhưng đang đi học trên trường đảng tỉnh, không biết việc ấy. Ông Kháng là phó chủ tịch nội chính chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đem Phật bỏ trôi sông Lồ Ồ. Rồi ông ấy bị kỷ luật, sau lại chết tức tưởi chứ còn đâu.
- Bao nhiêu là việc nữa, ông Thìn bùng ra. Tam quan đền làng đẹp nhất miền Bắc tính đem giật đổ, may mới mất con sấu trên cột. Chuông đồng bị dỡ, đem ghè ra bán cân. Ông còn để cho những đứa vo thần báng bổ đem hoành phi câu đối trên đình về thưng chuồng trâu. Thượng điện thì để thuốc sâu, hậu cung tam bảo thành kho chứa phân đạm ráo.
- Đấy là do tồn tại lịch sử, chứ có phải do chính quyền xã chủ trương đâu. - Cả Ngộ đã nóng mặt lắm, nhưng kinh nghiệm công tác bao nhiêu năm bảo ông phải dằn lại.
- Lại còn lấy đá trên gò đem trải đường, xe kìn kìn đi lại mấy tháng, vơi cả núi Đụn. Chả, dân không kêu thì bây giờ tan cả đình chùa, lấy đâu chỗ thờ cúng nữa. Suýt nữa thì mất cả giếng Tiên, dấu chân ngựa trời. Ông không nhớ hồi bé chăn trâu, thằng trẻ con nào đã uống nước giếng Tiên mãi, hở?
- Ông biết một mà không biết mười - Cả Ngộ sẵng giọng -. Nói cho ông biết, ngày kháng chiến, hội tề các ông ngồi đánh chén trong đình, tôi là du kích nấp trên cửa võng. Định thả lựư đạn xuống nhưng tiếc cái đền quá. Những tảng đá xanh chân cột trạm đài sen, rồi hương án, cỗ kiệu, điện thờ, cả nước chẳng nơi nào có vật đẹp hơn thế. Nên lại thôi. Tôi chỉ vê hòn cứt dơi thả vào bát canh lòng gà bí xanh ở mâm ông thôi. Ông ác lắm, làm lý trưởng gây bao nhiêu tội, chết là đáng. Nhưng tôi tha ông vì cái đền làng ta.
Trưởng Thìn mặt xám lại, nhìn trừng trừng vào cả Ngộ, rồi lại giãn ra, bần thần: “Ờ ờ, tôi ngỡ con dơi ỉa vào bát canh thật”. Rồi lại cất giọng lạnh tanh:
- Ông cũng ác như con rắn độc. Sao ông quy họ Nguyễn nhiều địa chủ thế? Sao ông giữ giấy gọi đại học của thằng Trực nhà tôi? Cả xã này có ai nhiều liệt sĩ chống Mỹ như họ tôi không, mà hôm họp trong diện ấy các ông làm khó dễ? Động cái dân công động cái đắp đê, là thế nào?
- À, thế thì để tôi cắt nghĩa. Đội cải cách quy định xã ta bẩy phần trăm địa chủ, tôi xin mãi mới xuống được năm phần trăm. Họ ông nhiều lý dịch lắm ruộng, quy thế là đúng, ai cãi được. Nhưng tôi thấy ông nắm quyền hương xã, làm gì là bị Tây thúc, đối xử với bà con không đến nỗi nào, nên còn nương nhẹ đấy. Còn việc giấy gọi đại học là lý do khác, do chủ trương không cho con em địa chủ lọt vào hàng ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa nên phải giam lại.
“Kể ra, cái việc họ ông trong diện liệt sĩ bị ngăn cản thì tôi làm sai thật. Việc ấy tại tôi”.
Ông Ngộ chùng giọng xuống, rồi điềm nhiên đứng dậy. “Tôi sang bàn việc bà Lành định thay tượng Đức Chúa Ông ngoài đền. Nhưng thấy khó nói chuyện quá. Chào ông, tôi về”.
Ông Thìn ngồi bó gối ôm điếu cày, mặt còn đỏ gay, không đứng dậy tiễn. “Không dám, chào ông”, giọng còn đầy thù hận. Hai ông trưởng chia tay như thể sắp về huy động trai tráng trong họ đến phá nhà thờ Tổ của nhau không bằng.
Ngang qua gốc sy giếng làng cũ, cả Ngộ gặp thằng cháu làm thư ký uỷ ban, nó báo: “Chủ tịch bảo nay mai thay tượng ông ạ”. Ông sẵng giọng: “Mày sang mà bảo cái lão trưởng Thìn, tao không biết!”.

*

Thế mà quá Ngọ sang Mùi được tẹo, cả Ngộ thấy trưởng Thìn sang nhà mình. Đi như xộc vào, chẳng để ý đến bộ điệu khủng khỉnh của chủ nhân, “Này ông, rằm tháng sáu họ định thay tượng Đức Chúa Ông thật đấy”, ông ta nói luôn.
- À, thế ra ông cũng muốn bàn chuyện ấy với tôi kia đấy.
Cả Ngộ làm cao. Trưởng Thìn đấu dịu ngay. “Tình hình khẩn trương lắm rồi. Tôi với ông không ngồi với nhau là có tội đấy”.
“Thế này ông ạ…”, giọng trưởng Thìn ôn hoà, những lời chắc đã được ngẫm rất kỹ. “Tôi với ông, họ tôi với họ ông đều có chỗ không phải với nhau. Thời thế nó bắt thế, cờ đến tay ai phải phất. Nhưng bây giờ có kẻ định phạm vào cái chỗ linh thiêng nhất của làng. Báng bổ quá lắm. Trong xã chỉ có họ Chu với họ Nguyễn là đương đầu nổi với chúng. Tách nhau ra là chết. Không phải chỉ có đợt thay tượng này, mà được đà, bọn quan lại cường hào mới sẽ được thể đè ta nhiều chuyện khác. Ai chứ ông với tôi đều đã làm lý dịch, còn lạ gì…”
“Còn lạ gì… Hừ, sao lại so thời lão làm lý trưởng với thời Việt Nam dân chủ cộng hoà, ta làm chủ tịch xã”, cả Ngộ mỉa mai nghĩ. Nhưng ông cũng phải công nhận rằng truởng Thìn nghĩ phải trong tình thế này. Làng Vân Ổ còn dăm bảy họ khác, nhưng rặt lũ tép riu. Xưa nay quyền bính những chỉ nằm trong tay hai họ Chu và Nguyễn. Ngày bé, thằng Ngộ con mõ Lương và thằng Thìn con chánh Xuân cũng hay tha thủi bên gò Úc Phụ chơi, đứa chăn trâu, đứa đánh khăng. Đền có nhiều bàn thờ, ở giữa là Đức Huyền Thiên Trấn Vũ có công giúp Thục An Dương Vương trừ lợn lang gà trắng xây nên thành Ốc. Hai bên là những thổ địa, Mẫu Thượng Ngàn, ông Khổng Tử, bà Thị Kính. Ngộ và Thìn ban thờ Đức Chúa Ông cai quản mười tám vị sơn thần trông nom dương gian. Khoái, vì cụ từ hay gọi vào cho phẩm oản, nải chuối, quả na tạ từ ban, cũng vì tượng Đức Chúa Ông thật đẹp, ngắm mãi không chán. Ngài mặc phẩm phục màu nâu đỏ, cầm thanh đao nhỏ, một chân dận hia, chân kia để trần, trông mộc mạc mà lại thoát tục. Đặc biệt là đôi mắt nghiêm nghị, lúc hiền từ, nhìn kỹ lại rất dữ. Các cụ trong làng bảo người thợ nào tô đôi mắt ấy là chín chắn lắm.
Đền Úc Phụ, Ngộ có một trận để đời không thể quên được. Ngày mười lăm tuổi, chơi trốn tìm, chả biết kiêng cữ gì cả, cậu cùng cái Na rúc vào vòm cuốn tò vò dưới ban thờ Đức Chúa Ông. Chỗ ấy chật lắm, phải ép sát vào nhau mới khỏi lộ. Trong cõi ẩm mốc, nhớp nháp, mùi bồ kết, mùi mồ hôi từ cô bé đánh thức trong Ngộ một cái gì cậu chả bao giờ biết đến. Cậu mân mê mái tóc Na, úp mặt vào ngửi hít. Bỗng cô bé cầm tay Ngộ úp lên ngực mình, chỗ nhu nhú. Lâu lâu, Na đẩy tay Ngộ ra, bảo “Tay đằng ấy người lớn rồi nhưng mắt đằng ấy còn trẻ con lắm”.
Rồi Na lớn lên, lấy chồng, Ngộ thấy như mình mất cái gì. Mãi sau này, đận cháu chắt rồi, mỗi lần đến trước Đức Chúa Ông, cả Ngộ thấy thực khó ngăn mình khỏi chui vào cái lỗ tò vò ẩm mốc dưới ban thờ. Đít Ngài, đối với ông, mãi mãi là nơi bí ẩn, vừa thiêng vừa tục nhất đời.
Vào những ngày hai họ Chu, Nguyễn tranh nhau trị vì hương xã và thẳng tay trị nhau, cô bé Lành của họ Ngô lớn lên, theo ông chú ra Hà Nội làm ăn. Cô buôn hàng sắt, vốn lớn lắm, phát đạt ầm ầm, thỉnh thoảng thấy về làng đầu u xi răng trắng, kể chuyện đi bơi, giao du với người này người nọ. Cô có ba đời chồng và một đống con, khi lên bà thì đốc chứng đồng bóng, đền phủ nào cũng đi, càng xa xôi sức càng khỏe. Bạn bè cô ở hội Chân Tâm tín ngưỡng, cũng cùng hội buôn, tháng nào cũng hành hương cúng lễ, chẳng ngày sóc vọng nào không đèn nhang; chừng như các bà buôn đều cúng lễ khoẻ, Tiên Phật độ trì họ chẳng ít.
Khi cả Ngộ còn đương chức chủ tịch, bà Lành đánh xe về, bàn: “Làng ta là đất văn vật, đền Úc Phụ xưa có tiếng là thiêng, đề nghị uỷ ban, mặt trận tổ quốc cho lập hồ sơ để xin bằng công nhận di tích lịch sử của bộ Văn hoá, tốn kém đâu tôi xin cung tiến”. Lời nói phải quá, uỷ ban bèn cử cụ thống Đào nhiều chữ nhất làng đi lục lại những văn tự, gia phả, viết lại sự tích đền. Lại lôi tấm bia đá kê dưới ao làm chỗ rửa chân lên dựng lại nhà bia ở chỗ cũ. Những tam bảo, quán Tiên, đều Mẫu, bao nhiêu bộ hoảnh phi câu đối, cái bị Tây đốt, cái tự phá hồi tiêu thổ kháng chiến, cái bị mai một hồi báng thần bổ thánh dần dần được khôi phục lại, mới đầu còn dấm dúi sau ra công khai. Đền Úc Phụ được công nhận di tích lịch sử văn hoá, đón bằng của trên rầm rộ, thu hút thập phương đến ùn ùn.
Rồi bà Lành về hẳn làng, ủng hộ nhà trẻ dăm chục bộ quần áo mới cho đàn cháu và các cô, xây gian phụ sản ở trạm xá, có cả dụng cụ y tế. Chính điện đền Úc Phụ sáng choang khi bà cho bóc lớp gạch, tương truyền có từ đời Trần, thay bằng cả nghìn viên gạch hoa Đà Nẵng. Nước trên đền thiếu lắm, phải xuống tận giếng đất khiêng, bà cho xây đôi bể chứa cả nghìn gánh nước mưa, tha hồ việc làng, cúng lễ. Lại trình bày với uỷ ban xã và các cụ (bấy giờ ông Ngộ đã sang làm mặt trận tổ quốc): “Tôi nay đã già, hồi tâm làm việc thiện, xin các cụ các bác cho về ở đền hàng ngày bao sái đèn hương. Cũng như nhời Tiên Phật dạy, kẻ có căn đi đâu về đâu rồi cũng phải về núp dưới bóng đền bóng chùa thôi mà”.
Vẫn là lời nói quá phải, chẳng đụng đến quyền lợi của ai, nên chẳng bị chối từ. Huống hồ bà Lành ăn chay tuần ba ngày, và lôi về đền bao nhiêu bạn buôn, công đức nặng tay lắm.
Đền Úc Phụ mở hội lại, ba năm nay mời liền liền đội nữ quan ở Hà Nội về làm lễ. Thập phương kéo đến cả vạn người xem rước vua Thục giả, thần Rùa Vàng giả kín cả cánh đồng, riêng tiền giữ xe đem về cho xã vài chục triệu. Công đức thì vô kể, sẻ lại cho ban di tích xong, xã thu cũng gấp vài lần thuế công thương của mấy chục công ty tư nhân. Rồi mượn người hay chữ soạn tờ gấp in sự tích ngôi đền bán cả vạn tờ. Hàng quán rạp riệc dựng lên bán bánh dày, trứng luộc cùng khánh, xuyến, xà tích, bao người được nhờ trong mấy ngày lễ. Úc Phụ khuyếch trương được thanh thế, hội đền nức tiếng một vùng khiến quan viên các làng lân cận sốt tiết, cũng chạy đi lập hồ sơ xin bằng công nhận di tích cho mấy cái miếu bé con con của họ. Bỗng chốc thu bộn tiền thật đàng hoàng, hình như chẳng có gì dễ bằng tổ chức lễ hội thật to, dân tình nơi nơi đến mở hầu bao ra chóng vánh quá.
Có dịp ông Hoạt già, trưởng ban quản lý di tích, trẩm đi đâu mất chục triệu tiền công đức, xã bèn củng cố lại, đưa bà Lành lên phó ban, tất nhiên trưởng phải là chủ tịch mặt trận tổ quốc. Tiếng là đầu đàn, nhưng nhiều việc cả Ngộ thấy mình chân chất quá, cứ phải hỏi ý kiến bà Lành quảng giao, bạt thiệp. Dần dà bà ta tự động quán xuyến, chỉ hỏi ý kiến các cụ gọi là. Phương chi, cậu Đoàn đương kim chủ tịch xã là người họ Ngô, gọi bà Lành là cô, luôn luôn quyết đoán việc đền theo ý bà. Cũng ấm ách! Chẳng hạn như khi bà tự thuê người biết tiếng Tây viết lên hòm công đức mấy chữ Contribution nghĩa là “Đóng góp” gì đó, các cụ kêu, bà bảo để thế thì tây đầm đến đền ta phải tòi tiền ra. Chẳng thuận lắm, nhưng cho là việc nhỏ, các cụ cho qua không bàn lại. Vả lại, Chu với Nguyễn hai họ lớn nhất có bao giờ bằng mặt với nhau đâu mà ỷ dốc phản đối.
Nhưng đến cái sự thay tượng thì thật quá thể. Cách đây nửa tháng bà Lành đề nghị họp ban di tích, có chủ tịch xã dự. “Là tôi muốn xin ý kiến các cụ”, bà trình bày. “Mấy năm nay, đền làng được sang sửa nhiều, như may lại xiêm áo cho Tam Toà Thánh Mẫu, tô tượng, viết lại các bức hoành. Chỉ còn tượng Đức Chúa Ông trên ban bên phải đã cũ quá rồi. Phẩm phục màu nâu, trông Ngài tối xì xì, sứt miếng ngay cổ. Tôi bàn là ta nên thay tượng mới đẹp đẽ hơn. Thế ạ…”
Các cụ ớ người ra. Quá bất ngờ. Ai mà có thể ngờ được. Cả Ngộ phản ứng đầu tiên: “Thay thế nào được! Ngài đã có bao nhiêu năm rồi, linh thiêng là ở bản thân bây giờ chứ”.
- Thì ta hô thần nhập tượng. Đức Ngài lại dời sang “nhà” mới ngay. – bà Lành điềm nhiên.
- Thế tượng cũ bà định bỏ đi đâu? - Trưởng Thìn nóng nảy lên tiếng.
- Dạ, tôi hỏi thầy đã kỹ. Để Ngài nghỉ dưới giếng mắt rồng, vẫn có linh khí ngàn xưa tụ lại, mà còn mát nữa.
Giọng trả lời vẫn ngọt ngào, tự tin lắm. Nhưng các cụ đâu có chịu, rằng chưa ai làm thế bao giờ, đẻ chuyện gây tốn kém, rằng… Bà Lành không đáp lời. Thì ông chủ tịch xã lên tiếng, không phải phân trần nữa mà là quyết định:
- Thưa các cụ, đảng uỷ, hội đồng và uỷ ban nhân dân chúng tôi đã họp bàn xong. Ngày rằm tháng sáu này sẽ rước Đức Chúa Ông mới và thay bức hiện nay. Việc này hoàn toàn do bà Lành cung tiến, không ai phải bỏ tiền ra cả. Đây, các cụ xem quyết định của uỷ ban. Đã có hiệu lực rồi.
Cả Ngộ ớ ra. Chức trưởng ban di tích của ông té ra chẳng là cái đinh mục với bà phó. Đêm ấy ông càng phải tủi phận, nhận ra thời binh quyền của họ Chu đã qua.

*

Trước rằm tháng sáu, ông cả Ngộ triệu tập hội nghị bất thường các đảng viên họ Chu. Tiếng cả thế, nhưng cánh họ Chu trong xã chỉ còn giữ những chức èng èng như thu tín dụng, khuyến nông, thuỷ lợi, còn bao nhiêu vai vế quan trọng khác họ Ngô đã chia nhau cả rồi, sớt lại gọi là cho các họ khác. Bởi vậy, hội nghị mở rộng ra cả các bô lão trong họ.
Mở đầu, cả Ngộ mời mọi người uống chè Thái của trưởng họ Nguyễn biếu. “Hai họ phải kết hoà hiếu để chống lại đứa quỷ trá cậy của”. Rồi ông nói cụ thể hơn chuyện Đức Chúa Ông, bà Lành được uỷ ban xã ủng hộ. Mọi người đều nhất trí thế là giẫm đít bụt, làm hỏng những truyền thống đã có tự nghìn năm.
Bên họ Nguyễn, trưởng Thìn cũng quán triệt cho mọi người nguy cơ mất hết cổ vật của tổ tiên và cũng đạt được nhất trí cao. Hai họ Chu, Nguyễn thảo một giác thư lên văn hoá huyện văn hoá tỉnh, cậy người thân quen quà cáp để chuyện gở đừng xảy ra. Nhưng có vẻ như đã quá muộn. Hai họ lại định rằng đến ngày ấy nhất định phải tụ họp lên đền tranh đấu, kẻo rồi ảnh hưởng đến cả long mạch. Táo gan thật. Dám làm chuyện tày trời.
Rằm tháng sáu nhằm đúng chủ nhật. Từ sáng sớm, ban di tích đã đủ đầy trên sân đền, cả thảy sáu cụ, trừ bà Lành đi thỉnh tượng bên Hà Bắc. Ngoài ra còn có các bô lão trong xã, nhất nhất đều muốn giữ lại Đức Chúa Ông đương vị. Đám thanh niên đến cũng nhiều, phần vì hiếu sự, nhưng hai ông trưởng họ điểm mặt thấy yên lòng, khối đứa họ Nguyễn họ Chu.
Hút thuốc lào vặt, uống rượu vã mãi, rồi ô tô chở tượng mới cũng về đến nơi. Có mươi bà buôn ở Hà Nội hay đóng nữ quan trong các đám rước. Đồ nghề trên xe khuân xuống mãi mới hết. Bà Lành dõng dạc chỉ huy mấy thanh niên khiêng Ngài lên nhà tiền tế. Bên này, cả Ngộ và trưởng Thìn trố mắt nhìn, chỉ thấy lụa điều phủ kín, có vẻ to hơn Đức Chúa trong kia. Không hiểu bên trong thế nào.
Trước sự chứng kiến của Ngô chủ tịch xã, hai bên chủ khách chào hỏi nhau trịnh trọng, lịch sự, nhưng bên trong như bài binh bố trận thế nào. Ông cả Ngộ thay mặt ban di tích và các cụ trong làng cảm ơn các bà bên Hà Nội đã không quản xa xôi mà lui tới ngôi đền nhỏ bé của chúng tôi. Bà hội trưởng Chân Tâm tín ngưỡng đáp rằng đây là chốn thần tiên, đến được là có cơ duyên lắm, xin phép các cụ vào thắp hương. Tuần trầu nước đã qua. Kính thưa, cảm tạ mãi, bà hội trưởng có lời:
- Chúng tôi ăn chay nằm mộng, chọn ngày lành tháng tốt, hôm nay rằm tháng sáu dọn mình sạch sẽ sang đây. Trên có uỷ ban, dưới là các cụ ở ban di tích, xin cung tiến quý đền một đôi lọng, mười mâm nhôm to, một trống đại, hai đỉnh đồng cùng bộ bát bửu.
“À vâng!”. Món cung tiến quá to khiến cả Ngộ ngỡ ngàng, chỉ đáp lại được vậy.
“Hội Chân Tâm tín ngưỡng xin biếu uỷ ban xã Vân Ổ mười triệu đồng tiền mặt, vì đã góp phần ủng hộ phong trào uống nước nhớ nguồn, quay về với tổ tiên”.
Cả Ngộ và trưởng Thìn nhìn chủ tịch Ngô Tiến Đoàn tiến lên nhận tiền, cảm ơn, đưa mắt cho nhau. Ra họ gớm thật, cho cái thằng tham này há miệng mắc quai cái đã. Để rồi xem.
“Bà Ngô Thị Lành có hỏi ý kiến chúng tôi về pho tượng Đức Chúa Ông hiện nay, đã cũ rồi và không được oai phong mấy. Nếu thay Ngài bằng một tượng mới to đẹp hơn thì thu hút được thập phương đến nhiều hơn, thanh thế đền Úc Phụ càng lớn. Chị em chúng tôi nghĩ thế cũng phải, vậy xin ý kiến quý uỷ ban và các cụ”.
- Việc này chúng tôi đã bàn và đồng ý rồi, Ngô chủ tịch xã lên tiếng. Tượng cũ cổ lắm, không còn thích hợp với thời đại mới nữa. Phải mở cửa ra mới được. Dân tình thập phương đều chỉ thích đến chỗ đền đài nguy nga, đồ thờ lộng lẫy. Ý định của các bác ở hội đây và bà Lành rất hợp với sở nguyện chính quyền và dân xã. Chúng tôi xin chấp nhận và cảm ơn tấm lòng vàng này.
Ông cả Ngộ há hốc mồm, uất quá không nói được. Đến khi ra lời thì chả thành bài bản gì. “Việc này chưa từng có bao giờ. Từ thuở còn chăn trâu, chúng tôi đã quen thân với Ngài, thọ lộc của Ngài, khi nải chuối khi phẩm oản. Bây giờ thay tượng là dứt khoát không thể được.
- Thì có phải đem Ngài trôi sông báng bổ như năm xưa cụ làm chủ tịch xã đâu. – Bà Lành nói kháy – Chúng tôi chỉ định đưa Ngài xuống giếng Mắt rồng cho mát mẻ thôi mà. Việc hô thần nhập tượng mới đã có chuẩn bị, khấn đúng bài các cụ tổ ta dùng khi xưa. Có gì đâu mà bác cả Ngộ gây khó khăn làm vậy.
- Không được. Dứt khoát là Đức Chúa Ông y như bây giờ. Bà đừng có mà cậy của đòi thay đổi tất cả. Bà quen đi xa về gần mấy chục năm nay rồi, có biết tình cảm làng quê với Đức Chúa Ông, với ngôi đền này như thế nào đâu.
- Bác cả Ngộ không được nóng nảy thế, giọng Ngô chủ tịch xã chắc nịch. Bà Lành đây có chân tâm mới cung tiến như vậy. Hơn nữa đền chùa cải tiến, đổi mới, thiên hạ đổ đến nhiều thì mới có tiền công đức mà thay đổi bộ mặt làng xã. Hay là ông muốn chúng ta cứ nghèo hèn quê kệch mãi, hả?
- Anh thì chỉ biết có tiền! – Ông cả Ngộ đốp trả - Thằng Phương con nhà Tròn trốn đi di tản năm xưa, các anh lên án bao nhiêu. Mà năm ngoái nó ở Mỹ về, mới thăm hỏi một tẹo đã tôn thành Việt kiều yêu nước. Đừng có lộng giả thành chân, giẫm đít bụt.
- A, này… - Chủ tịch xã lắp bắp – Ông đừng hỗn với chính quyền. Tháng chín tới hết nhiệm kỳ, đảng uỷ bầu lại sẽ cách ông khỏi chức chủ tịch mặt trận tổ quốc. Rồi cũng tong khỏi chân trưởng ban di tích, cho mà biết.
- Tôi còn ngồi đây thì đừng hòng bê Đức Chúa Ông vứt xuống giếng!
Cả Ngộ đỏ mặt tía tai, chân giẫm bành bạch. Ông đứng ngó quanh tức tối. Quái, lão trưởng Thìn bàn bạc quyết tâm làm vậy, mà bây giờ đ. thấy hé răng. Thì ông đương đầu cũng chẳng sao. Được cái bên kia, con mẹ Lành và các bà Chân Tâm tín ngưỡng cũng im phắc.
Đang căng thẳng, thốt nhiên một ông lão từ nhà thờ chạy ra. “Các ông các bà xem kìa, tượng Đức Chúa Ông trên ban mồ hôi cứ rịn ra”.
Ai nấy sợ cứng người lại, kể cả bà Lành. Chỉ riêng chủ tịch xã điềm nhiên: “Ngài mừng đấy, vì sắp được xuống Mắt rồng tắm mát". Đoạn quay lại bảo đám trai tráng: “Các cậu còn đợi gì nữa, vào thắp hương xin phép, rồi hạ Ngài xuống đi”.
Chẳng ai bảo sao. Ông cả Ngộ đần người ra, bất lực nhìn đám trai họ Ngô rục rịch chuẩn bị đòn khiêng. Thì trưởng Thìn lên tiếng, giọng điềm đạm và sang sảng, hệt ngày còn là lý dịch:
- Không hạ xuống được đâu. Làm thế vừa trái đạo trời, vừa sai phép nước. Thứ nhất, tượng Đức Chúa Ông có tự bao giờ không biết, chỉ thấy khi lớn lên đã có Ngài rồi. Ngài tuy nâu sồng mộc mạc thật nhưng lại hun đúc khí thiêng bao đời. Thứ nhì, khi xin bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá, trên đã kiểm kê bao nhiêu tượng, bao nhiêu hoành phi câu đối, đến từng bức cửa võng chạm con gì bông hoa gì cũng vào sổ cả rồi. Nay hạ Ngài xuống bỏ ra ao Mắt rồng, liệu có phải xâm phạm di tích lịch sử không? Các ông uỷ ban có chịu trách nhiệm được không?
Chủ tịch xã không dám hé môi. Lý sự của lão già làm quan một thời cứng cáp quá.
- Cổ vật mới là của quý! - Giọng trưởng Thìn lại càng sang hơn - Lọng vàng bát bửu mâm nhôm trống đại các bà cung tiến chúng tôi xin nhận và cảm tạ hết lòng. Nhưng đó là đồ mới, có tiền là mua được. Chứ như đây, bạc tỷ có làm được vầng đá mọc dưới đít tượng Đức Quán Thánh không, mỗi năm lại nhô lên mấy phân đấy. Ông chủ tịch nói không phải. Thập phương đến đây vì các pho chư Tiên chư Phật đã có từ lâu đời, đâu phải vì mấy bức hoành mới tô vàng choé. Tôi nói lại chuyện cũ, bà Lành cho bật những viên gạch trạm rồng có từ đời Trần ở trong điện để lát đá hoa vào cho sáng choang lên, cũng là dốt nát rồi – Ông đột ngột hỏi – Bà đặt làm tượng Đức Chúa Ông mới này hết bao nhiêu tiền?
- Da, mất hai mươi hai triệu, bà Lành lí nhí đáp.
- Thôi, thế này, tôi đề nghị… Bà Lành là người có tâm đức, tuy hơi hợm của một tỵ. Tượng đã thỉnh về đây, thì đưa cả lên ban, ta thờ cả hai Đức Chúa Ông một lúc. Ý kiến chúng tôi là vậy. Dứt khoát không bỏ Ngài xuống ao Mắt rồng được.
Trưởng Thìn đứng dậy, quay hẳn sang các bà Chân Tâm tín ngưỡng: “Nếu các bà không đồng ý thì mang cả bát bửu lọng vàng cùng các thứ đem đi đâu cho thì đi”.
*
Tượng Đức Chúa Ông trên ban được kê dịch sang trái, lấy chỗ cho Đức Chúa Ông mới. Thoạt nhìn đã thấy khác nhau lắm. Bên này thì nâu đỏ mộc mạc, một chân để trần, đôi mắt vừa dữ lại vừa hiền. Pho bên kia bằng gỗ mít tô đỏ rực, hai chân đều dận hia, đôi mắt xếch ngược, lông mày dựng đứng như tranh trong sách Tầu. Rồi ngai, ngù, rồi mũ cánh chuồn vàng choé. Vì đôi con ngươi là hai hòn bi bằng thuỷ tinh nên lúc nào trông Ngài cũng như lúc nào, vô hồn và ít sinh khí hơn Ông cũ. Nhưng Đức Chúa Ông mới ngồi trên ngai vàng, tầm vóc cao hơn, nên khi đặt lại tượng, các cụ trong làng nhất quyết đôn thêm cái bục dưới đít Đức Chúa Ông cũ. Phải cho bằng nhau, phải thế. Không thì lại nhất bên trọng nhất bên khinh.
Đêm đến, ông cả Ngộ ngồi xếp bằng dưới chân tượng cũ. Cái bát hương chỉ cắm một nén nhang đỏ đọc như mắt người. Lòng ông mang mang hỗn độn. Lạy chư Phật chư Tiên, bây giờ có hai Đức Chúa Ông thì ai cai quản mười tám vị sơn thần coi sóc dương gian? Cái lão trưởng Thìn lý sự ghê thật, không bên nào đồng ý nhưng bên nào cũng phải theo. Bây giờ họ ông phải đoàn kết với họ Nguyễn thôi. Hai họ mà mạnh thì làng mới mạnh, không để lũ quỷ trá hợm của làm càn mãi. Dầu thế nào các ông phải giấy rách giữ lấy lề, khôi phục lề thói làng xã, truyền thống dân tộc cho bọn trẻ còn có cái để quay về với Tổ Tiên chứ.
“Lạy Đức Chúa Ông, Ngài ở với chúng con”
Bên phải ông Ngộ, bà Lành ngồi trước Đức Chúa Ông của bà, bát hương còn mới tinh ngùn ngụt như đám cháy. Bà đang nghĩ gì? Bà ấy còn định làm gì với ngôi đền của chúng ta nữa đây?
T.C

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Hà Nội nhìn từ nhà quê .

                                      
 
                                             Ngôi nhà tạm
Tôi thường có ý nghĩ “thương” Hà Nội, nhất là khi ra đường. Thành phố gì mà chen chúc, nhem nhếch, vứt rác ra đường, đang đi gặp người quen đứng lại nói chuyện cản trở giao thông... đều hồn nhiên. Quê quá. Đúng là quê chứ gì, người đô thị mà ai cũng “có ngón chân cái còn dính bùn”, nói như nhà văn Nguyễn Khải. Nghĩ vậy rồi tìm hiểu thêm, càng tâm đắc với những “khái quát” của riêng mình và chả phải của mình.
Như là tại Thủ đô, nơi phải có cỡ hai ba triệu người ngoại tỉnh đang đổ về, cơ cấu dân cư đã bị phá vỡ, kèm theo đó là sự mất ổn định các giá trị, nền nếp. Hai quá trình thành thị hoá nông thôn, nông thôn hoá thành thị cứ tồn tại song song, “tranh đấu” với nhau; một người trở nên “thanh lịch” thì lại thêm hai ba người về nhà không đóng cửa, ăn nói mở đài cứ oang oang.
Như là vì hình thành từ những làng nghề nên quá trình đô thị hoá của Hà Nội bị chậm, không như Sài Gòn. Hà Nội như một cái làng lớn, anh thợ trẻ nào nghĩ ra mẫu hàng nào mới, dễ bị ông trưởng họ, trưởng phường mắng là không tôn trọng truyền thống, qua mặt các tiên sư lắm, thế là trí sáng tạo nhụt đi, không dám hướng về cái mới nữa.
Như là…, như thế nghĩa là cái tuổi một đô thị không nói hết được trình độ đô thị hoá của nó.
Nghĩ thế và viết ra, tất nhiên có cả “luận điểm” rằng Hà Nội mạnh mẽ, phong phú, đứng làm tinh hoa văn hoá, giáo dục cho cả nước là còn do có bao người tài từ tứ xứ tụ về. Thành phố tiếp nhận, sàng lọc, nâng cao lên rồi lan toả ảnh hưởng đi nơi khác. Về đây, con người ta trở nên lịch duyệt, phát huy được cái ưu điểm trong mình, gột rửa những thiên kiến thiển cận, hẹp hòi kiểu trong luỹ tre làng, chỉ biết “chào cờ xã ta”. Những anh đồ, “lều”, “lán” thơ đã chả trở nên vĩ đại nếu không tắm táp trong không gian văn hoá Thăng Long. Nhưng dù thế nào, về Kẻ Chợ, trong bao năm qua, đâu phải chỉ tinh hoa, mà cả cặn bã, khôn mống chứ, nó làm nên cái chất tiểu thị dân trong tôi, trong anh, người nấy người nọ. Không thể không viết ra rằng nhiều tập người ở tỉnh lên bản năng sinh tồn quá mạnh, tạo ra một không gian sống thuần tuý thực tế. Không hài hước, không hề mơ mộng, mà tràn đầy sinh lực, khát vọng quyền lực, họ pha vào cộng đồng những quan hệ cục bộ kiểu phe giáp, coi đó như ngôi nhà tạm, thuần tuý làm phương tiện chứ chả yêu thương gì. Hà Nội giầu truyền thống, đúng quá, nhưng cũng không ít lần ngoảnh đi trước những con người mới, những cơ hội đổi mới...
Đọc những bài viết của tôi, có người bảo đúng nhưng nghiệt ngã, buồn bã quá. Có người chỉ nhìn chả nói, ra điều “thành phố này của riêng mình anh đấy a?”. Vẫn biết Thủ đô được bồi đắp cả nghìn năm nay bằng những người tài từ tứ xứ đến, cô đọng lại thành tinh hoa, nhưng không thể không viết ra những “nhận thức trái chiều” trên. Và mỗi Tết đến, được hưởng cái thú đi bộ trong thành phố tinh tươm, vắng lặng (người ngoại tỉnh về cả rồi mà), cứ ước ao cái nơi mình trú ngụ nó cứ như thế này mãi.
Gần chỗ tôi ở có gia đình từ Bắc Giang về trú, nguyên cả nhà. Họ để ruộng lại cho người nội tộc cấy, thu hái chút đỉnh, bảo những tiền thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, đóng góp làm đường làng, quỹ khuyến học khuyến tài, nuôi văn nghệ... nặng quá, chỉ đủ ăn chứ chả tương lai gì. Ra đây cày đường nhựa, dù chỉ là bốc hàng theo chuyến, thuê xích lô chở người nhưng khá hơn, chỉ về lúc giỗ tết thôi. Rồi một hôm họ kêu ầm lên rằng cái dự án lấy đất ở nhà tính cả đền bù với hỗ trợ trên chỉ trả 30 triệu đồng một sào, quá bằng cướp không. Nông dân không có đất thì chết chứ còn gì, con gái chỉ có nước đi làm đĩ... Thế là tranh đấu, những đám đông đến trụ sở công quyền đứng cả ngày, can trường, kiên trì đến lúc được giải quyết. Hể hả, thoả mãn được vài năm, lại thấy vợ chồng nhà ấy ước giá có dự án lấy đất nữa, để lại được đền bù. Nghĩa là nghĩ đúng kiểu “chân đất mắt toét” gì cũng muốn, muốn gì cũng chỉ là cái trước mắt. Cái nhà ấy bao năm nay chỉ độc làm thuê, chả cất mình lên nổi.
Lại nhà khác, những nhà khác, về thị thành đã sẵn nong né, có họ mạc làm to để được nhờ. Ban đầu khiêm nhường, rón rén, chắc chân, phất lên rồi thì “vi tính” hẳn, vặn loa tra tấn cả con ngõ hẹp.
Những cảnh người quê, những phận người quê ra tỉnh, hình như rất khác nhau, “đi lên” hay “đi ngang” mỗi ông mỗi kiểu. Nó làm tôi rối tinh khi muốn “phát triển óc quan sát”. Lâu rồi chả có bom đạn để ta lại sơ tán với đi bộ đội đóng nhà dân, thật khó biết “chân dung” nông thôn với “đội quân chủ lực” hôm nay ra thế nào.
Rồi tôi về quê, bỗng nhiên về, cái chốn mình hằng ghi trong trích ngang trích dọc nhưng chả biết nó màu hồng hay tím, hình tròn hay chữ nhật. Là bởi vì ý thích du lịch, khám phá trỗi dậy trong cái vỏ hiếu hạnh với quê nhà, về để thắp hương mộ các cụ, để biết cái ao cha ông mình đã bì bõm ra sao... Mới cưỡi ngựa xem hoa, thè lưỡi ra “nếm” vị quê, đã thấy bao nhiêu quan sát, nhận xét, chiêm nghiệm rất không giống cái cũ của mình. Đâm ra ngổn ngang quá.


                      Dòng sông trong mát
Quê tôi thuần nông, còn giữ được khá nguyên vẹn cái hình ảnh làng truyền thống. Không còn tường chình mái lá, những ngôi nhà xây khiêm nhường vẫn núp dưới bóng cây xanh rợp. Những mít, na lúc lỉu, kiến bò quanh quẩn trên cành. Ngoài đồng đỗ, lạc trồng cạnh cây lúa, lách chách tiếng vịt đàn rỉa gốc, ông lão thảnh thơi vung cây gậy buộc lá chuối. Cấu trúc đình - đền – chùa còn nguyên vẹn. Nhìn lá cờ hội phấp phới đầu mái đao cong vút lên, tôi nhớ đến anh bạn phó nháy, hắn phàn nàn nông thôn giờ khó kiếm được góc máy nào không bị vướng dây điện với nhà mái bằng quá. Khi tôi bảo thế cậu có “đi” được trong những “toa lét” có thúng gio để rắc xuống không, hắn già giọng: “Nhìn theo quan điểm ấy thì chết!”
Cảnh thế là đẹp, là êm ả rồi, để ta có thể tĩnh tâm với những “suy tư” thơ mộng. Thế mà gặp họ hàng, người làng, bước chân vào từng căn nhà, cảm giác về ngôi làng bình dị, an ổn của mình cứ bong ra, thay vào là sự lo lắng, thậm chí thấy bất trắc.
Nhà nào cũng toàn người già, trẻ con. Đàn ông đàn ang đi tiệt, ra phố làm thợ xây, xe ôm, lâu lâu có thể thành thợ chính hoặc đủ tiền thầu “công trình”. Bà chị họ tôi trông cháu, tết thảm, ngày được hai nghìn bạc, thịt không dám ăn. Cột nhà dán mảnh giấy ghi ba chục ngày giỗ trong năm, lo đủ ngần ấy cái là bạc mặt ra rồi. Tội nghiệp, tôi không tả nổi nét mặt bà lão sáu chục khi nhận món quà trị giá ba cốc bia chưa có cái gắp của thằng em “rơi từ trên trời xuống”. Lại một bà chị khác, quý hoá chân tình, kể tình đầu các cụ bên tôi tử tế thế nào, nhưng chả dám giữ khách ở lại ăn trong khung cảnh quá nhếch nhác.
Đất không nuôi nổi người, nói thế là quá. Nhưng chỉ cho đủ ăn, chứ không thoả mãn đợc những giấc mơ ngày càng phức tạp, cao vời. Thế nên nhà nào cũng trống hơ hoác. Phụ nữ “kiêm nhiệm” hết, từ cầy bừa đến xấp mặt cắm cây lúa, được cái đã có đôi ủng cao quá đầu gối tha hồ lội bùn không sợ mảnh sành, đỉa với thuốc bảo vệ thực vật độc hại. Kể cũng lạ, đôi ủng cao su tiện lợi, hơn hai chục nghìn mà cũng phải “Made in China”. Các bà làm việc nặng nhọc, mới ngoài ba mươi đã nhầu nát, da đen, dáng cứng cỏi, chả được túng tắng ném quả tình như mợ nhà tôi ngoài sàn nhẩy. Và vừa phun thuốc sâu về nhà chả tắm gội đã vạch áo cho con bú là làm sao...
Khá nhất làng là Khị. Ngoài bẩy mươi, ông cứ một mực gọi tôi là chú cho đúng tôn ti. Nhà xây ba tầng rìa làng, trần đắp phào tô xanh đỏ, có bức cuốn thư chạm chữ nho gì gì mà cả tôi và Khị đều không đọc nổi. Nhưng tường chưa trát, những ô cửa trống hốc, mái lợp tạm tôn ốt Nam, khách ngự trên chiếu khai mù vì “xa lông cha mua được”. Giữa tiếng trẻ u ơ, tiếng tivi vặn to hết cỡ, cố gắng lắm tôi mới thủng được gia cảnh. Rằng cậu con trai, ngoài ba mươi, đi kéo cưa lừa xẻ trên ngược. Chúng đẻ hai con vịt giời, cay lắm, tính tiếp nữa nhưng phải làm kinh tế trước đã. Vợ nó chạy dăm chục triệu được xuất ô sin ở Đài Loan, đi bốn năm mang ba trăm triệu về xây nhà, mới được cái xác mà chưa có ruột, bèn tốn bẩy chục triệu để sang Đài thêm lần nữa. Tiền con trai đem về, nuôi bố mẹ và con chả hết bao nhiêu, nhưng xây được khu mộ tổ tổ bố, oách cũng nhất làng rồi. Khị tự tin giữ tôi lại ăn cơm. Nhng tôi chả, sợ rằng rượu vào lại hỏi ông có phải thằng con lên trên ấy làm lâm tặc, và vợ nó, mới hai sáu, liệu đi ô sin có thoát khỏi tay ông chủ... Cái sự từng trải thị dân lắm lúc tưởng ra những nhiễu sự rất khốn nạn.
Tôi định ở quê thêm mấy ngày. Khung cảnh thanh bình, tiếng chim, câu kể rủm rỉm của bà lão tám mơi níu giữ ghê lắm. Nhưng cùng với nấy là bao thứ nhiêu khê. Đi đường với anh trưởng họ, chào ông cụ thì ấy đừng, nó còn là cháu mình, gặp anh giáo trẻ định xưng hô lối bằng vai thì bị mắng té tát vì “đứng về bên bà ngoại vợ tôi thì bố cậu phải gọi tôi là anh kia”... Khổ quá, bố tôi mà còn sống, về làng chắc cũng mắc cái tội vô lễ hay khiêm nhường chả phải lối. Muốn sang bà chị họ nghe chuyện thì phải đáo nhà này, nhà kia trước đã, không bị chửi thối ra ngay. Những quan hệ rằng rịt trong ngôi làng nhỏ bé như cái màng nhầy, ngăn không cho ta được là ta, mà trước hết phải là một thành viên của cộng đồng đã. Thế là “trần văn tút”. Anh trưởng họ rất tiếc, hỏi bao giờ lại về, tôi không hẹn được.
Còn một cảm giác kinh khủng, chả dám phô to. Sao mà ở làng trông ai cũng bé nhỏ, mặt mũi chậm chạp? Hay là vì cái thói “ta về ta tắm ao ta”, vợ chồng gần máu nhau quá mà đâm phản động về sinh lý?
*
Quê ta làm sao ấy nhỉ, vừa thương lại vừa tội. Những ý nghĩ mới ngổn ngang trong đầu khi tôi trở lại đô thị. Nó làm cho tôi khoan dung hơn, bớt dị ứng với những thói tật quê mùa bị áp đặt bấy lâu nay. Những ông xe ôm, tôi thấy thật can trường khi phải xa hơi vợ, suốt ngày tranh đấu trên đường mà không thể cậy làng cậy họ. Đứa trẻ đánh giầy đã ba lần bị “nhặt” trả về địa phương vào các dịp lễ lớn, mấy hôm sau lại “vũ như cẫn”, tôi thấy gan góc lắm. Và may mắn làm sao, những cô ô sin được tha hồ mặc áo hở lưng chả sợ mắng, những sinh viên ra trường trường kì bám trụ đợi cơ may. Thời chiến tranh, nhà nhà đổ về quê tránh bom đạn, tưới tắm tấm lòng nhân ái rộng lớn của những bầm, bủ. Giờ đây, theo chiều ngược lại, Hà Nội như dòng sông lớn, sông Mẹ bao dung, ai cũng xuống tắm được. Thành phố, vì thế lấm láp, tẹp nhẹp, luộm thuộm hơn, nhưng đã như cái đầu tầu kéo kẻ quê đi lên. Hồng hộc, nặng nhọc, nó giải phóng được cho bao người khỏi những tủn mủn, chật hẹp của nếp sống sau luỹ tre làng. “Ta về ta tắm ao ta” mãi cũng tức là đóng cửa, bảo thủ chứ gì.
Nghĩ đại thể là thế. Phải khoan thứ, nhìn mọi nhẽ theo đại sự , đừng chấp nê cái lặt vặt theo đòi hỏi của mình, tôi tự nhủ. Nhưng sáng nay ra đường gặp ông xe ôm “đến từ Yên Bái” hỏi đường rồi phóng thẳng, chả cảm ơn cảm huệ, thì lại bừng bực. ối giời ơi, thế thì cái thằng tôi nghiệt ngã trước đây với cái thằng tôi rộng lượng bây giờ, đứa nào đúng đây…

Trần Chiến -k3 2007

(minh họa: www.vnisone.com)

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2009

LÀM ĐẸP CHO ĐỜI. (P2)

(tiếp theo và hết)
Dần dần ông Lãnh nổi tiếng, được hàng xóm nhờ vả. Trong phường có bà cụ vô gia cư chết hai ngày hàng xóm mới biết, uỷ ban cậy ông, điếu văn vài lời thôi mà bao người dưng phải rỏ lệ. Cái cảm giác mình làm ơn cho người thật thú vị. Nhưng sướng âm ỷ nhất là người ta lại cần mình, cái năng lực viết lách ngày nào chẳng bị để hoen rỉ, mình không rầu rĩ như sếp này sếp nọ về vườn chỉ một mực hậm hực cấp dưới không đến thăm. Đi hội cao tuổi, nghe giới thiệu “Bác Lãnh đây viết điếu văn hay lắm, bác nên chu đáo với bác ấy để bao giờ đến lượt bác…”, cái người kia đã nhìn ông hết sức nể trọng. Nên vào ngày trời lại đẹp, những câu thơ bật ra:
Người đi mát mẻ
ở lại thản thanh
Làm đẹp cho đời
Trào bao ý thơ
Chuyên gia khóc cấp phường, đôi khi là cấp quận thấy mình phải xứng đáng với sự nghiệp mới. Nhà nào có người ốm nặng, ông mang sổ đến ghi chép sẵn, hỏi han (không thể trực tiếp được) ai đầu ban lễ tang để đăng ký sẵn, kẻo anh khác vuột mất. Mục “Tin buồn” trên báo được theo dõi kỹ, nhỡ đâu người ta cần mình. Cậu T. ở cơ quan đang tại chức chuyển sang từ trần, vợ cậy người viết câu khóc, khi mang đến thì ban tổ chức gãi đầu “bác Lãnh đã lo hộ rồi, rất chi mạch lạc”, đành xếp lại. Anh văn phòng phải ưu tiên ông chứ, chỗ dựa cậy lâu dài kia mà.
Nhưng lắm khi lại mang vạ. Có kỳ tăm tia người ốm, ông phải thằng con nó mắng “Cú dòm giường bệnh. Cút mẹ mày đi!”. Đến cơ quan, bọn trẻ hỏi “Sao bảo bác đi cấp cứu…” rồi kháo sau lưng “Chim lợn cao quý đấy”. Một kỳ họp hưu trí, ông K. đốp vào mặt: “Lão Quýnh lái xe đi đâu vợ đấy mà ông vu là “người chồng chung thuỷ”, quá là oan”. Xung quanh được thể: “Thợ khóc bậc bẩy, ai chả là người cha nhân từ người con chí hiếu người bạn tri âm, phấn đấu thế nào cũng không được là người tình sắt son thằng con mất nết sất…”.
Thế thì cái thể thống nó ra thế nào nhỉ. Ta làm đẹp cho đời cơ mà. Ra là cùng mục đích tốt nhưng sự đưa tiễn không đơn giản, có đặc thù của thể loại, còn khó hơn ngày xưa viết tổng kết nhiều. Càng nghĩ càng thấy đố đứa nào “đi” toàn thây được. Lão Quýnh đã chả hì hì bảo “Tôi tòm tem được chục cái bướm, ông cố kể vào đoạn thành tích nhá”, nhưng hội hưu kêu tởm quá. Có những nỗi niềm vợ con muốn đưa vào lắm nhưng ông trưởng họ hoặc trưởng cơ quan hoặc trưởng hội thọ phường xã nhất định bỏ ra. Ơ, ra sống còn không phải chặt chẽ bằng chết, có thể này này nọ nọ nhưng nằm quan tài là chỉ được vuông vắn ngay thẳng mà thôi.
Bèn chong đèn rút kinh nghiệm, đưa những sự phức tạp trên vào tham luận “Mấy vấn đề thực tiễn khi viết điếu văn”. Cách đặt vấn đề mới, giải quyết độc đáo, dẫn chứng ngồn ngộn. Nhưng ở hội nghị Người cao tuổi quận, ban tổ chức trù úm thế nào đó, nhất định không cho trình bầy. Ông bèn sửa cái “tít” khiêm tốn hơn: “Thử bàn về công tác đưa tiễn”, gửi kỷ yếu ra dịp cơ quan tròn 50 tuổi. Thì “chúng nó” cũng không sắp vào.
Vào một năm hết Tết đến, ông Lãnh tính sổ, thấy lượng điếu văn sụt giảm bốn mươi ba phần trăm so cùng kỳ năm ngoái. Có những kỳ đưa tiễn, ông thấy câu khóc chả phải thứ của mình đã nộp. Hỏi cho ra nhẽ thì thằng văn phòng mới cứ “bận”, lên hẳn sếp phó nó cứ vòng vo. Dĩ nhiên phần quà sáng giảm hẳn, kéo theo khoản tang quyến cảm ơn.
*
Tức thị đã có kẻ khác thế chân, chiếm cái lộc khóc sang trọng. “Chim lợn cao quý” đời mới có máy tính lưu dĩ vãng chúng mình, hẳn công khóc không mất nhiều bằng. Thời của mình đã hết. Thôi, không đấu tranh giành lại nữa, âu cũng là luật “bất tận hưởng”, chả gì ông cũng bắt đầu chuyển từ “bác” sang “cụ”, thường xuyên bay lượn giữa các phòng khám. Điều này có vẻ tiêu cực, nhưng nó bắt ông chuyển sang một “tứ” khác rùng rợn hơn: Rồi cũng sẽ đến lượt mình. Kẻ kia, con chim lợn mới ấy, sẽ quàng vào mình những cục chữ mòn nhẵn, mớ mỹ từ lố bịch mà ông hằng áp cho người đi trước. Ô mà nhỡ nó thù dai, tố đểu những chuyện này nọ ra… Ông đã nặn lại người chết theo hình hài người sống thích, có lý gì “thằng mới” nó sẽ không “tái nặn lại” ông theo cái cách ông không thể ưa được.
Không thế được. Mình phải tự đưa tiễn lấy. Trong đêm, ông Lãnh toát mồ hôi với ý nghĩ mới và bắt đầu cuộc kiểm điểm. Ngày làm sếp xấu mặt khi viết phải một từ sai, bị lên lương chậm một năm, đưa vào thế nào được. Đận ăn vụng vợ thằng Z. bị nó quả tang, chạy thầy thợ mãi mới khỏi đi cơ sở, cũng không thể. Và đoạn còn trẻ lang bạt kỳ hồ, làm sao mà ông không sa chân được vào hầm nọ hố kia. Bản tự khóc của ông không thể sáng choang như anh hùng vĩ nhân, nhưng nó cũng phải được là nhẵn nhụi. Không tỳ vết, cho con cháu soi vào khỏi xấu hổ, thậm chí có chỗ tự hào noi theo. Và cũng để con chim lợn cao quý mới chưng hửng một phen.
Ngày xấu trời ông Lãnh ra đi. Gia đình đưa bài khóc soạn sẵn đến cơ quan. Nhưng chánh văn phòng mới quan điểm mới đã mượn người làm bản khác, chả biết có thể gọi là điếu văn...
T.C 2009

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009

LÀM ĐẸP CHO ĐỜI. (P1)

TC Lần này mời các bạn thưởng thức truyện ngắn để đổi bữa.
(Hình minh họa: "Trăng muộn"  Tranh giấy dán của Lưu Hữu Trí)



Tử vi ông Lãnh có sao chữ nghĩa. Thời đi làm phải luân chuyển luôn, đi đâu ông cũng dính tới giấy tờ văn bản. Chục năm cuối thì ngồi yên văn phòng bộ chuyên quán triệt rồi thảo bài nói chuyện cho sếp. Các chủ nhật ông nghĩ cách tạo ra “nguyên nhân khách quan” cho những sự cố dồn dập, vá lũ lỹ to tướng lỗ thủng gây sụt giảm sản xuất,
Rồi về hưu, vợ coi bằng cái đinh mục, đến cơ quan chả ma nào hỏi. Mà ông còn khỏe quá, ra các cụ rặt chuyện tiêu cực, nghiên cứu nhai dầu mè chữa bách bệnh với ngâm chân nước nóng phòng trừ phong tê thấp không hề ham. Khối u uất xuất hiện: lúc tại chức lắm nơi cầu cạnh hẹn hò lắm kia mà, sao giờ chả thằng chó nào héo lánh? Là tự hỏi thôi, vì biết mình đã qua thời.
Ngày đẹp trời ấy, anh trưởng phòng Tổng hợp cơ quan (cũ) lò dò sớm, vẻ mặt hết sức nể trọng. "Việc là thế này, cụ Tăng Trọng Pháo mới quy tiên, bác làm ơn thay mặt cơ quan viết cho câu tiễn biệt".
- Điếu văn chứ gì! Tôi có viết bao giờ đâu mà sai.
- Mọi khi thì trưởng ban liên lạc hưu viết, nhưng cụ bắt đầu lẫn rồi, chúng em sinh sau soạn nhỡ thiếu sót gì sợ mang tiếng. Cụ Pháo làm bấy nhiêu năm, ưu khuyết thế nào bác nắm cả, bác cứ khảo cứu những điếu văn khác, rồi rập lại, gia đình đọc không thắc mắc gì là được.
Nói rồi vụt đi, phong bì ba trăm để lại . Ngồi một lúc, ông Lãnh lần ra đầu sợi chỉ. Hồi những năm bẩy mươi, cụ Pháo nói năng sai quan điểm thế nào đấy, phải “đi” mất mấy tháng, nhận một tạ lỗi thì về được, chuyển sang văn phòng nhong nhong công văn, gọi dạ bảo vâng như cái bóng. Giờ thời thế thay đổi, mấy anh tại chức chả biết nên nhìn nhận cái “phốt” này thế nào, đá sang cho đám lại già tự xử đây. Láu cá thật.
Bèn bần thần nhớ lại bài học ngày mới ra trường. Còn trong veo, bị đẩy ra soạn tổng kết, Lãnh bị cấp trên đánh giá “văn hay chữ xấu”. Bản ấy không dùng nhưng người viết lại chuyển lên bộ phận thư ký vụ. Ngoài xếp lịch làm việc, tiếp khách cho sếp, nghiên cứu chồng văn bản trên nóc tủ, anh phải tập viết chữ lại cho dễ đọc. Văn bản lớn đầu tiên được giao soạn là báo cáo cuối năm của tổng công ty, sếp cả ghi bên lề “Lý luận chưa đi đôi với thực tiễn”. Lãnh rất hoang mang nhưng ông chánh văn phòng lọc lõi chỉ bảo “Chả có gì đâu. Chỉ là cậu nêu lắm “khó khăn chủ quan” quá”. Sau vài lần ậm ờ, “khó khăn chủ quan” được “dịch” ra là những hạn chế yếu kém của bộ phận lãnh đạo.
- Nhưng cái đó có cơ mà…, Lãnh cãi hăng.
- Những cái có trên đời mà đưa hết có mà chúng ta còn tồn tại được ở đây à? Hay chú mày muốn đi công trường?
Thực tế văn phòng tất nhiên quan trọng hơn thực tế công trường, nên anh nhân viên mới bỏ luôn tì vết của lãnh đạo, thế vào những chỉ đạo sáng suốt quên ăn quên ngủ chả bao giờ có ngày nghỉ. Lãnh phục lăn khi ra hội nghị, sếp cả ngon lành nhận tất cả những đóng góp chân thành của cơ sở, hứa khắc phục chỗ này phát huy đoạn khác rồi chả ai còn thắc mắc gì nữa. Cuối năm sếp được chiến sĩ thi đua toàn ngành, qua năm sau đón nhận huân chương Lao động, tất nhiên báo cáo thành tích anh soạn…
Điếu văn được soạn ra trên cơ sở tham nghiên khảo lý lịch Trọng Pháo, trao đổi với cơ quan chuyên trách đã đưa ông cụ “đi” trước đây, truy sưu tầm những bản cùng thể loại khác, phết phẩy ý kiến lãnh chỉ đạo của sếp đương chức vào. Ngoài những câu "gia đình mất đi...", "cơ quan nhớ tiếc...", "ban liên lạc hưu trí thiếu vắng...", nó đủ dài để người đọc - là sếp phó - bầy tỏ hết sự tri ân của người đi sau, đủ ngắn để người nghe chưa kịp chán. Còn cái điểm chính cụ ấy mắc, ông Lãnh gửi câu “sống hồn nhiên, nhạy cảm, nên không khỏi có lúc vất vả”. Thế vừa khéo lại đủ, ai biết hay không biết “phốt” ông cụ đều hiểu theo cách của mình được. Vậy nên được duyệt cái tắp.
Ngày đám, đứng trong đám đông, ông Lãnh không nghe ai ta thán gì. Về cái phong bì, ông thấy người cũ với nhau hay hớm gì mà thù lao câu khóc. Nhưng anh văn phòng bảo "thành chế độ rồi", đã chi không ai vào lại quỹ. Bỗng dưng dôi mươi bát cháo lòng hay phở sáng, và tách cà phê sau đó, bèn thôi.
Ngày sau tang quyến lại cảm ơn cùng dăm bao thuốc, nửa cân chè Thái. Vẽ quá! Không ngờ cái sự chu đáo ra nhiêu khê đến thế... Nó làm ông bâng khuâng nhớ tiếc công việc, một ngày soạn vài bài nói cho sếp, thay câu “chào các bạn trẻ đang đầy nhiệt huyết” ở cuộc họp thanh niên thành “kính thưa các bác các cụ” khi ra hội nghị người cao tuổi, lại làm thế nhưng đảo đoạn giữa lên trên đầu ở cuộc họp phụ nữ. Phòng tổng hợp của ông cuối năm tổng kết đã tổ chức bấy nhiêu hội nghị, điều ngần nọ chuyến xe. Nhớ tiếc và hơi hơi phát phiền, vì việc đến thế là hết.
Nhưng lực lượng hưu trí của cơ quan phát triển lên, lớn mạnh về quân số và trẻ hoá thấy rõ. Thường cứ dăm “bác” về (như ông) thì vài “cụ” nhập viện, rồi một người phải vô cùng thương tiếc. Lâu lâu chánh văn phòng lại đến, đem theo một cái trích ngang. “Nghĩa tử là nghĩa tận”, cái tinh thần ấy phải được quán xuyến trong mọi cuộc vĩnh biệt, tức là chết hay sống đều phải có khuôn khổ, không thể tự dưng ra dưng.. Thành thử ai ra đi đều trong veo như pha lê Tiệp. Cụ V. sinh thời miệng lưỡi độc địa, có tên tục “Dũng sĩ diệt đồng đội”, trao đi đổi lại mãi, cuối cùng lời tống tiễn được thảo theo hướng “tích cực đấu tranh phê bình”. Cụ X. chót không thanh quyết toán được một khoản tiêu một mực được đánh giá “liêm khiết, thanh bần, chả tơ hào lấy một ly leo xu hào”. Với sở trường viết lách xưa, ông Lãnh phong cụ này chức giáo sư tiến sĩ, tặng cụ kia cả đống huân huy chương, kể lể “quá trình kinh qua”, các cống hiến, “hô biến” những giai đoạn “đáng tiếc”.
Cụ T., đùa nhả và dai nhất, nằm cả chục năm ba lần con cháu khóc inh cả lên. Bản đầu tiên hội hưu chê dài, cái thứ hai sau đó năm năm, anh con cả bảo tóm tắt quá. Coi như vốn chất xám bị “đọng”, lại tự trách mình lưu hồ sơ không tốt, thế mà bản thảo cuối cùng, ông Lãnh vẫn phải viết “tạo điều kiện cho con cháu tỏ chí hiếu”. Đáng yêu nhất là những cụ đi nhanh, ông thưởng câu “không muốn để thân nhân phải khó nhọc”. Đấy là “những thách thức” của thời kỳ mới, nó khiến ông phấn khích hơn, nghĩ ra câu giải quyết rất hài lòng. Có ai ngờ những cụ chân chỉ hạt bột cả đời chả ưu khuyết mạnh yếu nào trầm trọng lại khó viết nhất, chả biết thêm gì bớt gì vào các trích ngang.
“Mình được ăn lộc âm, giống anh tẩm liệm hoá trang mặc com lê com táo cho người chết ở nhà xác, nhưng sang trọng hơn nhiều”, mỗi lần nghĩ vậy ông Lãnh không khỏi thú vị. Ngoài khoản tiền chấp bút cơ quan chi, ông hay được tang quyến hậu tạ, chè thuốc đem ra hàng nước cuối phố. Chi tiêu thế là phải chứ, đám tang cùng trăm thứ bà rằn theo sau là để cho anh sống, chứ thằng chết còn lý gì được.

(còn tiếp)
TC 2009