Hiển thị các bài đăng có nhãn văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

Tạ Chiến viết...

           

  GÓC  KHUẤT  NGƯỜI  ANH  HÙNG  
                                              
                                                            Tạ Chiến

                                   Ghi theo lời kể của Tuấn Việt 
                   Cựu Học viên Học viện Phòng không - Không quân 
                          - Nguyên học sinh Trường Nguyễn văn Trỗi . 

  Xin nói rõ anh về hưu mang quân hàm cấp tá , nhưng chưa bao giờ được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang hay anh hùng lao động . 
   Đơn giản là cuộc đời chẳng thể nào công bằng cho tất cả mọi người ! 
Nhưng dưới mắt đồng đội , bạn bè ... từng sát cánh trong giai đoạn ác liệt nhất của chiến tranh , ở mảnh đất Nam Trung bộ bi hùng những năm 1966- 1970 đều coi anh là người anh hùng 
      Vì sao ? Đó lại là câu chuyện dài  . 
 Chỉ biết trong tay anh sở hữu gần chục bằng dũng sỹ Diệt Mỹ  ...mà chẳng mấy khi Anh xem lại hay khoe với mọi người . 

Một ngày tháng Tư , anh kể tôi nghe những điều anh giấu kín . Những điều mà anh bảo chẳng hay ho gì . Nhưng với tôi là câu chuyện rất thật , rất đời mà  từ trước tôi không biết , hay nôm na là những góc khuất trong cuộc đời người . 
Trong làn khói thuốc lá đặc quánh , anh chậm rãi kể , câu chuyện cứ như cuốn phim hiện ra

       1- PHÚT YẾU LÒNG  :
Đường ra trận mùa đông 1966 thật ác liệt . Xe chở quân từ thị xã Hoà bình đến ga Vinh một đêm tối trời , mưa và lạnh . 
       Ga Vinh vừa bị ném bom buổi chiều . Mùi bom cháy khét lẹt , ngổn ngang 
 hàng  hoá , xe cộ . Những bóng người lầm lũi dọn dẹp đống đổ nát ... 
       Tôi theo đội hình của Trung đoàn hành quân bộ đi tiếp vào phía nam . Dáng người mảnh khảnh của tôi như bị chiếc Ba lô con cóc nặng 30kg kéo oằn lại . Chiếc gậy chống vung như vô hồn . 
        Không có tiếng reo náo nức chảo đón đoàn quân , không có những ngôi sao khuya lấp lánh như mắt người bạn gái ... Đôi chân rã rời ,mồ hôi lã chã ... 

         Tôi đã khóc - khóc nhớ Mẹ , nhớ bạn bè . Mấy thằng bạn cùng lớp Dự bị Đại học với tôi , chắc giờ này đang ở Matscova hay Beclin vui chơi , học hành . Sướng thật . 
         Tôi tự trách mình sao nông nổi . Chỉ vì cãi nhau với tay lớp trưởng  mà dứt áo ra đi , quyết bỏ học giữa chừng lên đường nhập ngũ . 
       Lý do đi lính chẳng đẹp như phim Bài ca ra trận . 

      Những đoàn quân đi ngược chiều ra bắc . Họ cũng rất trẻ . Gầy gò , da xanh mét nhưng ánh mắt thật sáng và tự hào . Những người Lính ngày ăn cơm Bắc , đêm đánh giặc Nam đây rồi .  
       Họ chịu được , sao mình hèn thế . Đã đi rồi thì đừng hối tiếc ?

        Phút yếu lòng những ngày đầu vào Nam , xa đất Bắc ...  qua rất nhanh ! 

         2 - TRẬN ĐẦU -ƯỚT ĐŨNG QUẦN : 
    Cả trung đội đón lõng , phục kích đoàn xe cơ giới từ Nha trang  lên thành phố Ban mê thuột qua Quốc lộ 26 . Tôi phụ trách khẩu B40 , ngụy trang  nằm cách mặt đường chừng 50 m . Trận đầu ra trận run quá . Đoàn xe 15 chiếc vừa M113 , vừa xe tải GMC ầm ì tiến vào trận địa phục kích . 

      Nhìn thấy tụi lính lố nhố trên các xe , súng lăm lăm nhìn ra hai bên đường đầy cảnh giác . Tôi có cảm giác chúng nó nhìn thấy mình rất rõ . Tim đập thình thịch , hơi thở gấp gáp như bị nghẹn ... 

    Bắn - rõ ràng nghe tiếng trung đôi trưởng ra lệnh , mà sao tôi không tài nào bóp cò nổi . Tay như cứng lại , xung quanh súng nổ inh tai ...  rồi tôi cũng bắn được quả đạn B40 đầu tiên một cách vô thức .
     Tôi thấy một xe , hai xe ... Bốc cháy .  Đạn quân Mỹ bắn chiu chiu quanh trận địa . Số xe còn lại quay đầu trở lại hướng Nha trang . 

     Được lệnh rút , tôi thấy ớn lạnh và ướt sũng  đũng quần . 
     Trận đầu , vừa  run , vừa hồi hộp , tôi đái  ra quần lúc nào chẳng biết . 

           3 - NỖI  ĐAU  CHIẾN  TRANH : 
   Chiến tranh là chết chóc , là sự chia lìa và đau khổ . 
 Dạo này Tuấn Việt rất khó ngủ . Anh ngại xem phim về đề tài chiến tranh , dẫu chuyện ở hậu phương hay tiền tuyến . Anh cảm thấy nặng nề , mệt mỏi . 
    Những cảnh nước  mắt của các bà mẹ , người vợ khi nhận tin báo tử làm Tuấn Việt xót xa , đau đớn . 

   - Tao đã bắn chết 56 lính Mỹ ( theo cách tính của đơn vị ) ! Điều đó có nghĩa 56 bà mẹ Mỹ mất con . Tao có cảm giác có những đêm họ kéo đến tìm tao ...    
     Vẫn biết chiến tranh , không bắn tôi thì tôi sẽ bắn anh , nghiệt ngã cùa cuộc chiến là thế ? 
     
  Nhưng không hiếu sao Tuấn Việt vẫn thấy day dứt , man mác buồn và bất an . 

     Có lẽ đó là Hội chứng Chiến tranh của những ai tham gia trực tiếp cầm súng ? Xét cho cùng , chiến tranh là nỗi đau của nhân loại .
    Đã là Mẹ thì nỗi mất con là như nhau , dù đó là Bà Mẹ Mỹ hay Bà Mẹ Việt ! 
      Tuấn Việt hơn ai hết , anh hiểu điều đó 
. Anh bảo : Dạo này ngủ hay gặp ác mộng ! 

    Tôi hiểu Anh và hiểu thêm nỗi đau nữa về chiến tranh , mà ở đó  TÌNH YÊU THƯƠNG VÀ LÒNG NHÂN ĐẠO bị thua cuộc . 
                                                  
 Sài gòn 4/6/2015

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Tuổi thơ chúng ta đã đi qua chiến tranh


SƠ TÁN Ở ĐẠI T

                                              Hồ Như Nguyện
  ( Viết tặng Lê Thanh Sơn K3,Hồ Xuân Nam K3,Lê Thanh Trung 
K6,Hồ Phương Bình K7 và các em Lê Thanh Hà,Lê Thanh Hoa)

Những ngày đầu 

   Đúng là giữa chúng tôi có duyên nhưng không nợ.Thời kháng
chiến chống Mỹ,cha mẹ hai bên cho lũ trẻ con đi sơ tán cùng
nhau những ba lần.Trước tiên ở thị xã Sơn tây,sau vì thấy Sơn
tây tập trung nhiều bộ đội (ấy là các cụ nói chứ lúc đó chúng 
tôi còn quá nhỏ,chẳng biết gì) nên đưa cả lũ lên Đại từ , rừng 
rú cho yên ổn..Sau các cụ nghĩ, cầu Long biên -tầm ngắm của 
không lực Huê kỳ,lại rút quân hết về làng Chèm Vẽ,cách Hà Nội 
hơn chục cây số.Nếu có phép  mầu nhiệm cho tôi được chọn 
trở lại quá khứ ở một thời kỳ nào đó thì tôi chỉ đau đầu,nát óc 
với hai giai đoạn mà tôi thương nhớ khôn nguôi,dó là Quế lâm 
và Đại từ.Chính những nơi này ,tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc 
nhất,ngộ nghĩnh nhất,đáng yêu nhất.
  Có lẽ...Không...Chắc chắn,,tôi sẽ chọn Đại từ.!

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Hưởng ứng ngày họp Khóa 3.07/08/2011


 Một lần tới Cối xay gió-Thung Nai

 Theo lời hẹn với anh Lữ Thái,lần này ra Hà nội , chúng tôi lên chơi Cối xay gió Thung Nai. Hai ngày sau lễ Noel, 8h30 sáng chủ nhật 27/12/2010  xe xuất phát từ Viện KHCN QS.
  Trời trở rét đậm.
  Trên chiếc xe 15 chỗ ,ngoài chú em  lái xe vẻn vẹn chỉ có 5 người,rộng thênh thang.Tuấn Linh,Hà Đông và Lữ Thái là K3 NVT,chú Hồng Cơ K9,ở TP.HCM cùng đơn vị,tác giả "Bức thư gửi từ nước Mỹ" (đăng trên blog K3).Và một may mắn đặc biệt với cánh SG chúng tôi -có anh Trần Đức Duy K2-"Chúa đảo" Cối xay gió-làm trưởng đoàn.


                              Đường đi từ Viện KHCN QS tới Thung Nai
                               
  Qua thành phố Hoà Bình xe bắt đầu rẽ vào đường QL6: con đường "Tây Tiến"-có một biển nhỏ đề như thế, làm khách lữ hành cứ ngỡ như đang đi vào một con phố.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2008

TINH KHÔI

Nhân ngày 22/12 sắp đến, đọc blog thấy nhiều bạn kể lại vài chuyện vui buồn đời lính, tôi bỗng nhớ lại chuyện này. Trước đây có lẽ nó thuộc dạng “mật” (về cả nghĩa đen và bóng). Nay lại thuộc dạng … chẳng có gì (!) Chỉ là kể lại cho vui. Ai xem đừng cười.

* *

Sau ngày giải phóng miền Nam ít lâu, bọn Pôn Pốt bất ngờ đánh chiếm một đảo của ta ở cực Nam. Chúng tàn sát hết số dân Việt bấy nay ở đó, quăng xác xuống biển phi tang (chuyện này khi ấy chỉ phổ biến hẹp trong các đơn vị hải quân vùng 4 và vùng 5 duyên hải. Ai nghe cũng sôi sục lắm)). Ta điều một đơn vị hải quân đánh bộ ra chiếm lại đảo. Trận đánh ác liệt mà nhanh gọn. Bọn địch bị tiêu diệt, nhưng vẫn còn một số chạy thoát, tản mác trong rừng. Lệnh trên là phải nhanh chóng củng cố trận địa phòng ngự và truy quét cho kỳ hết bọn tàn quân…Sự kiện này ngày ấy, vì nhiều lý do, đài báo hai bên đều không đưa tin (coi như “ai làm nấy chịu” không liên quan chi đến nhà nước hai bên cả).

Khi ấy , tôi là một sĩ quan trẻ, được giao nhiệm vụ dẫn một tốp lính lên đảo để lập ngay mạng thông tin và đài quan sát biển. Tốp lính này đa phần là nam, nhưng cũng có hai cô gái chuyên ngành kỹ thuật. Đảo nhỏ, nhưng cũng có núi cao, rừng rậm, ghềnh đá hiểm trở và còn cả kẻ địch đang rình rập (Bọn tàn quân trong rừng và tàu địch lởn vởn ngoài khơi định tái chiếm). Vậy nên các nhóm công tác đều phải luôn trong tư thế sẵn sàng. Sau một ngày làm việc quần quật (khuôn vác gỗ, đá, lắp đặt khí tài…) chúng tôi tạm nghỉ bên bìa rừng. Mọi người tranh thủ nấu cơm, tắm giặt. Qui định là : Đi đâu cũng đều phải có từ ba người trở lên, cùng vũ khí. Nấu xong cơm, hai cô gái (được anh em gọi đùa là “hai người đẹp nhất đảo”) đến xin phép tôi để đi …tắm. Phiền nỗi, họ chí có hai người và cũng chưa biết đường ra suối. Mọi người “phân công” tôi đi cùng (với cái lý : Chỉ huy đi cùng là “chắc ăn” nhất, khỏi có chuyện gì “lôi thôi” (!)) Từ chối không xong, tay dao, tay súng tôi dẫn hai cô ra suối. Vừa đi, tôi vừa chặt cây làm dấu, dặn dò cẩn thận:

– Lát nữa các cô cứ theo vết dao chém này mà về. Có chuyện gì thì nổ súng báo động.

Đến một đoạn suối bằng phẳng, có nhiều hoa rừng rất đẹp, tôi định quay lui, thì cả hai cô gái đều trợn tròn mắt lên :

– Cơ mà… Chúng em sợ lắm… Đang tắm… nhỡ ai đến thì…

– Hôm qua đổ bộ tấn công các cô xông xáo lắm mà – Tôi cự lại - Sao giờ lại nhát thế ?

– Khi ấy khác. Bây giờ… khác – Một cô lý sự – Mà chính anh đã ra lệnh là đi đâu cũng phải có từ ba người trở lên và súng đạn phải luôn sẵn sàng cơ mà.

Tôi đưa khẩu tiểu liên AK và con dao rừng (thực ra là một thanh gươm Miên sắc lẻm) cho họ. Hai cô nhìn nhau… Tôi rút khẩu “rulo” chiến lợi phẩm lận sau lưng ra tính đưa nốt. Nhưng cả hai cô đều lắc quầy quậy :

– Sáng nay ta vừa chạm súng với bọn tàn quân. Chắc chúng vẫn còn rình rập đâu đây ! Chúng em đang… tắm, dù có súng đại bác cũng thua.

Tôi đâm ra bối rối không biết xử lý thế nào “tình huống ngoài dự kiến “ này :

– Thật rắc rối. Thế thì khỏi tắm. Về ! – Tôi quát.

Hai cô ngơ ngác nhìn nhau, rồi một cô ấp úng như sắp khóc :

– Là… là… chúng em… nhờ thủ trưởng… gác dùm cho chúng em… tắm.

Đến thế là … cùng. Tôi đỏ mặt… Lúc này họ mới dùng đến cái danh “thủ trưởng” (nghĩa là nhắc khéo đến trách nhiệm của mình)(!) khiến tôi chợt nhớ lại hôm lên đường, chính ủy có dặn riêng tôi :

– Vì yêu cầu nhiệm vụ mà phải cử hai cô này đi, chứ cũng… lo lắm. Đã chiến đấu thì sẽ có thương vong. Nhưng nếu mấy cô này có “làm sao” thì cậu đừng có mà … về gặp tớ.

Nghĩa là nhiệm vụ này cũng rất rõ ràng, tôi đành lẳng lặng bước ra xa và quay mặt đi :

– Vậy thì… nhanh lên ! Năm phút thôi đấy.

Được lời như cởi tấm lòng, cả hai cô gái chạy ào đi ngay.

– Anh cứ đứng… xa xa là được – Một cô khúc khích nói vọng ra từ sau bụi cây – Miễn là…

– Không được. Anh phải đứng… gần gần lại, và quan sát thật kỹ, lỡ có… gì thì… – Cô kia cãi lại ngay (làm như “thủ trưởng” chỉ là cục đá vậy, chứ không phải là một gã… đàn ông chính cống).

Họ cứ “chí chóe” như vậy cho đến khi có tiếng nước suối vang lên bì bõm. Mắt tôi nhìn thẳng đăm đăm (chẳng biết có ai chứng giám cho không (?)) Nhận ra “trọng trách” của mình, lại có phần tự hào vì được cả hai “người đẹp nhất đảo” tin cậy đến vậy, nên tôi nhấc khẩu tiểu liên và lên đạn cái “rẹc”, khiến hai cô gái thất thanh :

– Sao vậy?

– Có địch… hả anh ?

– Không… Không! Yên tâm đi. Đã có… anh – Mắt tôi vẫn nhìn chăm chăm ra mé rừng.

Lát sau, bỗng chân tôi buốt nhói, nhảy dựng lên ngay. Hóa ra tôi vừa lỡ đạp phải một ổ kiến rừng. Lũ kiến vừa to vừa hung dữ. Chúng xông ra ào ạt và ngoác miệng cắn bất cứ thứ gì. Không thể dùng súng để “nói chuyện phải quấy” với chúng, tôi đành tháo lui lên một gò đất cao. Thật bất ngờ, từ đây tôi có thể quan sát toàn bộ vùng vịnh rất đẹp trước đảo (và cũng là nơi duy nhất tàu thuyền có thể ra vào). Từ đây, nếu đặt hỏa lực mạnh, còn có thể khống chế được cả con đường độc đạo từ biển lên rừng… Thật là một “điểm cao chiến lược”. Đặt đài quan sát ở đây thì còn gì bằng! Thế mà cả ngày nay tôi cứ loay hoay tìm mãi chưa ra. Tôi thầm rủa bọn lính Pôn Pốt ngu xuẩn, không biết khống chế ngay điểm cao này, nên khi quân ta ập vào, chúng đã không kịp trở tay… Tôi thận trọng nhìn quanh, tính toán ước lượng từng khoảng cách một để về báo cáo. Tay vung dao phạt bớt mấy cành cây che khuất. Và thật bất ngờ! Tôi bỗng sững sờ : Ngay dưới kia không xa, nơi dòng suối êm đềm tuôn chảy là hai “tòa thiên nhiên” của “hai người đẹp nhất đảo” ngời ngời hiện lên giữa làn nước trong xanh, với sức sống tràn đầy, làn da ngần trắng…

Tôi như bị… thôi miên (!) Bạn thử hình dung : Với một chàng trai mới ngoài 20 tuổi, rất nhạy cảm, đang hừng hực xông pha, thì đó quả là một sự khám phá, một thế giới… tinh khôi! Súng, dao, rơi ra từ lúc nào, tôi tựa vào một thân cây, mê hoặc, thở ra nặng nhọc… Giữa cái thời hơi hướng chiến trận vẫn còn hầm hập, ai cũng gươm súng lăm lăm, máu xung sát bốc cao ngùn ngụt, thế mà lại có lúc tất cả bỗng nhiên ắng đi, mơ màng. Như không hề có trận kịch chiến hôm qua. Như không hề có kẻ thù rình rập. Như tất cả chỉ còn lại có chừng ấy thôi : Trời xanh, suối biếc, cây rừng và nét duyên con gái hồn nhiên… Lát sau, tôi giật mình, nhặt vội súng, dao lên; nhắm nghiền mắt lại, lảo đảo quay đi, lòng mông lung tự trách mình nhiều lắm. Tôi nằm vật ra bãi cỏ, mở mắt nhìn lên bầu trời cao rộng thắm xanh… Bỗng một mối lo âu ráo hoảnh đột ngột dâng lên : Nếu bọn tàn quân địch bất ngờ xuất hiện thì sao ? Rất có thể lắm chứ ! Chúng chỉ quanh quẩn đâu đây thôi… Nếu vậy thì cả cái “thế giới tinh khôi” mà tôi vừa cảm nhận đến run rẩy ấy sẽ tan tành, vỡ vụn ! Mà hình như suy cho cùng, ta cầm súng đi lang thang đây đó bấy nay, cũng chỉ để giữ gìn cho sự tinh khôi này. Tôi bật ngay dậy như một chú gấu sau cơn say mật, lầm lì xách súng tiến lại phía điểm cao : “Phải trấn ngay nơi ấy, không vì bất cứ điều gì mà…”. Đúng lúc đó hai cô gái đã rẽ lá rừng bước ra trong bộ quân phục bạc màu còn loang nước. Ánh mắt họ lấp lánh đầy vẻ tinh nghịch và luôn miệng cám ơn tôi (chắc họ vẫn nghĩ rằng tôi luôn là một “thủ trưởng”… mẫu mực (!)).

Tôi đỏ mặt quay đi, giả bộ càu nhàu :

– Lâu thế, đói lắm rồi đây.

Lặng lẽ xách súng lùi lại phía sau và không đáp lại lời cám ơn của hai cô gái, tôi mỉm cười thầm nghĩ : “Chà, không biết là ai phải cám ơn ai đây?!”. Quả có hơi mông lung một chút. Biết sao được! Nhưng suy cho cùng cũng chỉ tại cái lũ… kiến rừng hung hãn mà thôi./,

CHÍ THỌ (K3)