Hiển thị các bài đăng có nhãn lich sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lich sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Hội thảo 60 năm Chiến Thắng Điện Biện Phủ



                   ĐĂNG KÝ THAM DỰ HÔI THẢO QUỐC GIA

                “ĐIÊN BIÊN PHỦ VÀ HIÊP ĐỊNH GENÈVE-NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ”

Họ Và Tên: TRỊNH THÀNH CÔNG      
Nơi công tác: KHOA LỊCH SỬ- ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH                    
Địa chỉ cư trú : 40/17/11 NGUYỄN VĂN ĐẬU P.6 Q. BÌNH THẠNH                
Điện thoai liên lạc : DĐ 0918333920- ĐT Cố định (08) 66831867                     


ĐỀ TỰA THAM LUẬN: MÔT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐIÊN BIÊN PHỦ VÀ SỰ HOẠCH ĐỊNH KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN TRONG ĐÔNG-XUÂN 1953-1954 CỦA BÔ TỔNG TƯ LÊNH QĐNDVN &  KẾ HOẠCH NAVARE

.TÓM TẮT NÔI DUNG THAM LUẬN :  

   Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, độ dàicủa thời gian có lẽ cũng đã đủ để nhìn lại và xem xét một cách khách quan và toàn diện hơn về một sự kiện đã từng làm “chấn động toàn cầu”, “tại sao Điện Biên Phủ” và “ tại sao dấu chấm hết của  cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai kéo dài 9 năm lại được đặt ở một vùng rừng Tây Bắc cách Hà Nội hơn 200 km đường chim bay, chứ không phải là Sài Gòn, Hà Nội vốn là những trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội của chế độ thuộc địa từ đương thời ? Tại sao Điện Biên Phủ vốn không nằm trong “kế hoạch Navare”, cũng như chưa bao giờ được coi là “ chủ trương chiến lược” của ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953- 1953 ( như cách nói của một số các tác giả trong một số các tài liệu giáo khoa), có chăng theo Đại tướng Tổng tư lệnh QĐNDVN Võ Nguyên Giáp lúc đó chỉ là “ kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954”,lại trở thành một trận chiến lịch sử mang tầm vóc chiến lược, nhưng rồi từ những kết quả với nhiều hạn chế của Hiệp định Genève về Đông Dương 1954 cả hai bên tham chiến chủ yếu là Việt Minh và Pháp đều không thỏa mãn nhưng vẫn phải ngậm ngùi chấp nhận.                                                                           
   Tác giả tham luận không hy vọng có thể giải mã một cách trọn vẹn những vấn đề đã đặt ra, chỉ mong nhận được nhiều những phản hồi trong sự trao đổi dưới góc độ mang tính khoa học, để có góp phần làm sáng tỏ phần nào những trăn trở xung quanh một vấn đề lịch sử còn nhiều ẩn số khá lý thú và hấp dẫn.  





HỘI THẢO QUỐC GIA :                                                                                                  .            
ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE –NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ                    .                                             
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ SỰ HOẠCH ĐỊNH KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA BỘ TỔNG TƯ LỆNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG ĐÔNG-XUÂN 1953-1954 & KẾ HOẠCH NAVARRE.                                                          .                                                        Trịnh Thành Công   Khoa Lịch Sử- Đại học Sư pham Tp Hồ Chí Minh

  
 60 năm đã qua kể từ thời điểm lá cờ mang dòng chữ “Quyết chiến quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
được các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao trên nóc hầm của tướng De Castries tại Điện Biên
 

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

100 năm Ngày sinh Giáo Sư Viện sỹ Trần Đại Nghĩa




VAI TRÒ CỦA CỤC TRƯỞNG CỤC QUÂN GIỚI TRẦN ĐẠI NGHĨA VỚI SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN GIỚI VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
                                                                    (1945-1954)
                                                                                                                                                                                    Lê Công


  Lịch sử sự ra đời và phát triển của ngành quân giới Việt Nam cũng như những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược(1945-1954) với đường lối kháng chiến “ Toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chinh” của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng , Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa ( 1913-1917).  Bằng những tài liệu hiện có, tham luận hy vọng góp thêm một vài kiến giải về vai trò cũng như những cống hiến trên lĩnh vực khoa học quân sự thuộc ngành quân giới của Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, người được mênh danh là “Ông vua vũ khí” trong lịch sử quân giới Việt Nam.


Giáo sư Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ sinh ngày 13-9-1913, quê nội ở Thủ Dầu Một- Binh Dương, nhưng được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Măng Thít thuộc làng Chánh Hiệp, quân Tam Bình( nay là ấp 6, xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long).

Từ tuổi ấu thơ và cho đến khi trưởng thành, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thân phụ- ông Phạm Quang Mùi ( 1882-1920) một nhà giáo nghèo đã từng đậu Thành Chung, làm nghề dạy học ở Vĩnh Long, am hiểu Nho học và có học vấn cao về văn hóa và văn minh Phương Tây, vì thế khi cha mất (1920) khi mới chỉ 7 tuổi và gia cảnh khó khăn, nhưng với sự nuôi dưỡng của thân mẫu- bà Lý Thị Diệu( 1881- 1941) và chị gái- Phạm Thị Nhẫn, ông vẫn kiên trì theo đuổi con đường học vấn.
Năm 1926 sau khi hoàn thành chương trình tiểu học với kết quả cao, ông được nhận học bổng hạng ưu tại Trung học Mỹ Tho để hoàn thiện chương trình trung học đệ nhất cấp vào năm 1930, rời Mỹ Tho lên Sài Gòn với học bổng của Trung học Pétrus Ký, năm 1933 ông đã hoàn thành chương trình trung học đệ nhị cấp với hai bằng tú tài bản xứ và tú tài Pháp ban Toán và ban Triết.Năm 1935 với giúp đỡ của nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938), ông đã nhận được học bổng của Hội Ái hữu trường Chasseloup Laubat để tới Paris (Pháp) du học, ở đây để có thể thi vào đại học, ông đã hoàn tất chương trình của một trường trung học đặc biệt trong thời gian 01 năm (giảm được một nửa thời gian theo quy chế). Sau đó với 11 năm (1935-1946) ông đã có bằng Đại học của các trường Đại học danh tiếng ở Paris như Đại học Cầu-Đường Paris, Đại học Mỏ, Đại học Bách Khoa, Đại học Điện, Học viện Thống kê, Viện Khí Động học, Học viện Kỹ thuật Hàng không và các chứng chỉ cơ bản của Đại học Tổng hợp Sorbone.
Vũ khí quân sự cũng một trong những lĩnh vực được ông đặc biệt quan tâm, rất nhiều tài liệu về vũ khí của người Đức đã được ông nghiên cứu trực tiếp bằng tiếng Đức, trong thời gian làm việc trong phòng thiết kế của một hãng chế tạo máy bay dân dụng và quân sự, ông đã tiếp cận với kỹ thuật vũ khí quân sự như súng, pháo, bom, mìn, một khối lượng lớn các tài liệu mật về chế tạo và sử dụng các loại vũ khí với khoảng trên 30 ngàn trang đã được ông bí mật thu thập và đưa về nước vào năm 1946.
Tháng 9-1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách của nước Pháp và tham dự Hội ngị Fontainebleau, ông đã cùng với Bác và một số trí thức yêu nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, các kỹ sư Võ Trí Huân, Võ Đình Quỳnh trở về nước, trực tiếp tổ chức nghiên cứu, chế tạo vũ khí tại chiến khu Việt Bắc, xây dựng ngành quân giới Việt Nam, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp(1945-1954).(1)

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

LC trả lời theo yêu cầu của bạn

                  +  Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng

+Gửi Trun DC và các bạn quan tâm, yêu thích Văn hóa Việt Nam

 Nói tới xứ Quảng như trong bài viết của LC, các bạn đã đọc, có thể nhận thấy vấn đề đươc xem xét dưới góc độ Văn hóa học.
Việc xác định Tọa độ Văn hóa VN đòi hỏi phải nhìn nhận xem xét trên ba phương diện chủ yếu:Chủ thể văn hóa, không gian văn hóa thời gian           văn hóa , trong đó không gian văn hóa hay vùng văn hóa hoặc địa-văn hóa là những vấn đề khá thú vị tạo nên cảm hứng cho du khách và tất nhiên là cảm hứng văn chương cho TC và nhiều thi nhân trên nhiều trang viết.
Như thế nói tới xứ Quảng là nói tới một tiểu vùng văn hóa đã được các nhà văn hóa học VN xác định dưới góc độ địa- văn hóa, chứ không thuần túy là địa lý- hành chính như là một hay năm tỉnh có chữ Quảng ( Quảng Ninh- Bình- Trị- Nam- Ngãi) hay “ Ngũ Quảng” trước đây ( Quảng Bình- Trị- Quảng Đức- Nam- Ngãi). Hiện nay quan niệm của các nhà Văn hóa học về các vùng văn hóa ở VN cũng chưa thống nhất : năm ,sáu hay bấy vùng văn hóa, về các tiểu vùng văn hóa còn phức tạp hơn. Tuy nhiên tiểu vùng văn hóa xứ Quảng đã được mặc nhiên thừa nhận với trung tâm là Quảng Nam và ảnh hưởng lan tỏa tới Quảng Ngãi, Bình Định.

- Gửi TC  +  Ảnh hưởng của Văn hóa Hán

Bia Võ Cạnh đã có thể cho biết về sự ra đời của các tiểu quốc ở phía Nam Cù Mông với tên gọi Panduranga, nhưng trước đó vài thế kỷ , Bắc Chăm vẫn còn đưới sự đô hộ của nhà Hán. Khi Lâm Ấp ra đời, các quan hệ thương mại với Trung Quốc vẫn được duy trì, di dân từ TQ vẫn đến đây để dần dần hình thành cộng đồng Minh Hương trong các TK XVII- XVIII.
Nói về Lâm Ấp được biết từ TK II đến TK V đã có sự phát triển với hai giai đoạn gắn liền với tên tuổi của Khu Liên Phạm Văn cũng như Khu Liên , Phạm Văn không phải là tên người, có thể chữ Phạm có mối liên hệ nào đó có liên quan đến Bà La Môn giáo- Phạm là sự phiên âm của Brahma sang chữ Hán. Gọi là họ Phạm là cách nói theo văn hóa TQ để chỉ một thân tộc.
Lên cầm quyền năm 336, Phạm Văn là người có công xây dựng và phát triển Lâm Ấp thành một vương quốc độc lập. Theo thư tịch TQ, Phạm Văn là di nô của di soái Phạm Chuy ở Tây Quyến ( quân trị quận Nhật Nam), đã từng sang TQ buôn bán, có tài liệu nói ông là người Dương Châu (TQ), bị bán sang Giao Châu làm nô, khi vào Lâm Ấp buôn bán đã giúp Phạm Dật xây dựng thành quách, chế tạo vũ khí, khi Phạm Dật chết ông đã kế vị ngai vàng

   + TK8: Văn hóa Sa Huỳnh tồn tại từ sơ kỳ đồ đồng ( 2000 năm TCN) đến sơ kỳ đồ sắt( TK VII-VI TCN đến TK I/II ) , đồng được sử dụng chế tạo vũ khí, chế tạo đồ sắt như : dao, liềm , vũ khí. Thủy tinh nhân tạo là một thành tịu rực rỡ của Văn hóa Sa Huỳnh, để làm đồ trang sức như hạt cườm, khuyên

LC

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Tìm hiểu : Xứ Quảng


ĐÀ NẴNG  ĐẤT & NGƯỜI
 ( Phần 1 )
                                Lê Công 
    Một vài nét chấm phá về vùng đất mà anh em mình sẽ quần tụ  ở đây vào những ngày đầu tháng 8 này. Các bạn đọc chơi cho vui.

Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
    Không gian văn hóa xứ Quảng, trong đó có Đà Nẵng bao gồm cả Quảng Nam và Quảng Ngãi, trải dài theo trục Bắc- Nam với chiều dài khoảng 300km và chiều ngang rất hẹp nơi rộng nhất như Quảng Nam chỉ 100km.
    Dựa lưng vào dải Trường Sơn ở phía Tây, hướng tầm nhìn ra biển cả ở phía Đông, phía Bắc giáp vơi Băc Trung bộ được ngăn cách với tiểu vùng văn hóa  xứ Huế bằng đèo Hải Vân. Ở phía Nam ngăn cách với Bình Định bằng đèo Bình Đệ. Địa hình xứ Quảng mang một sắc thái riêng biệt so với nhiều vùng miền khác trong toàn quốc, đó là sự đan xen lẫn nhau giữa đồng bằng, rừng núi và sông biển trong một không gian địa lý chật hẹp.
    Đèo Hải Vân sừng sững như một ranh giới không chỉ về địa hinh mà còn là một cột mốc của sự chuyển giao giữa khí hậu nhiệt đới chí tuyến ở phía Bắc với khí hậu á xích đạo ở phía Nam, con đèo nổi tiếng này là giới hạn của sự phân chia chế độ khí hậu của hai khu vực : gió mùa đông bắc từ phương Bắc và gió mùa tây nam ở phương Nam .
    Sự đa dạng của cac yếu tố địa hình và khí hậu mặc nhiên quyết định sự đa dạng của hệ sinh thái. Rừng núi ở đây nằm trong hệ thống nam Trường Sơn với diện tích chiếm 2/3 lãnh thổ, bao trọn mặt phía Tây xứ Quảng, nhiều khu vực rừng núi nhô ra sát biển ôm lấy cả ba mặt đồng bằng.
    Từ hệ sinh thái núi đồi và trung du này, hình thành sự đa dạng trong hoạt động sinh tồn của con người xứ Quảng : trồng lúa nước ở đồng bằng, lúa nương ở nương rẫy, trồng rừng và khai thác tài nguyên rừng. Chủ nhân của các hoạt động sản xuất này không chỉ là các tộc người thiểu số mà còn là người Kinh. Đây là một điểm khác biệt so với nhiều vùng miền khác.
Đồng bằng miền Trung cũng như xứ Quảng càng xuôi về Nam càng hẹp, sự hạn hẹp của đất đai dẫn đến những hạn chế của sản xuất nông nghiệp, bù lại nguồn nguyên liệu tự nhiên phong phú tạo điều kiện cho sự phát triển đa dạng của các ngành nghề thủ công truyền thống như chế tác đá, sản xuất mía đường, dệt lụa, đóng ghe thuyền. Người xứ Quảng từ xa xưa đã biết đã tận dụng tối đa các nguồn lợi tự nhiên để làm phong phú hơn đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng.
    Cửa sông và bờ cát ven biển tạo thành một hệ sinh thái đặc thù của người xứ  Quảng, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt với mật độ cứ 20km trên tổng số 200km bờ biển lại có một cửa sông với các quy mô lớn nhỏ tùy theo địa hình. Hệ sinh thái nước lợ bao gồm các cửa sông, bãi bồi, bãi sú vẹt ngập mặn, không chỉ tạo ra nguồn tài nguyên thủy hải sản phong phú, mà còn tạo ra những vùng đất cát pha thích hợp để trồng các loại cây củ vốn là nguồn lương thực chủ yếu của các cư dân vùng núi và trung du.
    Từ điều kiện tự nhiên và những hoạt động kinh tế, những sinh hoạt văn hóa mang đặc trưng của người xứ Quảng đã từng bước định hình .

1.Văn hóa Sa Huỳnh và sự ra đời của Vương quốc cổ Chăm Pa
    Lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa cổ trải dài theo ven biển Trung Bộ Việt Nam là những dải đất hẹp dưới chân dẫy Trường Sơn. Các con đèo nổi như Hải Vân, đèo Ngang, đèo Cả nối cao nguyên với biển, chia cắt dải đất hẹp nằm giữa núi và biển thành ba khu vực địa lý : khu vực Amaravati cổ xưa bao gồm ranh giới các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam- Đà Nẵng ; khu vực Vijaya cổ xưa ( Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên); khu vực Panduranga cổ xưa ( Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) tương ứng với quần thể kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc mang dấu ấn văn hóa Ấn Độ như Mỹ Sơn, Đồng Dương( Quảng Nam) ; Bình Định; Nha Trang- Phan Rang( Khánh Hòa, Ninh Thuận)
    Cho đến nay giới nghiên cứu về khảo cổ học và văn hóa học bước đầu đã có sự thống nhất khi đưa ra nhận định cội nguồn của Văn hóa Chăm PaVăn hóa Sa Huỳnh ( Đức Phổ- Quảng Ngãi) có niên đại được xác định bằng phương pháp C14 cách ngày nay khoảng 4000 đến 3500 năm thuộc thuộc thời đại kim khí, những di chỉ khảo cổ thuộc loại hinh Văn hóa Sa Huỳnh trải dài trên một không gian khá rộng từ Hoành Sơn đến lưu vực sông Đồng Nai cho thấy một quá trình phát triển từ thấp đến cao mang tính thông nhât với những hiện vật văn hóa độc đáo. Chủ nhân của nền văn hóa này được xác định thuộc nhóm tộc tiền Malayo-Polynesia, trong quá trinh hình thành và phát triển có sự trao đổi và giao lưu chủ nhân của nền văn hóa hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí ở cao nguyên Lâm Đồng thuộc ngữ hệ Môn- Khmer hay tiền Nam Á. Bên cạnh đó trong sự giao lưu và tiếp biến văn hóa với các cư dân thời đại kim khí ở Đông Nam Á hải đảo và lục địa có thể xác định chủ nhân của Văn hóa Sa Huỳnh có ngôn ngữ Nam Đảo hay Malayo- Polynesia với nhiều yếu tố Nam Á. Cũng như nhiều cư dân khác ở Đông Nam Á cư dân của nền Văn hóa Sa Huỳnh cũng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ nhưng thông qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa  có thể nói văn hóa Ấn Độ ở đây đã được bản địa hóa để từng bước hinh thành nền văn minh Chăm Pa với bản sắc độc đáo. Trong khi đó một nhóm cư dân Sa Huỳnh đinh cư rừng núi và trung du hay các vùng bán sơn địa đã di chuyển lên cao nguyên hầu như không chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, bảo toàn ngôn ngữ Nam Đảo là cội nguồn của người ÊĐê, GiaRai hiện nay.                                                                                                              
2.Sự hình thành những tiểu quốc đầu tiên và sự ra đời nước Lâm Ấp( TKII)
    Vào giai đoạn cuối của Văn hóa Sa Huỳnh khoảng TK I-II đầu CN,  với trình độ phát triển cao về kinh tế-xã hội, cư dân ở đây đã dứng trước ngưỡng cửa của sự ra đời nhà nuớc. Những dấu ấn đầu tiên về những bộ lạc Cau  Dừa còn lưu lai trong bi ký , truyền thuyết dân gian cho biết : bộ lạc Cau  ( (Chữ Phạn trong bi ký Kramuka Vamsa) cư trú ở phía Nam đèo Cù Mông trên địa bàn của các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay và bộ lạc Dừa ( Chữ Phạn trong bi ký Narikela Vamsa) cư trú ở phía Bắc đèo Cù Mông thuộc địa bàn các tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay.
    Căn cứ trên những được ghi lại trên bia Võ Cạnh ( Vĩnh Trung- Nha Trang) (được các nhà nghiên cứu xác định có niên đại vào khoảng TK II) viết bằng chữ Phạn có nói về một triều vua có tôn hiệu Sri Maya chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ.Tiểu quốc Nam Chăm này có thể có tên Pan-rãn( tiếng Chăm cổ) hay Panduranga( chữ Phạn), tiểu quốc này có thể đã tồn tại độc lập và có vai trò đưa ảnh hưởng của Văn hóa Ấn Độ vào Bắc Chăm thông qua sự phổ biến chữ Phạn, tạo tiền đề cho sự sát nhập giữa Nam Chăm và Bắc Chăm sau này.
    Tuy  nhiên vài ba thế kỷ trước khi có bia Võ Cạnh , Bắc Chăm đang còn nằm dưới ách đô hộ của nhà Hán.Năm 111 TCN nhà Hàn  đánh bại Nam Việt của nhà Triệu và đặt sự cai tri trên chin quận, trong đó trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay có ba quận :Giao Chỉ ( Bắc Bộ); Cửu Chân ( Thanh- Nghệ- Tĩnh) và Nhật Nam( từ Hoành Sơn đến Quảng Nam) với năm huyện trong đó Tượng Lâm là huyện xa nhất về phía Nam, có địa bàn tương ứng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay, cũng là địa bàn trung tâm của Văn hóa Sa Huỳnh  nơi cư trú của bộ lạc Dừa.
    Trong suốt TK II các cuộc đấu tranh của dân chúng ở Nhật Nam và Tượng Lâm chống ách đô hộ của nhà Hán liên tục bùng nổ, đỉnh cao là vào năm 192- Sơ Bình thứ ba đời vua Hiến Đế nhà Hán , nhân lúc Trung Quốc có biến, Khu Liên đã lãnh đạo dân chúng Tượng Lâm nổi dậy và lên làm vua ( Khu Liên không phải là tên người ,có thể là sự chuyển âm từ ngôn ngữ cổ Đông Nam Á có ngĩa là Kurung có nghĩa là tộc trưởng, nhà nước đầu tiên của người Chăm đã ra đời với tên gọi Lâm Ấp, định danh nay chỉ thực sự xuất hiên trong Thủy Kinh chú- thư tịch cổ Trung Quốc vào năm 248, khi Lâm Ấp tấn công Giao Chỉ và Cửu Chân.
    Như vậy vào cuối TK II ngay tại trung tâm của Văn hóa Sa Huỳnh đã xuất hiện hình thái nhà nước đầu tiên của người Chăm, bằng các tài liệu khảo cổ có thể khẳng định người Lâm Ấp chính là những hậu duệ của chủ nhân Văn hóa Sa Huỳnh.

3. Các tên gọi của Vương quốc Chăm Pa
+ Lâm Ấp : Theo thư tịch cổ Trung Quốc từ khi ra đời (192) cho đến năm 757 Lâm Ấp là tên gọi của quốc gia cổ đại đầu tiên của người Chăm.
+ Chămpa : Tên gọi được ghi nhận từ bi ký của vua Sambhuvarman( 595-692),là tên một loài hoa- hoa Đại (tên khoa học Michelia Champaca Linnae)
Cũng là một địa danh ở đông bắc Ấn Độ, hạ lưu sông Hằng. Tên gọi Chăm Pa không có trong thư tịch cổ Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể đây là tên mà bộ lạc Dừa tự gọi sau khi đã lập nước.
+ Hoàn Vương : Tên gọi Lâm Ấp hầu như không còn tồn tại trong thư tịch Trung Quốc từ sau năm 749 khi sứ bộ của vua Rudravarman sang TQ.
Gần mười năm sau đó theo Tân Đường thư , Hoàn Vương được xác định vào thiêời Đường Đức Tông “sau niên hiệu Trí Đức ( 756-757)” vì vậy các nhà nghiên cứu cơ bản thống nhất tên gọi Hoàn Vương  có từ năm 758.
+ Chiêm Thành : Từ niên đại 854 của bia Vikarantavarman III ở Po Nagar, về sau  không còn tư liệu về Hoàn Vương cũng như Chăm Pa. Các bia ký mới chỉ xuất hiện vào năm 875 ở Indrapura ( khu vực Đồng Dương- Quảng Nam). Năm 877 Tân Đường thư- thư tịch TQ lại có những ghi chép về Chăm Pa với tên gọi mới Chiêm Thành, tên gọi này được phiên âm Hán-Việt từ Campapura ( Thành Chăm pa) đã có trong bia ký Mỹ Sơn năm 629.
    Những tên gọi khác nhau trong thư tịch cổ TQ và Việt Nam có thể sẽ phản ánh một nội dung quan trọng nào đó trong lịch sử vương quốc Chăm Pa, nhưng cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫ n chưa có những tài liệu mà họ cần phải có xung quanh vấn đề này. Nhưng trong thời kỳ này với những tài liệu như bia ký ở Mỹ Sơn thế kỷ VII cho biết về một tiểu quốc ở phía Bắc có tên là Campapura cùng với Vương triều Indrapura , như vậy lịch sử vương quốc Chăm Pa từ đây cho đến khi suy vong ( 1471), khởi đầu từ vương triều Indrapura cho thấy lịch sử Vương triều Chăm Pa thực chất được xây dựng từ liên kết của các tiểu quốc và vị trí và vai trò bá quyền sẽ thuộc về những tiểu quốc hùng mạnh. Lịch sử Chăm Pa thời kỳ Vương triều Indrapura là những câu chuyện về sự phát triển hùng mạnh, khẳng định quyền lực của một tiểu quốc ở phía Bắc.
                                              ( Hết phần I)

                       

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Ôn cố tri tân - Uy vũ Quang Trung đã làm Càn Long nể phục

  Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1787), Hoàng đế Quang Trung kéo đại quân Tây Sơn ra giải phóng Bắc Hà và đã đánh 29 vạn quân Thanh triều Càn Long tan tác, kinh hồn, bạt vía, khiến Thái thú Sầm Nghi Đống tuyệt vọng treo cổ tự vẫn ở gò Đống Đa; tiết chế Tôn Sĩ Nghị thất đởm, ngựa không kịp thắng yên, người không kịp mặc giáp, cuống cuồng chạy trốn về nước.
  Trong quan hệ ban giao với triều Thanh, Hoàng đế Quang Trung bao giờ cũng ở tư thế vững vàng của người chiến thắng. Ngài đã từng viết biểu gởi Càn Long vạch rõ bản chất tham lam, tàn bạo của nhà Thanh và nêu rõ quan điểm của mình: Không vì Trung Quốc là nước lớn mà nể sợ, thuần phục:

“… Nếu vạn nhất đánh nhau liên miên không dứt thì thần nhất định không lấy nước nhỏ để trọng nước lớn nữa, buộc phải nghe theo mệnh trời. Việc xảy ra không thể lường trước được; để rồi ra sao thì ra”.


ST