Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011
Bọn mình yêu văn nghệ, mê thể thao
Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2010
Ôn tân tri cố
Đầu năm nay, chuẩn bị cho loạt bài 50 năm đường Trường Sơn, nhóm phóng viên chúng tôi đến Tân Kỳ – Nghệ An, nơi có di tích và tượng đài kỉ niệm km 0 con đường huyền thoại này. Gặp người lặn lội đi làm hồ sơ di tích, chúng tôi ngạc nhiên thấy ông không trả lời những câu hỏi “Tại sao lấy đây (ngã tư đặt tượng đài) làm ki – lô - mét 0?”, “Sao không thể lấy lên trên, lùi xuống dưới hoặc sang trái, sang phải?”, “Vai trò của làng Ho, khe Hó thế nào?”… Dù sao, loạt bài tuyên truyền về đường Trường Sơn vẫn hoàn thành, in ra. Nhưng nó để lại cho những người thực hiện sự bối rối, có lẽ giống như khi ta xem phim về chiếc xe tăng đầu tiên vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Có những câu hỏi “hiện ra”: quá khứ là cái như ta hằng học, hằng ghi nhận hay chỉ gần gần như thế, khó khăn hơn là không hẳn như thế? Lịch sử gần đã vậy thì lịch sử xa còn di dịch đến thế nào? Nghĩ vẩn vơ, rồi lại nhớ đến câu của Blaga Đimit’rôva, bà nhà thơ Bungari rất thân thiết với Việt Nam thời đánh Mỹ: “Lịch sử Việt Nam trộn lẫn với huyền thoại”.
Sau nhiều “chặng” chinh chiến hoặc dài hoặc ngắn, xen giữa là vài “đợt nghỉ” ngắn ngủi, đến năm 1954, một nửa đất nước bước vào công cuộc “xây dựng”. Tiếng là “hoà bình” nhưng những ngày đó vẫn rầm rập bước quân đi, vì miền Bắc còn nhiệm vụ chi viện, giải phóng miền Nam, đương đầu với chiến tranh phá hoại. Đặc điểm chính trị – xã hội ấy quy định cho công việc của khoa học xã hội nói chung, ngành nghiên cứu sử nói riêng những quan điểm, những phương pháp, cách tiếp cận…, nhiều khi còn hệ trọng hơn cả tính khoa học. Sự kiện, con người, giai đoạn càng gần thì ảnh hưởng trên càng lớn. Cho nên, không lạ gì là thời kỳ này, những nhà khảo cổ, nghiên cứu cổ sử lại được độc lập hơn bên cận đại. Làm sử hiện đại càng khó…
Chẳng hạn, người Pháp sang xâm lăng, chấm dứt nền độc lập Đại Việt đã kéo dài ngót hai nghìn năm, thế thì đương nhiên đã là người Pháp thẩy đều là thực dân; những gì họ “bỏ lại” đất nước này chỉ để phục vụ cho sự đô hộ. “Giặc núp sau bóng chúa”, nên ảnh hưởng của những giáo sĩ tạo lập gia quốc ngữ, đào tạo nên lớp trí thức, văn nghệ sĩ thuộc địa phải bị hạn chế. Chẳng hạn, những ai Để mất nước vào tay quân Pháp, triều đình Nguyễn, đương nhiên phải mắc tội tày đình nhất. “Cõng rắn cắn gà nhà” mặc nhiên là dấu vết duy nhất vương triều này để lại. Sự ngắn gọn, chắc nịch của thành ngữ được vận dụng hằn một vệt quá sâu trong các nghiên cứu, phổ biến ra sách giáo khoa, để rồi “đóng đinh” trong nhận thức xã hội. Rồi đương nhiên tất thảy những gì, những ai dính líu đến Tây thì đều xấu xa, “tay sai phản động”.
Những năm sáu mươi có lẽ là “cao trào” phê phán nhà Nguyễn. “Quốc sử quán” - tức Viện Sử học, sách giáo khoa… đều khẳng định cách nhìn này. Cũng khó làm khác đi vì đó là thời chiến, khoa học xã hội phải phục vụ các nhiệm vụ chính trị, chưa hẳn được tồn tại hoàn toàn với những mục đích tự thân. Nhưng ngay từ thời kỳ đó, không phải đã không có những nhận thức “khang khác”. Theo GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử ngày nay, chính viện trưởng Viện Sử học hồi ấy, ông Trần Huy Liệu, từng “thổ lộ”, tất nhiên không công khai: “Nói Tây Sơn có công thống nhất đất nước tôi cứ thấy thế nào…”. Đây là điều khả dĩ thống nhất với đánh giá của Trần Trọng Kim (người ông Liệu rất không ưa) trong Việt Nam sử lược, rằng Nguyễn Phúc ánh đã “đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương nam”.
Kể thì cũng lạ. Bởi vì trước Trần Trọng Kim, sử liệu và vô số những đánh giá khác đã cho thấy cả những điều tích cực về nhà Nguyễn. Lê Quý Đôn, một “người của chúa Trịnh”, khi nhậm trị ở Thuận Hoá đã viết trong Phủ biên tạp lục về một Nguyễn Hoàng rất đẹp : “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình cũng được nhờ”.
Tháng 10 – 2008, hội thảo “”Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 19” do Hội Khoa học lịch sử và tỉnh Thanh Hoá gây ảnh hưởng lớn theo những chiều khác nhau. Thu hút lãnh đạo, nhân dân “Quý hương” – tỉnh Thanh, các dòng hoàng tộc Nguyễn, đã đành, nó quy tụ nhiều tên tuổi trong giới nghiên cứu các vùng miền, cả giới khoa học Anh, Pháp, Hà Lan, Trung Quốc… Thời kỳ “Quảng Nam quốc” sáng lên với công cuộc nam tiến, chinh phục xong tộc Chăm… Các vua Nguyễn, điển hình là Minh Mạng, được tôn vinh với công hoàn thành thống nhất lãnh thổ, quản lý hành chính. Về văn hoá, hiếm có một vương triều nào để lại được ba di sản được UNESCO công nhận như nhà Nguyễn với cố đô Huế, phố cổ Hội An (vật thể) và nhã nhạc cung đình (phi vật thể). Những nghiên cứu có tính phát hiện rất thú vị, như Hội An đánh dấu một tư duy mở, giao thương ra thế giới và khu vực, khác hẳn cách nghĩ bảo thủ, khép kín, độc tôn của phong kiến, càng khác cái “bản chất” “sợ biển ngại rừng chỉ loanh quanh đồng bằng của người Việt”. Như Nho giáo Đàng Trong có tính chất “dân gian”, thực tế, không quá “cử tử trường ốc” như Đàng Ngoài… Như Tây Sơn, thật ra là một phong trào nông dân với đủ cả nồi da nấu thịt, tranh giành quyền lực… Vai trò chúa Trịnh cũng khác, chả phải chỉ gây ra sự phân tranh, họ cũng thúc đẩy cuộc mở mang lãnh thổ.
Dầu sao, trong “nẻo rẽ” mới, các nhà khoa học đủ tỉnh táo để nhận rằng bên cạnh những điều được bổ sung trên, nhà Nguyễn vẫn là anh để mất nước. Công là công, tội là tội, không thể quên được một Nguyễn ánh đã mời 5 vạn quân Xiêm sang, ký hiệp ước Versailles với Pháp. Độc tôn Nho giáo, khinh bỉ lũ “ngạ quỷ hồng mao”, nhà Nguyễn bảo thủ lạc hậu, để mất nước là đương nhiên. Và cũng chả thể xoá bỏ những gì Tây Sơn đã làm được. Đó là sự khách quan về phương pháp, đem lại sự công bằng lịch sử. Người xưa có những giỏi giang và hạn chế khác với thời nay, bắt họ phải giống ta là vô lối.
Mang lại nhiều tư liệu, nhận thức khác trước, hội thảo trên không chỉ có ý nghĩa với triều Nguyễn, tỉnh Thanh, mà còn đánh dấu mốc về phương pháp, mức độ chuyên nghiệp hoá việc nghiên cứu sử. Những giả cứ, phẩm bình không thể “nhất trí” ngay, theo người ta về lọ mọ tìm hiểu thêm, là cái được của hội thảo. Hình như là có thế thì Ăng – ghen mới bảo “lịch sử luôn luôn phải được viết lại”.
Thế giới “phẳng”, nhiều thông tin, cứ liệu mới về các giai đoạn, nhân vật, sự kiện trong quá khứ tiếp tục được đưa ra, khiến ta rơi vào những nỗi bối rối khác. “Lịch sử như một sợi chỉ”, hình dung ấy thật tù mù mà cũng chả chính xác, nhưng lại ám ảnh dai dẳng. “Sợi chỉ” thì có thể rút ra cho “kim chỉ có đầu” được, nhưng có khi lại thật rối rắm, càng gỡ càng rối. Nhưng nói thế là muốn thể hiện cái cảm giác bất chợt xuất hiện khi nhìn vào những “lỗ hổng” chưa được khoa học lịch sử giải quyết, hoặc những phát hiện “mới tinh” đòi hỏi sự nhìn nhận không thể giống cũ.
Chẳng hạn, cái nhận thức ta có 4000 năm lịch sử, một ngày đẹp trời được “nói lại cho rõ” là “mấy nghìn năm” thôi, tức là chưa dài lâu đến thế đâu. Ta đinh ninh đất nước từ Âu Lạc, An Dương Vương tới nay có ngọn nguồn từ nền văn minh sông Hồng, trung tâm là người Việt, cứ thế lan toả xuống phía Nam, và kiên cường trụ vững trước thế lực từ phương Bắc. Nhưng nhiều nghiên cứu mới đây cho biết trên những vùng đất “quy tập” về Đại Việt đã có cư dân, thổ ngơi, văn hiến riêng biệt, không thể cứ “duy văn hoá người Kinh” mà soi chiếu. Nhu cầu về sự thống nhất trong tinh thần dân tộc, rất cần thiết, đã có lúc làm đơn giản nhiều sự kiện có ý nghĩa rất lớn nhưng phải được nhìn nhận đa chiều. Hà Nội chưa khôi phục lại tên phố cho công chúa Huyền Trân vừa chưa thoả đáng với người con gái hy sinh thân mình cho vương triều Trần thu được một vùng đất lớn, vừa che đi một mảng về sự mở mang cương vực của đất nước. Hoặc sự kiện cuộc mít tinh ngày 17-8-1945 ở Nhà hát lớn, bên tổ chức là Tổng hội Viên chức - tất nhiên lập thời Trần Trọng Kim - đã để Việt Minh cướp diễn đàn, thì liệu có ai trong đó lại là cộng sản?
Dường như cách đây hơn bốn chục năm, khi đề cương Lịch sử Việt Nam, cuốn thông sử của thời đại còn đang được tính toán, đã có một vấn đề đặt ra, rằng nên “nghiêng” về mảng dựng nước hay giữ nước? Nói theo cách khác, đây là tương quan giữa “võ công”, để mở mang, bảo vệ đất nước, với “văn trị” - để cho nó ổn định, phát triển. Thời phong kiến xếp “sĩ” lên đầu, còn “thương” đứng sau cả “nông, công”, nay có nên dùng lại thứ bậc ấy? Chuyện chưa đi đến đâu, nhưng rõ ràng đến nay đây vẫn còn là thời sự.
Là bởi vì “quan điểm” “được làm vua thua làm giặc” đã là chính thống trong nhiều thế kỷ làm sử. Hồ Quý Ly hạn chế số ruộng đất, nô tỳ của quốc thích nhà Trần, phát hành tiền giấy thay tiền kim loại, xứng bậc nhà cải cách lớn. Nhưng ông thường bị coi là một “điểm đen”, không thể sánh với Trần Thủ Độ – cũng “cướp ngôi” đấy chứ, vì đã để mất nước vào tay quân Minh. Nguyễn Huệ dùng binh cái thế trước quân Xiêm, Mãn Thanh, dễ được “quên” đi những chuyện ông lục đục với Nguyễn Nhạc. Chính vì sợ hở lưng với ông anh cả mà Nguyễn Huệ không thể truy đuổi Nguyễn ánh về phương Nam đến tận cùng, để rồi sau này bị quật lại. Kế vị ông, Quang Toản cũng xử với con Nguyễn Nhạc khá tệ. Đấy có phải là một lý do để Quang Trung, sau khi thống nhất sơn hà, không định đô ở Thăng Long với đám “kẻ sĩ Bắc Hà”?
Đấy là chuyện xa xa. Còn gần gụi thì những gì có đóng góp cho cuộc sống phát triển trong lòng một chế độ chính trị bị phụ thuộc ngoại bang vẫn “lép” so với những người có công đánh bật ngoại bang ấy đi. Buôn bán như Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi, làm báo, trước tác như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, vì đều là trong “thời Tây”, thành thử đều “có vấn đề” cả. Thợ nấu ăn ngon, con hát giỏi càng vắng bóng. Họ rất phức tạp. Nhưng thời thế nó thế, công tội đến đâu đều nên minh xét. Đơn giản hoá cuộc sống, phân định mọi thứ đều ra “bên địch” với “bên ta” không phải là một thái độ khoa học khách quan, vì thật hiếm có ai thập toàn như Nguyễn Trãi, giai đoạn nào “trong vắt” như thời Lê Thánh Tông, và ngược lại.
Ta hằng trách học sinh, thanh niên không quan tâm, bàng quan tới môn học lịch sử, thuộc sử Trung Hoa – giờ đây là sử Hàn Quốc – hơn sử mình. Điều ấy có thật, và lý ra thì nhiều nguyên nhân lắm. Nhưng định hình, “là” phẳng, “trói chặt” quá khứ vào một hình hài nhất định, “mầu” thì chỉ hoặc trắng hoặc đen, không coi nó là một đối tượng còn “cựa quậy”, diễn biến để tìm hiểu tiếp tục thì chính những người có tuổi cũng thấy nhàm.
Trường Chiến K3
Thứ Ba, 7 tháng 8, 2007
Hà Nội nhìn từ nhà quê
(Bài Hà Nội nhìn từ nhà quê phần 1: nhấn vào đây)
Dòng sông trong mát
Quê tôi thuần nông, còn giữ được khá nguyên vẹn cái hình ảnh làng truyền thống. Không còn tường chình mái lá, những ngôi nhà xây khiêm nhường núp dưới bóng cây xanh rợp. Những mít, na lúc lỉu, kiến bò quanh quẩn trên cành. Ngoài đồng đỗ, lạc trồng cạnh cây lúa, lách chách tiếng vịt đàn rỉa gốc, ông lão thảnh thơi vung cây gậy buộc lá chuối. Cấu trúc đình - đền chùa còn nguyên vẹn. Nhìn lá cờ hội phấp phới đầu mái đao cong vút lên, tôi nhớ đến ông bạn thợ ảnh, hắn phàn nàn nông thôn giờ khó kiếm được góc máy nào không bị vướng dây điện với nhà mái bằng quá. Khi tôi bảo thế cậu có đi được trong những toa lét có thúng gio để rắc xuống không, hắn già giọng: Nhìn theo quan điểm ấy thì chết!
Cảnh thế là đẹp, là êm ả rồi, để ta có thể tĩnh tâm với những suy tư thơ mộng. Thế mà gặp họ hàng, người làng, bước chân vào từng căn nhà, cảm giác về ngôi làng bình dị, an ổn của mình cứ bong ra, thay vào là sự lo lắng, thậm chí thấy bất trắc.
Nhà nào cũng toàn người già, trẻ con. Đàn ông đàn ang đi tiệt, ra phố làm thợ xây, xe ôm, lâu lâu có thể thành thợ chính hoặc đủ tiền thầu công trình. Bà chị họ tôi trông cháu, tết thảm, ngày được hai nghìn bạc, thịt không dám ăn. Cột nhà dán mảnh giấy ghi ba chục ngày giỗ trong năm, lo đủ ngần ấy cái là bạc mặt ra rồi. Tội nghiệp, tôi không tả nổi nét mặt bà lão sáu chục khi nhận món quà trị giá ba cốc bia chưa có cái gắp của thằng em rơi từ trên trời xuống. Lại một bà chị khác, quý hoá chân tình, kể tình đầu các cụ bên tôi tử tế thế nào, nhưng chả dám giữ khách ở lại ăn trong khung cảnh quá nhếch nhác.
Đất không nuôi nổi người, nói thế là quá. Nhưng chỉ cho đủ ăn, chứ không thoả mãn được những giấc mơ ngày càng phức tạp, cao vời. Thế nên nhà nào cũng trống hơ hoác. Phụ nữ kiêm nhiệm hết, từ cầy bừa đến xấp mặt cắm cây lúa, được cái đã có đôi ủng cao quá đầu gối tha hồ lội bùn không sợ đỉa với thuốc bảo vệ thực vật độc hại. Kể cũng lạ, đôi ủng cao su tiện lợi, hơn hai chục nghìn mà cũng phải Made in China. Các bà làm việc nặng nhọc, mới ngoài ba mươi đã nhầu nát, da đen, dáng cứng cỏi, chả được túng tắng ném quả tình như mợ nhà tôi ngoài sàn nhẩy. Và vừa phun thuốc sâu về nhà đã vạch áo cho con bú là làm sao...
Khá nhất làng là Khị. Ngoài bẩy mươi, ông cứ một mực gọi tôi là chú cho đúng tôn ti. Nhà xây ba tầng rìa làng, trần đắp phào tô xanh đỏ, có bức cuốn thư chạm chữ nho gì gì mà cả tôi và Khị đều không đọc nổi. Nhưng tường chưa trát, những ô cửa trống hốc, mái lợp tạm tôn ốt Nam, khách ngự trên chiếu khai mù vì xa lông chưa mua được. Giữa tiếng trẻ u ơ, tiếng tivi vặn to hết cỡ, cố gắng lắm tôi mới thủng được gia cảnh. Rằng cậu con trai, ngoài ba mươi, đi kéo cưa lừa xẻ trên ngược. Chúng đẻ hai con vịt giời, cay lắm, tính tiếp nữa nhưng phải làm kinh tế trước đã. Vợ nó chạy dăm chục triệu được xuất ô sin ở Đài Loan, đi bốn năm mang ba trăm triệu về xây nhà, mới được cái xác mà chưa có ruột, bèn tốn bẩy chục triệu để sang Đài thêm lần nữa. Tiền con trai đem về, nuôi bố mẹ và con chả hết bao nhiêu, nhưng xây được khu mộ tổ tổ bố, oách cũng nhất làng rồi. Khị tự tin giữ tôi lại ăn cơm. Nhưng tôi chả, sợ rằng rượu vào lại hỏi ông có phải thằng con lên trên ấy làm lâm tặc, và vợ nó, mới hai sáu, liệu đi ô sin có thoát khỏi tay ông chủ... Cái sự từng trải thị dân lắm lúc tưởng ra những nhiễu sự rất khốn nạn.
Tôi định ở quê thêm mấy ngày. Khung cảnh thanh bình, tiếng chim, câu kể rủm rỉm của bà lão tám mươi níu giữ ghê lắm. Nhưng cùng với nấy là bao thứ nhiêu khê. Đi đường với anh trưởng họ, chào ông cụ thì ấy đừng, nó còn là cháu mình, gặp anh giáo trẻ định xưng hô lối bằng vai thì bị mắng té tát vì đứng về bên bà ngoại vợ tôi thì bố cậu phải gọi tôi là anh kia...Khổ quá, bố tôi mà còn sống, về làng chắc cũng mắc cái tội vô lễ hay khiêm nhường chả phải lối. Muốn sang bà chị họ nghe chuyện thì phải sang nhà này, nhà kia trước đã, không bị chửi thối ra ngay. Những quan hệ rằng rịt trong ngôi làng nhỏ bé như cái màng nhầy, ngăn không cho ta được là ta, mà trước hết phải là một thành viên của cộng đồng trước đã. Thế là trần văn tút. Anh trưởng họ rất tiếc, hỏi bao giờ lại về, tôi không hẹn được.
Còn một cảm giác kinh khủng, chả dám phô to. Sao mà ở làng trông ai cũng bé nhỏ, mặt mũi chậm chạp? Hay là vì cái thói ta về ta tắm ao ta, vợ chồng gần máu nhau quá mà đâm phản động về sinh lý?
*
Quê ta làm sao ấy nhỉ, vừa thương lại vừa tội. Những ý nghĩ mới ngổn ngang trong đầu khi tôi trở lại đô thị. Nó làm cho tôi khoan dung hơn, bớt dị ứng với những thói tật quê mùa bị áp đặt bấy lâu nay. Những ông xe ôm, tôi thấy thật can trường khi phải xa hơi vợ, suốt ngày tranh đấu trên đường mà không thể cậy làng cậy họ. Đứa trẻ đánh giầy đã ba lần bị nhặt trả về địa phương vào các dịp lễ lớn, mấy hôm sau lại vũ như cẫn, tôi thấy gan góc lắm. Và may mắn làm sao, những cô ô sin được tha hồ mặc áo hở lưng chả sợ mắng, những sinh viên ra trường trường kì bám trụ đợi cơ may. Thời chiến tranh, nhà nhà đổ về quê tránh bom đạn, tưới tắm tấm lòng nhân ái rộng lớn của những bầm, bủ. Giờ đây, theo chiều ngược lại, Hà Nội như dòng sông lớn, sông Mẹ bao dung, ai cũng xuống tắm được. Thành phố, vì thế lấm láp, tẹp nhẹp, luộm thuộm hơn, nhưng đã như cái đầu tầu kéo kẻ quê đi lên. Hồng hộc, nặng nhọc, nó giải phóng được cho bao người khỏi những tủn mủn, chật hẹp của nếp sống sau luỹ tre làng. Ta về ta tắm ao ta mãi cũng tức là đóng cửa, bảo thủ chứ gì.
Nghĩ đại thể là thế. Phải khoan thứ, nhìn mọi nhẽ theo đại sự , đừng chấp nê cái lặt vặt theo đòi hỏi của mình, tôi tự nhủ. Nhưng sáng nay ra đường gặp ông xe ôm đến từ Hưng Yên hỏi đường rồi phóng thẳng, chả cảm ơn cảm huệ, thì lại bừng bực. ối giời ơi, thế thì cái thằng tôi nghiệt ngã trước đây với cái thằng tôi rộng lượng bây giờ, đứa nào đúng đây?
Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2007
Hà Nội nhìn từ nhà quê
* Chúng tôi xin đăng bài Hà Nội nhìn từ nhà quê của bạn Trần Trường Chiến, bài gồm 2 kỳ và đã được đăng trên báo Thể thao văn hóa tháng 06/2007.
Hà Nội nhìn từ nhà quê
LTS. Hà Nội nói riêng, đô thị nói chung là đề tài hay trở đi trở lại trong nhiều bài viết của nhà văn nhà báo Trần Chiến, dưới bút danh Hoàng Định. Chẻ nhỏ ra, là tính cách Hà Nội, cuộc sống phố cũ (TC không gọi đó là phố cổ), nhà ống, biệt thự, cốt cách đô thị..., thảy đều quán xuyến một cái nhìn theo chiều dài lịch sử, phân cách nó ra với nông thôn. Nhưng trong bài viết dưới đây, cái nhìn đó có vẻ đã thay đổi...
Ngôi nhà tạm
Tôi thường có ý nghĩ thương Hà Nội, nhất là khi ra đường. Thành phố gì mà chen chúc, nhem nhếch, vứt rác ra đường, đang đi gặp người quen đứng lại nói chuyện cản trở giao thông... đều hồn nhiên. Quê quá. Đúng là quê chứ gì, người đô thị mà ai cũng có ngón chân cái còn dính bùn, nói như nhà văn Nguyễn Khải. Nghĩ vậy rồi tìm hiểu thêm, càng tâm đắc với những khái quát của riêng mình và chả phải của mình.
Như là tại Thủ đô, nơi phải có cỡ hai triệu người ngoại tỉnh đang đổ về, cơ cấu dân cư đã bị phá vỡ, kèm theo đó là sự mất ổn định các giá trị, nền nếp. Hai quá trình thành thị hoá nông thôn, nông thôn hoá thành thị cứ tồn tại song song, tranh đấu với nhau; một người trở nên thanh lịch thì lại thêm hai ba người về nhà không đóng cửa, ăn nói cứ oang oang.
Như là vì hình thành từ những làng nghề nên quá trình đô thị hoá của Hà Nội bị chậm, không như Sài Gòn. Hà Nội như một cái làng lớn, anh thợ trẻ nào nghĩ ra mẫu hàng nào mới, dễ bị ông trưởng họ, trưởng phường mắng là không tôn trọng truyền thống, qua mặt các tiên sư lắm, thế là trí sáng tạo nhụt đi, không dám hướng về cái mới nữa.
Như là, như thế nghĩa là cái tuổi một đô thị không nói hết được trình độ đô thị hóa của nó.
Nghĩ thế và viết ra, tất nhiên có cả luận điểm rằng Hà Nội mạnh mẽ, phong phú, đứng làm tinh hoa văn hoá, giáo dục cho cả nước là còn do có bao người tài từ tứ xứ tụ về. Thành phố tiếp nhận, sàng lọc, nâng cao lên rồi lan toả ảnh hưởng đi nơi khác. Về đây, con người ta trở nên lịch duyệt, phát huy được cái ưu điểm trong mình, gột rửa những thiên kiến thiển cận, hẹp hòi kiểu trong luỹ tre làng, chỉ biết chào cờ xã ta. Những Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ... đã chả vĩ đại nếu không tắm táp trong không gian văn hoá Thăng Long. Nhưng dù thế nào, về Kẻ Chợ, trong bao năm qua đâu phải chỉ tinh hoa, mà cả cặn bã, khôn mống chứ, nó làm nên cái chất tiểu thị dân trong tôi, trong anh, người nấy người nọ. Không thể không viết ra rằng nhiều tập người ở tỉnh lên bản năng sinh tồn quá mạnh, tạo ra một không gian sống thuần túy thực tế. Không hài hước, không hề mơ mộng, tràn đầy sinh lực, khát vọng quyền lực, họ pha vào cộng đồng những quan hệ cục bộ kiểu phe giáp, coi đó như ngôi nhà tạm, thuần tuý làm phương tiện chứ chả yêu thương gì. Hà Nội giầu truyền thống, đúng quá, nhưng cũng không ít lần ngoảnh đi trước những con người mới, những cơ hội đổi mới...
Đọc những bài viết của tôi, có người bảo đúng nhưng nghiệt ngã, buồn bã quá. Có người chỉ nhìn chả nói, ra điều thành phố này của riêng mình anh đấy a?. Vẫn biết Thủ đô được bồi đắp cả nghìn năm nay bằng những người tài từ tứ xứ đến, cô đọng lại thành tinh hoa, nhưng không thể không viết ra những nhận thức trái chiều trên. Và mỗi Tết đến, được hưởng cái thú đi bộ trong thành phố tinh tươm, vắng lặng (người ngoại tỉnh giờ về cả rồi mà), cứ ước ao cái nơi mình trú ngụ nó cứ như thế này mãi.
Gần chỗ tôi ở có gia đình từ Bắc Giang về trú, nguyên cả nhà. Họ để ruộng lại cho người nội tộc cấy, thu hái chút đỉnh, bảo những tiền thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, đóng góp làm đường làng, quỹ khuyến học khuyến tài, nuôi văn nghệ... nặng quá, chỉ đủ ăn chứ chả tương lai gì. Ra đây cày đường nhựa, dù chỉ là bốc hàng theo chuyến, thuê xích lô chở người nhưng khá hơn, chỉ về lúc giỗ tết thôi. Rồi một hôm họ kêu ầm lên rằng cái dự án lấy đất ở nhà tính cả đền bù với hỗ trợ trên chỉ trả 30 triệu đồng một sào, quá bằng cướp không. Nông dân không có đất thì chết chứ còn gì, con gái chỉ có nước đi làm đĩ... Thế là tranh đấu, những đám đông đến trụ sở công quyền đứng cả ngày, can trường, kiên trì đến lúc được giải quyết. Hể hả, thoả mãn được vài năm, lại thấy vợ chồng nhà ấy ước giá có dự án lấy đất nữa, để lại được đền bù. Nghĩa là nghĩ đúng kiểu chân đất mắt toét gì cũng muốn. Cái nhà ấy bao năm nay chỉ độc làm thuê, chả cất mình lên nổi.
Lại nhà khác, những nhà khác, về thị thành đã sẵn nong né, có họ mạc làm to để được nhờ. Ban đầu khiêm nhường, rón rén, chắc chân, phất lên rồi thì vi tính hẳn, vặn loa tra tấn cả con ngõ hẹp.
Những cảnh người quê, những phận người quê ra tỉnh, hình như rất khác nhau, đi lên hay đi ngang mỗi ông mỗi kiểu. Nó làm tôi rối tinh khi muốn phát triển óc quan sát. Lâu rồi chả có bom đạn để ta lại tán với đi bộ đội đóng nhà dân, thật khó biết chân dung nông thôn với đội quân chủ lực hôm nay ra thế nào.
(Còn tiếp)
Đại đồng
- Thư của bạn Trần Chiến gửi cho chúng tôi: Tớ rất mừng là được "khai mào" cái sân chơi chung cua chung minh. nhưng cũng hoang mang. Mình là dân viết lách thật đấy, mấy chục năm qua bốc phét không ít. Nhung cú "đơn ca" thì chả hay chút nào. Có cách gì cho mọi người dốc bầu tâm sự vào nhiều hơn không? Chắc chắn ai cũng có, chỉ lười thôi
Nhưng tớ lại gửi tiếp bào khác, để khoe với các bạn. Bài về thú uống bia, đăng báo miền Nam, số Tết, cách đây khoảng 5, 6 năm, nhuận bút khoảng 1.6 triệu, thấy rất oách, nay mời mọi người cùng uống.
TC.
- Để trả lời bạn TC, chúng tôi xin đăng bài này và xin được thông báo: các bạn nếu muốn Nhận xet bất cứ bài viết nào trong trang này đều có thể nhấn vào mục Nhận xét dưới mỗi bài viết đấy.
----------------------------------------------------------------------
Đại đồng
Khi tôi đến, câu lạc bộ Cây Si đang vào tuần thứ ba, không khí có vẻ vẻ trầm lặng. Trên đầu cả nhóm, những chùm rễ si lưa thưa đang ngả sang trăng trắng đung đưa rất khẽ. Lạ nhỉ, có nhẽ nào trời ẩm ướt sắp đổ mưa lại là cái lý để dân nhậu phải lặng lẽ.
- Barca bị Chelsea hạ rồi. Ba - một! - Một người giải thích cho sự ngơ ngác của tôi.
- Dù sao còn trận lượt về kia mà.-Người khác lên tiếng - Bóng đá tấn công là thế. Thua thì thua, xem vẫn quyến rũ.
-Nào, thì ta uống mừng bóng đá tấn công!
Người thứ ba tổng kết. Cả bọn ngửa cổ cạn nỗi đắng cay của Barca, một tuần nữa cho hi vọng ở trận lượt về. Nhất trí trăm phần trăm.
Ơ bãi bia, người ta luôn chuộng phong cách tấn công. Sự lãng mạn tuyệt vời hun đúc những người đàn ông, đoàn kết họ lại trong tinh thần đại đồng ghê gớm. Khéo nay mai có bóng đã chuyên nghiệp, các câu lạc bộ cổ động viên tuyển người trước hết phải sở cậy vào bãi bia. Rồi cũng đến lúc có những bãi Thể Công, bãi Đường sắt như cái quán bar nổi tiếng của đội Olimpic Marseille tít bên trời Tây kia chứ...
#
Tôi con nhà gia giáo, lần đầu uống bia là khi Hinh đến tìm. Hinh không hề quen tôi, nhưng thằng bạn thân của tôi đang cưa người yêu hắn. Dù vậy,vấn đề được nhất trí nhanh chóng sau khi tôi với Hinh đánh đổ một lũ bia chai Hà Nội. Hai mươi hai tuổi mới uống bia so với bây giờ là quá lạc hậu, so với những cô cậu sành điệu phải là hủ bại rồi. Nhưng sau trận ấy tôi tỉnh ra hai điều hệ trọng. Một là,bia giúp người ta can trường hẳn, quyết định những việc tày trời rất dễ. Hai, là tôi uống được, không đến nỗi ba say chưa chai.
Cái thuở chập chững uống ấy, sự bia bọt vừa giản tiện vừa cách rách vô cùng. Đang chiến tranh, ai có tiền mà thả dàn được, có thì cũng nhìn nhau dàn hàng ngang cùng tiến kẻo mang tiếng hưởng lạc, cá nhân. Bia hơi mậu dịch xếp hàng cắn xèng cả dây dài chục mét, người nọ nối người kia mặt
mũi nghiêm trọng không thể tưởng, bao nhiêu công lực vận hết vào cánh tay giữ xèng mà chỉ được mỗi. Dăm đồng gì đó, một vại đủ nửa lít kèm bát bầu dục trần hay đĩa nộm từ thứ tư tuần trước. Mặt mậu dịch khinh khỉnh. Mồ hôi chảy tới đâu biết tới đó, thoát khỏi hàng người, tay bê đĩa,tay khư khư giữ vại Dân Chủ bọt thủy tinh nhiều hơn bọt bia chen ra đến chỗ ngồi là đã hả hê, ngất ngưởng hơn cụ Nguyễn Công Trứ rồi. Hạnh phúc quá đơn sơ..., lẽ ra người ta phải sáng tác bài hát ấy từ thuở ấy mới phải chứ. Thế nên khi Thứ, một phiên dịch tiếng Nga - nghĩa là ăn lương Tây - bê cả két Hà Nội từ trong kho ra thì cả bọn đờ ra vì cảm động. Thứ ngồi đó phân phát những mắng mỏ, chế giễu mà không ai dám hó hé. Chiều ấy trong quán phở bia Mỹ Kinh, Thứ là ông vua, bạn bè bỗng thành thần dân, cả bàn là một đẳng cấp siêu việt, cảm hứng thăng hoa tới vô cùng.
Hết chiến tranh, xã hội bước vào thời kì bình trị, phát triển theo chiều tăng tiến. Các vận động đưa nữ quyền lên ngôi làm dấy lên nhu cầu giải phóng đàn ông. Không biết có phải vì thế mà sự nghiệp bia bọt phát triển mạnh. Quãng đầu những năm tám mươi, đĩa mì xào thịt trâu đã được quyền kèm vại bia vàng óng sủi bọt đứ đừ. Đến giờ thì nhà nhà uống bia, tỉnh tỉnh làm bia xuất khẩu sang nhau. Những HUDA, THADA, VIDA, HALIDA mọc lên như nấm sau mưa. Ân tượng về đất nước Đan Mạch chuyển từ Andersen sang công nghệ liên kết cho ra thứ cảm hứng tuyệt vời nhất. Lon, chai được nhâm nhi trong phòng lạnh bên các nhân tình nhân bánh chung tình theo giờ, càng tiêu tiền chùa càng bôm bốp bật khỏe. Nhiều em ca-ve học được bản lĩnh cứ nhắm mắt nín thở zdô, xong lại vào toa lét móc họng, hàng giờ thế đi đứng vẫn tỉnh queo. Trong cơn có men, có tình vầy vậy, khách chịu chi tới tiền triệu lắm. Dân chơi ra gì mà!
Nhưng đa phần đám sành sỏi, không nhiều tiền lắm và cũng không màng tiếng chịu chơi đều thích bia hơi hơn. Nhất là ở Hà Nội, nghe nói nhà máy bia có mỏ nước chứa vi lượng gì gì sản xuất được bia hơi ngon nhất thế giới. Chai lọ lon hộp liên kết với Đan Mạch đan miếc cũng không thể bằng bom vại. Và bia hơi phải uống ở bãi mới hả. Chứ dưới một mái nhà hầm hập, nó cứ phải hét lên, ới khản cổ phục vụ bàn mới thủng thì dù mồi đậm thế nào cũng cứ dở mồm. Lãng phí phạm, bằng đem bia đi đổ lỗ dế.
Thử tưởng xem, xung quanh là bè bạn,bên trên là bầu trời thoáng đãng nó cho phép ta bộc lộ hết những dí dỏm, những lời vô nghĩa vô thức, kì thú hơn bao nhiêu. Tứ hải giai huynh đệ, đại đồng, tương thân tương ái mới là đây. Bãi bia là địa chỉ vàng chấp nhận mọi thân phận, túi tiền, tâm trạng. Không có sang hèn,tôn ti, bàn này có thể vắt sang bàn kia những chủ đề vĩ đại cỡ bóng đá hay ông con bà vợ thằng chồng... Dù chỉ dăm ba củ lạc hay bộn bề thức nhắm, bia đã vào là lời phải ra. Có bao nhiêu mồm thì bấy nhiêu hùng hổ chẳng cần ai nghe, cứ mình mình hùng biện cũng đã lắm. Bao nhiêu cánh tay là bấy nhiêu động tác khoát đạt, hào sảng. Đến lúc uống tới, chỉ mỗi câu càng nhắc đi nhắc lại càng sướng kệ cha thằng nào không hiểu. Bốc nhất là hát được, cả mâm đồng ca Anh vẫn hành quân, nhất trí sửa chữa ông Huy Du thành thôi thế thì thôi, thôi thì thôi thế thì..., tình đồng đội sao mà ngấm nghía, mà da diết...
Uống xong về nhà ăn cơm với gia đình thì chao ôi, kẻ coi vợ bằng vung, người nem nép hối hận. Mà vợ là cái giống nói dối nó còn chả tin nữa là nói thật. Bởi thế, sự dùng dằng ngoài bãi mới dài mãi ra. Không khắt khe quy phạm ba bát bốn đĩa như cỗ truyền thống, không mưu lược cài cắm nhau như ở khách sạn, khế ngọt đưa bên a đi hái chùm rượu Tây lúc lỉu. Mà có thể lì lợm bám bàn hoặc cứ ngồi yên trên xe ghếch vỉa hè làm đôi vại đỡ khát.
Được cái đi gì rất dễ, WC chỉ là mảnh tôn bình dị dựng hờ cách đấy dăm mét, hương vị quyện cả vào món sào. Hình như bãi bia thành phố có gốc gác từ quán nước dưới gốc đa xưa, nơi ông thợ cầy có thể làm một thôi nước chè xanh rồi rít thuốc lào say ngã ngửa. Lại hình như nó có họ với những hội làng, ai ai cũng được phép dón hòn xôi, tợp chén rượu chèn miếng thịt mỡ luộc rồi ngất ngư xênh tiền với hành vân lưu thủy.
Bãi bia Hà Nội , mỗi nơi hấp dẫn khách mỗi kiểu. Nhưng tiêu chuẩn đầu tiên vẫn là có ngon không. Bãi Ngọc Hà và Câu lạc bộ Quân đội uống thả phanh đầu vẫn trong vắt. Bia Hàng Vải đậm, ai cũng bảo ngon nhưng lắm lúc nằng nặng đầu. Lắm chỗ đúng là nước lã có cồn. Dân sành phân rõ bia thứ thiệt, nghĩa là không pha với bia ba-bẩy, bốn-sáu (ba phần nước với bẩy phần bia)... Nghe nói trên Bưởi có những lò bia rất đậm, nước lã pha vô tư đi, bán thì lãi nhưng thằng uống nhức đầu muốn chết. Lại còn những bia thương binh, bia tàn tật... Sau chất lượng, người ta kén đến địa điểm, thức ăn, cách mời. Những ông chủ béo tốt, thần thái vui tươi thường kéo khách hơn loại da mặt sát tận xương. Mỗi nơi lại có món độc làm của riêng, trưng biển gia truyền , như thịt chó chặt, rau cần xào bún, rau dấp cá, mướp đắng... Quán Cây Bàng Lý Quốc Sư có cá rô ron rán ròn, tiết canh ngan. Lại một ông lủng lẳng hòm gỗ vẽ chữ Tây cacahouete với địa chỉ Hàng Thiếc đi từ bãi này sang bãi khác giao lạc rang húng lìu ngon chúa sừng, hết hòm thì thôi, nhất định không bán thêm lạc non lạc độn. Vỉa hè đường Láng Hạ rộng mênh mông tha hồ ngồi duỗi dài, lại trồng được cả lẩu dê. Mùi , Lan Chín, Hoàn Béo, Hải Xồm, Nghi Râu, Đỉnh Hói... là những cái tên đủ lẫm liệt làm đấng trượng phu động lòng ngay từ câu ới đầu tiên . Cứ dầm dề, rồi quá trưa, khách có thể quên bữa với cơm nắm muối vừng của những người bán rong từ Như Quỳnh, Lạc Đạo sang; giờ khắc của những vại cuối cùng thiêng liêng.
Theo quan điểm lập trường của các bà thì bãi bia là chỗ chẳng ra gì. Về đạo đức, nó làm bê tha đàn ông, đánh mất điểm để xây dựng gia đình văn hóa mới. Về sức khỏe thì thậm mất vệ sinh, ăn uống gì mà ngay cạnh cống rãnh. Về thẩm mĩ, chân tay đờ đẫn, mặt trời còn phải gọi là cụ thì không thể chấp nhận được. Và về mặt tâm lí, có quái gì mà các lão chồng không gặp nhau hàng ngày không đựơc nhỉ? Tưng nấy chuyện, nói mãi phải hết chứ. Thế là chàng đi thiếp cũng theo cùng, có bà ra tận bãi hầu chuyện chồng, báo hại mấy ông bạn nhậu phải uống bia pha dấm ớt.
Nhưng mặc lòng các bà xử theo phương châm của ngành y tế phòng bệnh hơn chữa bệnh, đám đàn ông cứ phải quấn quýt nhau. Có lẽ nữ nhân tầm thường không thể hiểu thế nào là sự hào sảng, là không khí dân chủ, cởi mở, bình quyền bình đẳng. Những quân nhân tháo lon, những công chức đi trốn stresse có thể khẳng định mình, quên đi tư tưởng hèn hạ nhất vợ nhì giời. Uông xong đi karaoke khai thác tiềm năng thanh nhạc lại chả hơn ối bọn cờ bạc nghiện hút a? Cặp phạm trù bia hơi - bóng đá dứt định lành mạnh hơn cặp nhạc rốc - ma túy, chứ lị!
Dấy lên một cách tự phát - chứ không tự giác, không có nhân cốt, đội ngũ cán bộ chuyên trách, phong trào uống bia đã có một bề rộng, chiều sâu phong phú với chân đế vững chắc . Sức sống đó cho thấy nhu cầu giải phóng đàn ông là có thật và bức xúc lắm. Được định hướng, liệu nó có những
đóng góp tích cực hơn cho xã hội chăng?
Bãi bia là sân nhạc rốc đủ tiết tấu , không cần lĩnh xướng , là Lương Sơn Bạc không có đại ca . Uông xong là về đoàn kết , thương yêu gia đình hơn , đừng có eo xèo đây nhá...
Một thợ nhậu đã chân thành tổng kết thế trong lúc tỉnh táo. Hỡi một nửa thế giới không có bia bọt, các mợ đã thủng chưa?