Hiển thị các bài đăng có nhãn Ha Noi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ha Noi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Về hồ Gươm hơn 20 năm trước


Kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật (1910 – 1989) tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương khoá VII, làm Viện trưởng Viện Quy hoạch Hà Nội từ năm 1962 – 1975. Sách “Dấu ấn thời gian” mới ra ở NXB Khoa học kĩ thuật tập hợp nhiều tư liệu quý giá ông để lại, trong đó có “Kiến nghị về hồ Gươm” ông làm cùng Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Quang năm 1987. Về bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (đã mất), nguyên giám đốc NXB Ngoại văn, chúng ta đã biết đến với vai trò giới thiệu văn hoá Việt Nam ra nước ngoài. Người thứ ba, ông (?) Nguyễn Quang, người soạn sách rất tiếc chưa tìm ra, cũng như không biết công trình chung trên đã xuất hiện, tồn tại, có hiệu quả ra sao.
“Kiến nghị…” trình bày dưới dạng những bức ảnh chụp hồ Gươm kèm lời bình, phân tích và cách giải quyết những vấn đề quanh “lẵng hoa giữa lòng thành phố”. Để hiểu thêm một giai đoạn, và nhận thấy cách ứng xử với khu vực nhạy cảm, giàu truyền thống này đến hôm nay vẫn còn những thái độ khác nhau, chúng tôi giới thiệu phần chữ trong công trình trên.
*
“Trong một thành phố có những khu nói lên sự oai nghiêm của Nhà nước, có những khu tập trung buôn bán giao dịch, có những khu công nghiệp rộn ràng, có những khu hiện đại với những đại lộ và nhà cao tầng. Nhưng nếu thiếu một khu như bờ hồ Hoàn Kiếm, là thiếu một yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên cảnh sắc của thành phố và tính cách con người ở thành phố ấy”.
“Bao lần trứơc lúc ra về, tôi muốn thoáng nhìn qua cảnh hồ, nhưng trong nhiều năm một cửa hàng bán hoa đã bịt kín tầm nhìn. Nếu tính ra trong nhiều năm đến mấy chục vạn người sau cơn sốt dấy lên trong cửa hàng Bách hoá Tổng hợp (nay là Tràng Tiền Plaza - HĐ), vì quầy hàng hoa oan nghiệt ấy, đã mất đi một liều thuốc an thần quý giá”.
“Chúng ta hết sức hoan nghênh quyết định phá bỏ quầy bán hoa trước cửa hàng Bách hoá: đây là áp dụng một phương châm cơ bản trong việc bảo vệ và phát huy tính độc đáo của cảnh sắc Bờ Hồ. Nhất thiết không xây dựng những gì ngăn cản người ta nhìn ra toàn cảnh Bờ Hồ… Con người thành phố sống chen chúc giữa những dãy nhà cao, tầm nhìn thường xuyên bị những bức tường bịt lại không mấy khi được nhìn ra xa, nhất là trên một mặt nước long lanh in bóng trời xa rộng; nay có một nơi nằm ngay giữa thành phố không cần đi xa, để có thể cho con mắt tức tâm hồn mình thoát khỏi cảnh chật chội tù túng hàng ngày, mà ta lại bịt đi, trong lúc hô hào con người Hà Nội phải giữ lấy truyền thống thanh lịch”.
“Các nhà cửa của cơ quan hay tư nhân không những chỉ cần chăm chú đến tầng dưới có mặt ra đường, còn phải quan tâm đến mỹ quan của các tầng trên; đặc biệt không phơi quần áo, và tốt nhất nên có những dàn cây, dàn hoa hoặc trang trí mang tính dân tộc. Trên các mái nhà cũng không thể cho mọc lên những cột với dây nhợ chằng chịt”.
“Vẻ đẹp của thiên nhiên, chiều sâu của lịch sử, nếu mất hai đặc tính ấy, thì không còn là Bờ Hồ nữa. Hà Nội đang trên đà xây dựng, nhưng Bờ Hồ là một khu vực đặc biệt, phương châm là bảo vệ tuyệt đối tính độc đáo của khu này. Chỉ cần năm bẩy nhà cao tầng bằng hoặc cao hơn toà Bưu điện, trên mỗi toà lại chằng chịt điện đài, thì hồ Hoàn Kiếm chỉ còn là cái ao, tháp Rùa, đền Ngọc Sơn chỉ còn là những chuồng nuôi bồ câu, cầu Thê Húc chỉ còn là nơi ra ngồi vo gạo, rửa rau muống”.
“Tạo ra những tượng đài không thể chỉ để ý đến mỹ quan của bản thân nó, mà phải chú ý đến việc tượng đài ấy có hài hoà với cảnh sắc chung quanh không. Như cạnh cây đa và đền Bà Kiệu đặt một tượng đài kiểu hiện đại quả là không phù hợp”.
“Với những phương tiện xây dựng hiện nay, có thể xuất hiện nhanh chóng những toà nhà 10 – 15 tầng… Rồi những người buôn bán đua nhau dựng lên cửa hàng, quán rượu, tiệm ăn. Nhà nước và tư nhân, mỗi cơ quan, mỗi người xây dựng và trang trí theo kiểu cách riêng, quang cảnh Bờ Hồ sẽ hỗn tạp như một chợ trời”.
“Những cơ quan lớn tiến lên hiện đại không thể xây dựng bộ phận mới ở khu này. Chỉ giữ ở đây một bộ phận liên lạc, tiếp tân, còn xưởng máy móc, điện đài, ga ra ô tô, hoặc các phòng thực hiện chức năng của các ngành cần tập trung lại trong một trụ sở hiện đại, xây ở một khu sau này sẽ là Trung tâm giao dịch quốc gia và quốc tế”
“Cửa hàng không được nhếch nhác, lộn xộn, mà còn phải được trang trí thanh nhã mang tính dân tộc rõ nét. Không được phép hiện đại hoá vô tội vạ… như ở Sài Gòn cũ hay ở Băng Cốc. Hà Nội mà chạy theo Sài Gòn cũ hay Băng Cốc chỉ có thể làm được ở cấp thấp, và ai muốn tìm nơi ăn chơi thì hẳn người ta sẽ đi Băng Cốc hay Hồng Kông chứ chẳng đến Hà Nội làm gì. Còn người trong nước lại mất đi một nơi để bồi dưỡng tình cảm và tâm tư”.

Hoàng Định.

Hà Nội, Hồ Gươm về đêm.

 Nghe nói toàn bộ hệ thống trang trí quanh Hồ Gươm trong những ngày Đại lễ ngàn năm TL được sử dụng lại vào dịp tết nguyên đán này.  Tôi lại quyết định làm thợ dạo, chụp hình Bờ Hồ buổi tối.
Phố Tràng Tiền. Ngày này đâu đâu cũng DHD và các sponcor 
Hồ Gươm về đêm
Nhìn gần hơn
Đèn được gắn men theo toàn bộ mép hồ.
Hoa ở đây cũng không thật.
Chậu cúc này thật, tươi rói trong giá rét
Vẫn có các cặp tình nhân ngồi tâm sự bên hồ! Cô bé này tới chào mời những bông hồng may mắn.
Đã 22h30! Cháu còn "đi làm" khuya thế? Dạ cháu đi học về rồi mới đi nên muộn ạ!
Đền Ngọc sơn và...
Cầu Thê Húc. 
Khoảng không gian trước tượng Lý Thái Tổ. Hà nội về đêm, cái lạnh cũng lắng đọng...

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Hà Nội, Hồ Gươm

Năm nay công ty tổng kết sớm, tui ra HN họp sớm hơn mọi năm. ĐH Đảng thì đã bắt đầu được 1 ngày nên đường không cũng không bị áp lực quá tải. Tranh thủ buổi chiều mới bắt đầu cuộc họp, tui vác máy ra bờ Hồ. Năm nay, để thay đổi so với năm ngoái tui đi sang phía bờ đối diện với bờ Hồ có tòa nhà Bưu điện.

Người ta cho là toà nhà BĐ làm xấu Bờ Hồ - nó nuốt mất tháp rùa!
              Đang còn  quá sớm để thấy được không khí Tết. Không có hoa Đào, chỉ có các chậu hoa đặt trên các đu quay ven bờ
Tháp Rùa, trung tâm của Hồ Gươm
Con đường trước tòa báo của TC
Hồ Gươm liễu rủ, không biết cây lộc vừng nổi tiếng đứng góc nào nhỉ? đã ra bông chưa?
Đường phố nhìn từ bờ hồ
Mặt hổ Gươm vẫn lung linh...
Những cây đào cổ thụ với bông khổng lồ...
Mùa đông lạnh giá, được cái khô ráo, mọi thứ thật nhẹ nhàng và thanh bình.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 6


Xa lông, điếu cầy


Ngày Tết, người ta được hưởng cái thú đi bộ. Thành phố vắng vẻ, tinh tươm, chả pháo nổ hay kẹt xe tắc đường. “Ô sin”, thợ thuyền về quê. Nhà trọ sinh viên vắng tanh. Thế rồi bật ra câu hỏi: “Thật sự thì chen chúc trong Thủ đô mình ngày thường có tới chục triệu người không?”.
Lần đi xe ôm, biết ông lái người Xuân Trường Nam Định tôi nói bừa “Dân Xuân Phú à?”, ai ngờ ông ấy hỏi lại “Anh xóm nào?”. Người xã ông lên đây chạy xe có đến một tiểu đoàn. Gần nhà tôi có chị hàng xôi trông hay hay, hỏi chuyện ra chồng bán nước ghi đề bơm xe đầu phố, con học trường phường, còn cái ông tối tối ép nước mía cách mấy dãy nhà là bố đẻ, đều từ Thái Nguyên xuống. “Em còn bà nội trên ấy. Làng đi vãn, cụ chỉ sợ chết không ai biết, có biết thì đám ma không ai đi”.
Ngoài Chương Dương Hàm Tử có những “xóm” Hưng Yên, “xóm” Thái Bình, ngày gánh mướn đội thuê, quét dọn, rửa bát thuê ngoài phố, đêm về kềnh trong vòng tay người làng, giá hai ba nghìn mỗi đêm ngủ, tất nhiên cả tắm giặt. Đa phần phụ nữ, dai sức không thể tả và rất tiết kiệm, về quê đạp xe từ nửa đêm. Trước họ về cả vụ cấy, nhưng giờ đã “khoán” cả ruộng cho họ hàng, “tập trung vào chuyên môn” trên này. Thiếu họ, những lao động đơn giản, và thiếu đội quân “ô sin”, thành phố hẳn sẽ cuống lên.
Hà Nội, như thế, đã thở cùng một “nhịp” với vùng nông thôn vĩ đại xung quanh mình. Và hẳn là xem xét Hà Nội mà không tính đến những vấn đề của Bắc Bộ (tạm thu hẹp thế thôi), có lẽ giống đặt nồi lên bếp mà chưa biết củi lửa mắm muối đủ chưa. Vậy thì cái nông thôn ấy đang như thế nào, quan hệ với Hà Nội ra sao?
Điều tích cực thì chúng ta đã nói đến nhiều: cung cấp thóc gạo, thực phẩm, đất đai, nhân lực, nguyên vật liệu... Người tài người đẹp từ Quảng Bình Thanh Hoá ra, Lạng Sơn xuống, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xó xỉnh chợ búa đâu đâu cũng gặp... Đến đây với khát vọng đổi đời, chả mấy kẻ uể oải, đa phần đều năng nổ, bổ sung phần cần cù mạnh bạo vào cái nhịp yếm thế của người phố. “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, bổ sung sinh lực, tóm lại là có rất nhiều điều hay để nói về họ. Một nhận xét khác: “mỏ” nhân tài cho Thăng Long xưa nay lớn nhất là Nghệ Tĩnh và xứ Quảng, có lẽ còn mầu mỡ hơn cả Kinh Bắc, Đông, Đoài, bởi người Nghệ người Quảng cạnh tài năng còn là ý chí vô song.
Nhưng lại cũng có cái dở, mà chả hề ít. Sự phát triển làm khoảng cách địa lý giữa thành thị với nông thôn gần lại, nhưng cái hố sâu về mức sống, văn hoá, tập quán... lại toang hoác ra. Những chú phụ nề hơn chục tuổi từ Bắc Giang xuống hay nghêu ngao câu hát về một tình yêu dang dở. Chưa hề thất tình, hẳn thế. Nhưng có lẽ trong vô thức, hàng ngày thấy cả lũ “em Chã” bằng tuổi, chú chả thể bằng lòng về phận mình. Và chú cũng có những ước mơ chứ, có điều chả hướng về ngôi nhà trên đồi có mẹ già cằn cỗi. Nông thôn đang không giữ đợc người. Cái êm ả sau luỹ tre chỉ có nghĩa là ăn đã đủ, mặc không bị rét nữa thôi. Nhưng thế chưa đủ. Đất đai ít, bởi người đẻ mãi ra, trồng cấy sinh lợi ít. Một sào ruộng chịu nhiều khoản: thủy lợi, khuyến nông, phân hoá học, thuốc sâu rầy..., mà trời không thương có khi mất cả. Một “suất đinh” chịu đóng góp các thứ quỹ xóa đói giảm nghèo, tiếp khách, bảo tồn di tích, khuyến học, người cao tuổi, cựu chiến binh, văn nghệ... của xã, thôn, của họ tộc. Thế là phát canh lấy thóc cho bố mẹ ăn, còn mình “ra đi vào chốn đô hội”, chả biết làm nghề gì khác ngoài sức vóc. Cũng không ít đàn bà, với “vốn tự có”. Cái sự ra đi ấy có thể quy cho là bần cùng hóa?
Làng xóm nhiều nơi, vùng xa là chính, đàn ông, thanh niên vãn cả, còn lại là ông già bà lão và những anh dốt nát chả có tài cán gan góc càng không. Nhà văn Dạ Ngân “miêu tả” bằng chữ “trống toang”. Ra đồng tinh đàn bà, tuy đã có đôi ủng cao su buộc cạp lên quá gối lội bùn tiện hơn, nhưng cái việc xấp mặt xuống cấy thì không thể trốn. Tệ hơn là cái nạn cường hào mới. Người giỏi giang ra tỉnh học nghề rồi ở lại, bằng không cứ lao động đơn giản cũng kiếm bằng mấy chân quê. Tết đến, ít hào đem về lại đóng tiền xây nhà thờ họ, mộ tổ, cùng bao thứ quỹ chỉ ở xó xỉnh mới có. Mấy chú đánh giầy bán báo qua bao lần “bắt cóc bỏ đĩa”, nghĩa là những đợt “làm sạch phố phường”, lại nhẩy phắt ra phố. Chúng ưa thích cái “vị” tự do (dù đầy cạm bẫy) hơn tôn ty trong luỹ tre chăng? Và thanh niên ăm ắp khát vọng với tài năng, còn chỗ nào có thể đem lại học vấn, cơ hội đổi đời hơn thành phố? Chả lẽ học xong rồi về quê, nơi lắm khi sự êm đềm lại như một tấm lưới trói chặt cá tính, nghĩ gì nói gì cũng không thể trái lời ông trưởng họ...
Vùng nông thôn gần thì sao? Không thể không nhận thấy là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thay đổi nhiều làng quê cũ kỹ. Giao thông phát triển, những khu công nghiệp mọc lên đem lại bộ mặt mới mẻ, hiện đại. Các dự án đem lại công ăn việc làm. Nhiều làng nghề đang suy sụp hồi sinh. Thanh niên rành vi tính, kỹ thuật mới, hay có thể tậu con xe tải chạy pành pành.
Nhưng cạnh phần được đó, lại là bao cái đáng tiếc. Tiếc mà không níu được, có lẽ là những di sản gắn với đời sống nông nghiệp. Nhiều nơi đập cổng làng, xén đất đình cho ô tô đi. Cái hình ảnh một làng quê xấu đi là rõ nhất: đố thấy còn nhà tranh, nhưng “kiến trúc” mới chả có quy hoạch quy chuẩn nào, cứ xây chằn chặn xìn xịt mà cái nọ chửi bố cái kia. Vườn tược cây cối ao chuôm biến mất khiến nước thải chẳng còn chỗ chảy, vừa đem theo cái vẻ êm đềm thanh mát vừa khiến hàng xóm to tiếng.
Dù sao cái phong cảnh “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” đó còn xa xỉ chán, chỉ mấy lão thi sĩ tiếc quắt ruột. Đáng ngại, là hậu quả của việc mất đất canh tác cho các dự án. Vèo cái, qua một đêm, người nông dân gần đô thị có cục tiền cả đời mơ không thấy. Nhưng vẫn là cái anh chỉ biết cấy cầy mà không còn đất, họ đâm thất nghiệp. Tiền dự án đền bù cho sẽ xoay ra làm gì, càng nhiều có khi càng xảy sự, con cái tranh giành, họ tộc đòi góp. Nhà lên được, xe đã mua, có dễ con thành hỏng. Đất đã sụt dưới chân, mà chuyển nghề chạy chợ thì cụt vốn có khi, bởi “quê ta thuần nông, có mả làm thương nghiệp đâu”. Đó là những con tính nát óc bao ông chủ gia đình. Một điều tra của Đại học Kinh tế Quốc dân trên địa bàn Hà Nội vừa cho biết 57% nông dân dùng tiền đền bù đất đai để xây nhà, chỉ có 1% đầu tư cho nghề mới và 3% cho học nghề. Sự thay đổi là cần thiết với đất nước, thủ đô, làng xã, nhưng xa xôi quá, với họ thì lại nhanh và nghiệt ngã khiến trở tay không kịp.
Và ngay ở phạm vi đất nước, cái đất nước xuất khẩu gạo vào loại ác chiến trên thế giới bỗng dưng lại đối mặt với vấn đề an ninh lương thực, thì hẳn là phải có chuyện trong đường hướng phát triển rồi. Giá đắt chừng nào trời nào mà đong!
Dầu sao, cảnh khó của làng quê gần còn là ước mơ của bao xó xỉnh xa xôi. Và lại dầu sao “giầu nhà quê không bằng ngồi lê kẻ chợ”, nên chi “Làng ơi, chào nhé”, nên chi “Cô dì chú bác ở lại, cháu ngược”.
*
Mấy chục vạn, hay mấy triệu người kéo lên Hà Nội, chả biết. Lên theo thời vụ hay thành hẳn “người phố” là mấy phần, chả hay. Chỉ biết cái nội thành cho triệu người là vừa giờ san sát, cựa cái đã chạm nhau. Diện tích mở rộng, đường xá thêm ra, nhà cao tầng rộng lên cho tiết kiệm đất, bao nhiêu cũng không đủ. Thủ đô như cái đầu máy phải gánh phải kéo vùng nông thôn, thở hồng hộc, lem nhem, kém thanh lịch đi. Cũng phải, vì tiền xây cất là còn do thuế từ nông thôn chứ. Và thành phố đâu phải chỉ của người ở đã lâu, ai cấm ai vào được.
Người nông thôn mang vô vàn sức lao động đến, kèm theo cách sống của họ. Tư duy tuỳ tiện, áp dụng lệ làng, xây cất cơi nới, đi đứng hồn nhiên, phạm luật mà không biết. Đa phần lao động đơn giản, họ thành công cụ cho người chủ, có thể bị bóc lột, làm nạn nhân, cũng có khi phá đám lại chút ít. Thành phố cần họ và hiển nhiên, “xếp” họ vào đẳng cấp dươi dưới. Với cái “dươi dưới” ấy, và với tâm lý đi ở tạm “hàng xóm”, liệu họ có yêu quý, lo cho cái cộng đồng chung bằng cho làng nước mình? Từ đấy đến chỗ vứt con chuột ra đường, đái một bãi “mặc bố thằng nào ngửi” rất mỏng.
Nhưng có những con người có chí tiến thủ, học hành đầy đủ, chiếm được những vị trí cao, đủ quyền lực định đoạt việc lớn. Sự tác động của họ vào đời sống đô thị có hay dở của nó, chỉ xin nêu ra ở đây cái phía không tích cực.
Từ nơi khác đến lập nghiệp, cái tâm lý không tự tin và cũng chả tin người rất dễ có. “Cơ chế” cục bộ, co cụm để bảo vệ nhau xuất hiện. Những “tập” người hình thành xung quanh vị “gia trưởng” mới để “chào cờ xã ta”. Người huyện người họ kéo ra, dùng người tài theo kiểu hẹp hòi... ác nghiệt nhất là những ông tiểu nông ấy mà càng quyền cao chức trọng học hàm học vị xum xuê với cả cán bộ đảng viên nữa thì càng “Thôi rồi Hà Nội ơi!”. Nhiều yếu tố khiến cơ cấu dân cư thành phố vỡ một cách “tinh tế”, công tác tổ chức, cán bộ bị ảnh hưởng. Cái tâm lý “chín bỏ làm mười” thâm căn cố đế chiếm dụng, lấn át tư duy duy lý - nhất là trong khoa học, khiến nhiều khảo sát, điều tra, giải quyết vấn đề không được đẩy đến cùng. Và còn những biến thái nhỏ li ti nữa không thể không nghĩ tới. Như là liệu không gắn bó, yêu quý Hà Nội, người ta có chỉ tính tới những giải pháp ngắn hạn, “có tính chất nhiệm kỳ” cho nó? Như là một thành phố không có những dòng họ trí thức lớn như Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hồ Đắc, Hà Thúc ở Huế, hay “Hà Tĩnh họ Phan Nghệ An họ Hồ”, thì liệu có mất mát không? Nói thế thật ra không chính xác lắm, vì Hà Nội chi chít làng xóm, dòng tộc khoa bảng. Nhưng sao đã ngót nghìn năm theo Nho giáo, trí thức đô thị nhiều người huỷ tiết tháo đi, hành xử cứ hay khép lại, không nói ra cái điều họ nghĩ? Có một nỗi ám ảnh thường trực nào chăng?
Thành phố của chúng ta đa sắc thật. Những mảng mầu. Những tập người. Những thời khắc... Hệt như cái kính vạn hoa, chỉ nghiêng đi một tý đã thấy khác.

Trần Chiến

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 2

Thị dân, anh là ai?

Chốn quần cư.
Nhắc đến tính cách Thăng Long - Hà Nội, người ta thường dẫn câu của Nguyễn Công Trứ “chẳng thơm cũng thể hoa lài / Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Nhưng ở Tràng An, chỉ cái chốn đô hội của chúng ta, chả phải ai cũng thanh lịch, và chả phải đâu đâu cũng là “đô hội”. Là bởi vì cái tính chất quần cư của thành phố. Đấy là cái nơi ai cũng đến được, đến thì ở lại được. Nhiều người về hưu về Hà Nội. Trẻ đánh giầy, mỗi kỳ tết lễ “bỏ” lên xe, cấp quần áo trở về quê, ít lâu lại xuất hiện ở phố. Cuộc sống xa nhà đầy bất trắc, tai nạn, bệnh tật, hiểm nguy rình rập, chừng như đối với những “Ga - vơ - rốt đến từ Thanh Hoá” vẫn cứ hấp dẫn hơn. Nên chi “tôi thị dân, anh thị dân, chúng nó cũng thị dân”. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng, khi đưa ra cái “lô gô” nổi tiếng “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, cũng đồng thời xác định cái tính chất quần cư của thành phố. Ông bảo thật khó định nghĩa thế nào là người Hà Nội, nhưng cái tính chất cá biệt, chỉ riêng nó có thì tồn tại, tồn tại một cách bất diệt qua đằng đẵng những cay nghiệt của lịch sử.
Hà Nội hình thành từ một bến nước ven sông, chắc thế. Từ những căn quán bán nước chè, kẹo bột cho dân đợi đò, khu chợ hiện lên, trao đổi những tre luồng, gạo mắm. Rồi quan binh kéo về, thành trì mọc ra, có khu cho vua và vợ con, khu của lính tráng. Quanh thành là vành đai thị, với những làng nghề đặc trưng, sau trở thành những phố hàng (Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bông...). Sang thế kỷ XIX, khu phố Tây mọc lên với biệt thự, thư viện, bệnh viện..., nhà gạch có thể tồn tại cả trăm năm thay thế nhà tranh tre “cháy một cái đi vèo cả khu phố được”. Trải cả nghìn năm qua, Thăng Long - Hà Nội bao phen không được “phi chiến địa”, lúc Chiêm Thành ra, Nguyên Mông Minh Thanh xuống, nhưng cái tính chất là bến đỗ cho những đời người bốn phương thì không bao giờ thay đổi. Và lạ chưa, từ cái chỗ tấp lại, chả phải quê hương ấy, có những bông hoa vụt lớn lên, lấp lánh bền bỉ qua năm tháng đoạn trường. Nguyễn Du quê mãi Hà Tĩnh, nhưng nếu không đẻ ở kinh kỳ, chạy loạn muôn nơi ăn lộc hai triều, làm sao để lại được gương mặt buồn thảm cho đời. Giải nguyên Nguyễn Công Trứ nếu cứ ở Nghi Xuân thì có thể “giương” cái phong cách ngất ngưởng lên? Họ là người tài, đến đây được nhào nặn thì mới thành tinh hoa được. Nói thế lại có thể hình dung tiếp: cũng có bao ông tài hoa hơn Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ nhưng cứ ngâm vịnh sau luỹ tre làng mãi rồi đâm ra gàn dở lụn bại. Cái hồn vía, linh khí, tinh chất gớm ghê của Thăng Long - Hà Nội là ở chỗ này.
Kinh tế đô thị phát triển tạo ra thị dân, và họ tác động trở lại cái “nặn” ra họ. Ngoài nông, Thăng Long có cả sĩ, công, thương, những kẻ làm dịch vụ như¬ kỹ nữ, gánh thuê, thợ nấu ăn... Đô thị phát triển mạnh có lẽ từ thời Trần. Từ “nhà Nho trần xì”, tầng lớp nhà Nho tài tử “ra mắt”, khá gần có Phạm Đình Hổ, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, rồi hình như chấm dứt ở Nguyễn Tuân. Thị dân cần tiền nhưng không quá coi trọng nó đến mức chôn xuống đất hay làm nhà ngói cây mít như nông dân. Họ có quan niệm chất lượng cuộc sống khác, kiểu như tiêu tiền cho sướng ngũ quan, hình thành nhu cầu chân thiện mỹ. Đi hát (một nhà nghiên cứu nhận xét ca trù, nhất là hát nói, là đặc sản của thành thị), đánh cờ, phóng bút cho sang trọng, dần dần một nền văn hoá quý tộc hình thành với kiểu sống vừa phóng khoáng lại tinh tế. Tất nhiên, mỗi khi có chiến tranh hay thay đổi triều chính, dòng chảy đó lại bị đứt để rồi nối lại khi thời thế ổn định.
Trở lại thời bây giờ: Ai là người Hà Nội? Người đã đến đây từ 30 năm, hay phải từ năm bẩy đời rồi? Mươi năm nay vô số “người tỉnh” đến, đẻ con, đưa bố mẹ ra. Nhiều người “khẩu” một nơi mà “nhân” thì chắc chắn chung thân Thủ đô rồi. Muốn tìm người ở lâu nhất hoá phải ra ven đô, ngoại thành, nơi còn đình làng, nhà thờ họ, bằng khoán điền thổ. Và chính ở đây cũng lại gặp những bất ngờ khác, ví như ông Tổ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là tù binh Chiêm Thành. Thành phố không “thuần chủng”, đa tập người, vì thế thật khó xác định một tính cách cho dân của mình, và do đó, những giá trị, tính chất lâu bền cho mình, để mà rồi có thể dự liệu những ý tưởng, giấc mơ xa xôi khác. Và nên chăng dùng tới cái khái niệm “những người sống ở Hà Nội”?
Hình như đây cũng là một đặc điểm của nhiều nơi trong đất nước thời kỳ này. Xem truyền hình phỏng vấn nhiều người ở TP HCM, toàn thấy giọng Bắc. Tây Nguyên xa xôi, theo một con số trên tạp chí Ngok Linh, bên cạnh 1 triệu người bản địa là 3 triệu dân từ nơi khác đến; thiệt hại cho văn hoá rừng vô cùng.

Ai là thị dân?
Nhiều năm qua, chúng ta có rất nhiều chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng một cốt cách Hà Nội trên cơ sở văn hoá, đạo đức phù hợp với lối sống hiện đại. Những cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá mới, nếp sống mới. Những chiến dịch giáo dục, thuyết phục trên báo đài, ở đơn vị cơ sở... Tất cả đã góp phần tạo nên một diện mạo tích cực cho Thủ đô. Nhưng cuộc sống lại vẫn đặt ra những vấn đề khác...
Ví như hồi đất nước mới thống nhất, nhiều người vào Sài Gòn ở khách sạn, đã ngạc nhiên vì một lời khuyên đơn giản: “Người thành phố nên đóng cửa ra vào”. Những nhận xét khác: người ở trỏng làm các nghề “phục vụ” rất chuyên nghiệp; lái xe không chen lời sếp, bán hàng mềm mỏng. Họ bằng lòng với công việc của mình, còn cộng đồng tôn trọng nghề của họ. Đây là một đặc điểm của đô thị, con người phân tầng, mỗi anh mỗi kĩ năng rõ rệt, không ai làm thay ai được. Tuy có lịch sử ngắn ngủi nhưng TP Hồ Chí Minh có tính chất đô thị nhiều hơn Hà Nội? Nói thế không phải không có lý. Hơn nửa thế kỷ là thuộc địa Pháp, mấy chục năm dưới ảnh hưởng Mỹ đã làm Sài Gòn gần với xã hội Âu Tây hơn. “Văn Bắc - thơ Trung - báo Nam”, chả phải là nhiều nhà báo gốc Bắc vào Nam đã “quậy” tưng bừng trong môi trường ít nhiều có ảnh hưởng của tự do báo chí đó sao?
Cách mạng nổ ra. Luôn năm chiến tranh. Những thay đổi về chính trị, xã hội, kéo theo “nhân sự lãnh đạo”... Rất nhiều yếu tố khiến cấu trúc dân cư thành phố hoán đổi, bổ sung, di dời, không bao giờ ổn định. Hai quá trình thành thị hoá nông thôn và nông thôn hoá thành thị dù ngược chiều mà đều “chảy” mạnh mẽ. Ví như anh bộ đội “bốn túi chân chì” từ Thanh Hoá ra sau ‘54 vào làm rể gia đình “tạch tạch sè”, con đẻ ra đặc “mùi” thị dân lại là nhân viên ông thủ trưởng vận complet ngậm tăm. Trong mỗi cơ quan, gia tộc, phường phố đều có sự xen kẽ, giao lưu, tranh đấu và chấp nhận nhau.
Một đặc điểm của lối sống nông thôn là chế độ gia trưởng. Một con người tồn tại trước hết thuộc về cộng đồng, làm con ông ấy bà nọ họ kia người làng nớ. Ông trưởng tộc cưu mang cháu chắt hết nhẽ, xẻ cả cửa nhà ra, là một đặc tính tốt, chứ gì? Nhưng đố đứa nào lấy vợ sai ý ông, muốn mở lối đi riêng trong khu vườn (thênh thang) để đi về, tự do đón bạn bè là không thể. Tương thân tương ái đấy, nhưng cũng thật khe khắt. Nó khiến cho sau này, lúc ra tỉnh làm nghề truyền thống, một kẻ hậu sinh muốn sáng tạo thật khó. Chả phải bỗng dưng mà một học giả Pháp nhận xét “sự hình thành trên cơ sở các làng nghề làm chậm quá trình đô thị hoá của Hà Nội”.
“Người tỉnh” lại khác. Anh thị dân tồn tại trước hết với tư cách cá thể độc lập, chịu trách nhiệm về sự lựa chọn, những hành động của mình trong khuôn khổ pháp luật. Và tất nhiên, cả những thể chế đô thị. Mình làm mình chịu, có thể không biết hàng xóm, họ mạc, anh ta chơi với người tận cuối tỉnh. Có gan ăn cắp, làm giầu, học hỏi, sáng tạo, anh ta phải có gan chịu đòn, vào tù, phá sản hay tận hưởng thành công. “Đèn nhà nào rạng nhà nấy”, “anh em kiến giả nhất phận”, anh ta thật khó trách móc người thân đã không can ngăn mình khi sa ngã, cũng không dễ chia sẻ khi hưởng lộc, vì sinh hoạt, ý thức hệ, cá tính đều rành rẽ cả. “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, câu ấy là của Xuân Diệu nói về đỉnh Hy Mã Lạp Sơn. Nhưng nói vui ra, vơ vào theo cách điêu xằng, cũng có thể cho đó là tâm thế tồn tại của thị dân. Trong môi trường mình được là mình, sự sáng tạo, dấn thân, năng động đều dễ dàng, không bị níu kéo, chả phải nhìn ngang liếc ngửa sợ ảnh hưởng đến muôn ngàn mối quan hệ “như ở quê”.
Như trên đã nói, vì liên tục nhập cư, Hà Nội luôn tồn tại những tập người trong lòng. Dân đã ở dăm bẩy đời dễ chấp nhận, tránh va chạm đến chịu đựng, thích làm chuyên môn, văn nghệ, hay “nhường” vị trí thủ lĩnh cho “người mới”. Phải trải quá nhiều biến động thời thế, kém thích nghi với chúng (do đã có cuộc sống ổn định), họ cũng “lười lĩnh”, “yếm thế”, ít tham vọng hơn hẳn, trong khi “người từ quê ra” tính cách mạnh, luôn có xu hướng tiếp tục chiếm lĩnh đỉnh cao. Đất học cung cấp cho kinh kỳ người tài, do sàng lọc tự nhiên mà họ lại “tụ” về một chỗ. Ví như vì đông người Nghệ mà tạp chí Văn nghệ Quân đội được “đặt” là “Văn đội quân Nghệ”, Viện Văn học thành “Viện Văn Nghệ”. Còn trong đội ngũ giảng viên đại học thì khỏi nói. “Hà Nội một triệu Nghệ nhân”, như ông nghị Nguyễn Lân Dũng phát biểu, nên chi đội bóng đá Sông Lam ra thi đấu như ở sân nhà. Người xa quê cũng hay kéo cả họ hàng, người làng ra làm “phên giậu” cho chắc chắn. “Một người làm quan cả họ được nhờ”, biến tướng của câu ấy từ cơ quan, công ty lan ra cả nước ngoài (Nga chẳng hạn), nơi những “soái” cùng “tướng” đều đồng hương trong một doanh nghiệp lẫy lừng. Dù sao, vì lợi ích chung, họ không thể co cụm, kỳ thị hoàn toàn, mà vẫn dùng người tài, chuyên gia, nhưng không ở vị trí quyết định.
Có một quan sát khác khá là “có tính chất xã hội học”: nhiều người ở chung cư sang trọng, vài ba ô sin, ô tô bim bim rồi, vẫn mong có tý đất; ấy là cái đuôi của tâm lý nông dân, không có đất tức vẫn không có gì cả.
Tiểu thị dân lại là một hình ảnh khác. Tủn mủn, dựa cậy, sột soạt sau lỗ khoá, cánh cửa văn phòng, công sở những lời sau lưng, lối a dua, dò xét, nhưng trước mặt lại rất “sĩ”. Thủ trưởng muốn nghe lời nói thẳng không dễ, và nghe được lại rất khó dễ chịu. Đồng sự nhún nhường nhau trước mặt nhưng thị phi, bất hợp tác trong công việc. Người có chút quyền hành thực thi công vụ như ban ơn, còn người đề xuất, dù hợp lý đủ đường, vẫn là kẻ đi nhờ cậy. Những quan hệ dích dắc, có khi phí tổn chả bao nhiêu nhưng đấu trí để giải quyết thì quá mệt, là một nguyên nhân làm nản lòng nhà đầu tư nghiêm túc, những ý tưởng nghiêm túc. Chập chờn tấm lưới rất vô hình, những khuôn thước chẳng thể ngờ trước con người trẻ tuổi được dạy dỗ tính độc lập, có mơ ước hào sảng. Và ai có thể “phê bình” nhau, coi là “vi phạm”, là “khuyết điểm” trước những “tính cách” như thế nhỉ?

Xác định tính chất thị dân
Vì sao ai ai cũng muốn về Hà Nội, chúng tôi sẽ bàn đến trong một bài sau. Nhưng có một điều chắc chắn là làn sóng nhập cư hàng chục năm nay không có ai kiểm soát, đặt vấn đề hạn chế hay chọn lọc. Làn sóng ấy tạo điều kiện cho người tỉnh ngoài, đa tài năng, tinh hoa cũng như cặn bã về thành phố. Bổ sung nhân lực (“thô” thì anh xe ôm, chị “ô sin”, “tinh” thì ông giảng viên đại học, nhà nghiên cứu), nó lại gây sức ép cho thành phố: thiếu trường học, bệnh viện, điện nước, nhà ở, giao thông, vệ sinh... Thử tưởng tượng trong nhà mình có thêm vài người lạ, ai cũng có hoàn cảnh buộc phải xa quê, rồi đặt vào đô thị mà xem, sẽ rất khó để quyết định buông trôi hay là hạn chế. “Nhân đạo” với tập người này thành ra lại “vô nhân đạo” với tập người kia. Hy vọng là bài toán luẩn quẩn này, đã đặt ra bao nhiêu năm, sẽ phần nào giải được khi vùng Thủ đô hình thành, những đại học, cơ quan, khu công nghiệp... được đẩy ra Hà Tây, Lương Sơn. Hy vọng là thế...
Với những đặc tính dân cư kể trên, có thể thấy đặc tính đô thị của Hà Nội còn mỏng hơn Sài Gòn, nơi mới chỉ thành đơn vị “trấn” hơn 300 năm. Nhưng dầu “người tỉnh” về nhiều thế nào, quá trình thị dân hoá cũng vẫn diễn ra ngày một nhanh hơn. Trong gia đình trung lưu có nhiều buồng riêng, bố mẹ không tự do vào buồng con. “Tôi tự hào về bố mình, nhưng trước hết tôi là tôi, với những cái hay dở riêng. Trước người lạ, khi “bị” giới thiệu thân thế ra, người ta chỉ nói chuyện với “con bố tôi” chứ không phải với “tôi”, nó không giản dị, nhiều khi gượng gạo...”, con một cán bộ lão thành bộc bạch. Đẻ ít, có điều kiện kinh tế, những cặp vợ chồng trẻ đều muốn tách khỏi gia đình lớn: “Sống tam tứ đại đồng đường rất gò bó. Mình khá hơn ông anh, muốn ăn ngon chơi khoẻ thì ngại, mà giúp đỡ nhau luôn cũng thế nào... Báo chí hay nêu gương những nhà nhiều tiểu gia đình hoà thuận, chỉ là vì họ không có điều kiện tách ra thôi”. Còn trong xã hội, vai trò chuyên gia, người có hiểu biết trong một chuyên môn sâu ngày càng quan trọng. Đã chả có người rỉ hoen trong cơ quan nọ, khi rời khỏi biên chế thời được trọng dụng ngay ra đấy ¬... Trong những ngôi nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều, mỗi căn hộ là một thế giới khép kín, những người cùng tầng có con hằng chơi với nhau, gặp nhau trong thang máy đều chỉ ừ ào chiếu lệ. Nhân viên nhiều doanh nghiệp có lệ ăn trưa chung nhưng tiền trả riêng, thuốc lá không mời nhau nhưng xin thì cho. Các cụ văn nghệ cao niên uống bia quán Halida ở Lý Thường Kiệt lập nhóm KAMA, nghĩa là “Không Ai (phải) Mời Ai”. Và rồi đến lượt cỗ cưới, những bà chu đáo lo gắp cho người khác (đa phần không quen biết) lại trở thành nỗi kinh hoàng cho cả mâm. Nhà văn Hồ Anh Thái coi “động thái” gắp ấy là sự cưỡng đoạt quyền tự chọn lựa của người khác.
Nhưng sự giải phóng cá nhân giúp cho người này được độc lập, lại mang tới nỗi cô đơn cho người khác. Nhiều bố mẹ phát phiền vì con cố thủ trong buồng với máy tính và tivi riêng, chỉ có mặt bữa cơm. Ông bà muốn “tạt” sang chơi với cháu không gọi điện trước không được. Tức là sự độc lập cũng nên có chừng mực. Cứ thử đến những nhà nhiều tầng mạn Trung Hoà - Nhân Chính mà xem, có những bà cụ ở quê ra, con lo cho chả thiếu thứ gì nhưng suốt ngày ngồi bậu cửa ngóng người bắt chuyện, chả được như đám “ô sin” cứ bế trẻ xuống sân chung, gặp nhau là tha hồ “buôn”.
Có nghĩa là cộng đồng, “bầy đàn” hay cá thể cực đoan quá, đều có chỗ phát phiền!

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

HN đón Xuân

Năm nay thời tiết thật kỳ lạ. Vào ngày ông Táo lên trời thì khí trời nóng ấm. Tôi lượn ra bờ hồ Hoàn Kiếm coi không khí chuẩn bị tết của thủ đô. Năm nay có lẽ do thời tiết mà mọi người có vẻ uể oải, trước cửa Bách hóa Tràng Tiền cũ, các đồ trang trí vẫn ngổn ngang chờ được sắp xếp. Xung quanh Hồ Gươm, các cô công nhân công ty công viên cây xanh vẫn đang xếp các chậu hoa thành các mảng trang trí chào xuân.

Mưa rồi nắng, đào HN nở tung từ 23,24 tết!

Hoa lốc....luôn xua về những ký ức HN xưa, khi còn trẻ...lúc trẻ thơ

Tranh cổ động và Hà Nội! may mắn là hôm nay vẫn còn thấy được, dù chỉ còn tại vị trí này.

Các chậu hoa đang được sắp xếp, bày quanh bờ Hồ.

Chỉ những bông hoa tươi mới hàm ý xuân trong cảnh này.

1000 năm Tháp Rùa!

Ông vua khai sinh Thăng Long - Hà Nội

Sắc xuân sớm.

Những cây đỗ quyên này có nhập từ Trung Quốc? 
Các thùng các tông in tuyền chữ tàu và bên trong gói báo Tàu.
Cúc vàng gợi nhớ tết phương Nam.

Họa sỹ đường phố và người mẫu (khách hàng)

Đền Ngọc Sơn.

Cầu Thê Húc
Và các Teen thủ đô đang dự đoán tương lai qua những lá bài.....

Ngay dưới chân Tháp Bút!
Màn hình ở Bờ Hồ thông báo còn 245 ngày nữa là đến Đại Lễ hội Ngàn năm Thăng Long.

  Do máy bay bị trễ nên chẳng kịp tham gia tất niên vui vẻ tại Vườn Treo cùng các bạn trỗi (xấu, tốt, cũ mới....), tôi góp phóng sự ảnh này như một món quà xuân nhỏ tặng cộng đồng.

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

Nửa vời nhà ống (tiếp theo và hết)


  Nhưng lại có một quá trình khác, ở chiều ngược lại. Khi trở thành thị dân, người quê cũng làm ăn buôn bán, quan hệ rộng hẳn. Các tinh hoa bốn phương đổ về, để có lúc nhận ra rằng thành hoàng làng mình không hẳn đã “đè nghít” được thành hoàng làng khác, thiên hạ còn khối anh tài danh, rằng ta chỉ giỏi một, trong khi những ấy những nọ còn nhiều nghề lắm. Và dù sao, nơi cư trú mới cũng có lệ làng mới, áp đặt lên ta những lề thói không thể không theo.
  Nhận thức khác thì ứng xử cũng thay đổi. Cái để dung hoà giữa “hoà nhập” với “trở về cội nguồn” là các hội nghề nghiệp, thư quán, xã quán. Những kì hội chợ Tây mở có khu riêng cho các nghề, phần nào đem lại sự hoà trộn. Trong sinh hoạt nghề nghiệp, quan hệ xã hội thì như vậy. Còn tại nơi ăn chốn ở, cái chỗ khả dĩ dung hoà ấy là ngôi nhà ống đa chức năng. Nhà ống vừa khép vừa mở, cho phép cá thể và cộng đồng cùng tồn tại, cộng sinh. Anh em, bố con buôn chung một vốn, “thuyền lên nước lên”, lại vừa kiến giả nhất phận. Ngoài những chỗ để sinh hoạt chung ra, mỗi gia đình nhỏ có chốn riêng, nhưng lại không kín đáo quá. Để vào “chuồng tiêu”, lên kho lấy hàng hay ra phố, thì người nọ đi qua nhà người kia. Sinh hoạt vợ chồng phải giấu diếm. Ăn thêm miếng nào dễ cảm thấy mình “ích kỉ”. Thế nên có nàng dâu mới gẩy từng hạt cơm trước mặt mẹ chồng, chị em dâu, sau đó ra ngoài chén đẫy hai ba bát phở. Ra phố cơ mà, chứ có phải ra làng đâu, ai biết mình lèn cho chặt bụng…
  Kín đáo với xã hội, mở ra trong gia tộc, nhà ống dung dưỡng một tinh thần chung, lại cho phép cái riêng duy trì. Nó thích hợp với sự nửa vời, ngại ngùng sự giải phóng cá nhân tuyệt đối, lại vừa sợ hãi, chán ngán các tôn ti, phép tắc- có thể do cụ cố hay bà mẹ chồng áp đặt. Những cái ống có nhiều ngăn nhưng không nhiều không khí để thở lắm ấy vừa là pháo đài gia tộc, vừa là cửa khẩu thông giao. Những con người trong đó chân còn dính bùn, đầu nghĩ chuyện mang hàng đi nơi xa quảng bá có một tâm lí không nhất quán: vừa tự tin, hồ hởi muốn vươn ra, lại vừa tự ti, khép lại, quay về nếp làng. Người đàn ông chủ gia đình gánh hàng lên ngược bán có thể chơi bời, phá cách mặc sức, khi về lại một mực giáo huấn vợ con bảo vệ nếp nhà. Những cậu trai theo Tây học, “pác lê phăng xe” lầu lầu, qua bậc cửa vào nhà là phải chào hỏi thật đúng khuôn phép. Những thông phán, đốc học rất mực được trong vọng ở nhiệm sở, về nhà phải thi lễ rồi mới cởi khăn đóng áo dài hay veston, cravatte ra. Là bởi vì trong “ống” nào cũng có một bậc gia trưởng duy trì tinh thần hướng về nguồn cội. Không vị đó, thì phải lập ra thôi, dù “biểu tượng tinh thần” mới trong đầu có thể ngổn ngang chí hướng “ngoại lai”.
  Hà Nội, khu Ba sáu phố phường giờ còn nhan nhản nhà ống, nhờ chủ trương hạn chế việc xây cất,cải tạo của nhà chức trách. Thế nhưng có thể khẳng định đến 99,99% cấu trúc dân cư trong đó đã không còn như cách nay 60 năm, so với thời nhà ống ra đời lại càng xa cách. Chiến tranh, các thay đổi chính trị- xã hội tạo ra sự kẻ đến người đi. Cuộc cải tạo nhà cửa sau hoà bình khiến đa phần chính chủ rút lên gác, để lại cửa hiệu, tầng dưới cho “người Hà Nội mới”. Cả trăm tuổi rồi, nhiều ngôi đã xập xệ, dột nát, thậm chí nguy hiểm mà không sửa được, do nhiều chủ sở hữu quá (thông thường trên là tư nhân, dưới thời Nhà nước quản lí). Thế mà dường như lại có ai đó chủ trương khôi phục nhà ống truyền thống với sinh hoạt gia tộc như xưa. Thật không ổn. Ở vậy rất thiếu tiện nghi, bí rị, ngột ngạt, lại phải giả dối với nhau. ý hướng “về nguồn” ấy xuất phát từ một không gian biệt thự chăng? Hay người ấy muốn chỉ loại nhà ống mới, xây trên các lô đất trăm mét vuông trở lại?
3. Đến đây, lại phải nhắc đến một ý, nói mồm, nên có thể không chính xác lắm, của học giả mới quá cố Trần Quốc Vượng. Rằng, từ khi chuyển về đồng bằng định cư, đóng đô, người Việt chỉ giỏi đắp đê, trị thuỷ và tiến về phương Nam. Còn trong công cuộc khám phá, chinh phục, tiếp tục vươn ra biển để thông thương, hay đi đến tận cùng của một chủ thuyết, họ hay ngần ngừ, nghi ngại, sợ hãi sự hung hiểm của biển cả, không dám đi tiếp. Ông gọi đó là tâm lí “xa rừng nhạt biển”. Phải chăng đó cũng là tâm lí của người ở nhà ống truyền thống?

TTC-K3
(Tranh của Bùi Xuân Phái)

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Nửa vời nhà ống


Có những từ giờ người ta hay dùng nhưng khác hẳn nghĩa gốc, mà “gốc” chỉ mới mọc lên chừng hơn trăm, chừng vài chục năm nay, chứ nào phải Hán Việt xa xưa gì. Chẳng hạn “biệt thự”, vốn được hiểu là kiểu gì cũng phải có vườn, bây giờ “nới rộng” ra cho cả khu đất to chèn nhà kín, không còn chỗ cho cây mọc. “Nhà ống” bây giờ chỉ nhà lô, sản phẩm của cách chia đất theo điểm công chức của cơ quan nhà nước, chừng dăm chục mét vuông, thường hình chữ nhật, xây ba bốn tầng nhà cho một gia đình hai thế hệ ở. Không gian riêng cho từng cá thể, buồng vợ chồng, con cái, không gian chung – là bếp núc, phòng khách, chỗ thờ cúng… đều có cả. Vì kiểu gì cũng là mấy tầng nhà chồng nhau trên lô đất chữ nhật nên muốn kiểu cách gì thì muốn, đại thể cũng không thể phá cách, tưởng tượng nhiều quá. Quanh đi quẩn lại hàng xóm chỉ khác nhau cái chi tiết. Có những cái tên khá hay đặt cho nó: ”nhà công – ten – nơ” - nếu thẳng đuột từ trên sân thượng xuống, hoặc “bao diêm có mái”. Nhiều nhà loại này là quà của thời kì cuối cùng nhà nước phân đất cho công chức, rồi họ xây nên những “ngăn ở” khá tiện nghi trong đó. Ở đây, chỉ nói về loại nhà ống truyền thống xuất hiện cách nay hơn trăm năm trong khu Ba sáu phố phường Hà Nội, có người Tây gọi “maison de tunnel” - chứ không phải “ maison de tube”. “Nhà đường hầm” hay “nhà ống”, thôi thì cũng bí cả. Vâỵ mà nó lại là hình thái nhà đô thị chủ yếu của Hà Nội trong một thời gian dài.
  1. Nhà ống Hàng Đường Hàng Bạc Bát Đàn Bát Sứ thường hai tầng, tường gạch chịu lực xây xi măng, lợp ngói. Phần gỗ khá nhiều, nhất là sàn tầng trên, tức là pha giữa vật liệu Tây với các thứ ta trồng được. Thật nhiều chức năng chen nhau. Tầng dưới có cửa hiệu, giếng giời, những đợt nhà ngăn cách qua khoảng sân, là chỗ ở của từng gia đình thành viên. Thể nào cũng có khoảng không thông lên gác, lan can đủ thấp để câu hàng lên, đủ cao để trẻ con không ngã. Khám thờ kín mít, ít khi có cửa sổ. Vài ba mái ngói châu vào nhau, có miếng kính lấy ánh sáng. Không gian riêng ít, thành thử vợ chồng anh, em nghe, nhìn lẫn nhau, mẹ chồng riếc thì ba bốn nàng dâu cùng “quán triệt”. Đại gia đình ăn một mâm, xong các bà dành nhau rửa bát, kiểu “Chị để em!”- “Cô để đấy, tôi khoắng cái là xong ấy mà…”. Nhưng đố ai dám “nhường “ ngay. “Ăn “ nguýt là cái chắc!
   2. Ra đời thời thuộc địa, nhà ống Ba sáu phố phường phải dân có máu mặt mới xây sắm nổi, nghĩa là không buôn bán cũng phải công chức ra gì. Nhưng dù có máu mặt, mang tiếng dân hàng phố, họ đều còn họ hàng hang hốc dây dợ lằng dằng ở quê, tập tục, lề thói chưa xa với ngôi làng gốc rễ lắm. Nói nhà ống là sản phẩm của giai đoạn thuộc địa hoá, hình thành đô thị cũng đúng. Nhưng cũng đúng là nó bộc lộ sự nửa vời khi người đồng bằng sông Hồng chuyển lên quần cư ở Hà Nội, bỏ lại ruộng đất, nhà thờ, mồ mả ở quê cho họ hàng trông nom. Nói cách khác, nhà ống là cái gạch nối từ ngôi nhà gia tộc ở quê, thường hình chữ U, vài bốn, thậm chí dăm bẩy gia đình thành viên quây quần quanh từ đường, nay "chuyển lên" kiến trúc Tây, có nhiều buồng kín, thông nhau qua hành lang chung.
Đặc điểm của đô thị là các cá nhân rất độc lập, sống tuân thủ “phép vua” – tức luật pháp- hơn “lệ làng”, tức những quy ước, nề nếp ở hương thôn. “Ra tỉnh” tức là quan hệ cha con, họ hàng, làng xóm phải “bay đi ít nhiều”, nhường chỗ cho cẩm, “pu lít”. Bạ đâu cũng vứt rác, xây cất tuỳ ý là không được. Xóm giềng đụng nhau không phải cứ tuổi cao hay vai trên là có lí… Lại không thể có chuyện hè nhau “đánh bỏ mẹ thằng tổng trên đến ve gái làng ta” hay cậy gần nhà, bởi ra khỏi nhà là không phải “làng mình” nữa rồi. Và chào ông ấy bà nọ một câu, hôm sau gặp lại không thấy người ta hỏi trước cũng không thể trách cứ.
Những lối cư xử ấy, dù chưa thành chuẩn mực bắt buộc ngay, vẫn làm người mới thành anh tỉnh thành bị ngợp. Tâm lí co cụm nảy sinh. Các làng nghề hình thành trên cơ sở hợp tác kinh tế, như Đan Loan ra Hàng Đào, Đại Bái đến Hàng Đồng, Đồng Sâm ở Hàng Bạc…. Buôn có bạn bán có phường mà, chắc nơi nào trên thế giới cũng vậy. Nhưng thể nào trong sự kết bè ấy cũng phải có lí do co cụm. Tỉnh không sẵn thần linh, vả có cũng không phải vị của làng mình. Vậy thời không gì bằng lập lấy đình làng mới, đem thành hoàng gốc ra thờ. Bàn thờ họ, thờ tổ cũng bấy nhiêu hoành phi câu đối cuốn thư chép lại ở chốn cũ. Và rủ nhau, những họ hàng làng xóm ra cùng làm ăn, giúp việc. Giỗ chạt, hội làng không về quê, nhìn quanh, vẫn thấy người cùng quê, chả tin cậy, đầm ấm hơn à…
Nhưng sự “tìm về cội” ấy cũng có mặt hạn chế của nó. Đầm ấm quá thì tính cách khó bề phát triển. Cá nhân luôn thấy chật hẹp, bị ức chế trong khuôn phép thì khó sáng tạo. Sự sáng tạo luôn bắt nguồn từ một cá thể. Cái mới, trong một khoảng không ninh ních quy ước cộng đồng không dễ ló ra, có nhẽ “hơi bị giống “ mầm cây mọc từ đá. Anh thợ tài hoa nhưng lắm tài lắm tật, khi tìm tòi một mẫu hoa văn mới, liệu có qua mắt được ông trưởng phường kiêm trưởng họ trưởng tộc, kiêm luôn người bảo trợ, thầy nghề? Sau lưng bậc gia trưởng là một khối chắc nịch những quy ước đạo đức, cách cư xử của cộng đồng. Chỉ cần đem những khuyết điểm sinh hoạt ra soi, anh ta “thi” không đỗ là cái chắc.
Gia phong thì gần gụi. Xa tít tắp mới là phép nước. Vậy nên “Tây “ có câu “Hà Nội là cái làng lớn”. Lại một nhận xét khác thật “tây”: “ Sự hình thành trên cơ sở các làng nghề làm chậm quá trình đô thị hoá của Hà Nội”.

TTC-K3
(còn tiếp)
Minh họa: Hàng Buổm - tranh cắt giấy cũa Bùi Xuân Phái

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

BẠN CÓ BIẾT ?

Blog k3 ngày càng sôi động, tôi thây cân phải có một sự đóng góp, mong nhận được xẻ chia từ bạn bè gần xa, bạn có thể tham gia cùng tôi trong "bạn có biêt" có thể tranh luận trong phạm vi những vấn đề thuộc về lịch sử. Khai trương cho chuyên mục, là một số vấn đề xung quanh Hà Nôi ngàn xưa.

Một chút hoài niệm về Hà Nội từ phương Nam với hai mùa mưa , nắng

                           Tên gọi Hà Nội có từ bao giờ ?
Sách Mạnh tử (thế kỷIII Tr.cn) có câu : “Hà nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội”( có nghĩa. là nếu Hà Nội gặp tai họa thì di dân tới Hà Đông, chuyển thóc gạo về Hà Nội”. Số là đất Hà Nội ngày ấy tương ứng với tỉnh Hà Bắc ngày nay ở Trung Quốc nằm ở phía bắc sông Hoàng Hà còn phía nam con sông này gọi là Hà Ngoại. Sông Hoàng Hà cũng còn là ranh giới của Thiểm Tây và Sơn Tây, cho nên phía đông sông Hoàng Hà ( Sơn Tây ngày nay) thời cổ còn có tên là Hà Đông, phía tây ( Thiểm Tây ngày nay) gọi Hà Tây.
Còn ở nước ta , địa danh HÀ NỘI xuất hiện vào đầu triều Nguyễn (1802-1945).  Vua Gia Long lên ngôi lập ra triều Nguyễn, năm Gia Long thứ 4 –(1805) đặt tên Thăng Long( Thịnh vương lên) thay cho Thăng Long (Rồng lên) , đồng thời xây lại thành mới nhỏ hơn thành cũ , đổi phủ Phụng Thiên- vốn thuộc khu vực kinh thành Thăng Long của các triều đại trước- do Lê Thánh Tông lập ra 1469, thành phủ Hoài Đức. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) do việc phân định các khu vực hành chính trên toàn quốc ( bãi bỏ các trấn thay vào đó là các tỉnh) , Hà Nội là một trong số 15 tỉnh trực thuộc chính quyền trung ương ở Bắc kỳ đã ra đời, bao gồm bốn phủ, Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa và Lý Nhân. Có thể nói tỉnh Hà Nội ở thời điểm này bao gồm thành phố Hà Nội ngày nay, tỉnh Hà Đông thời thuộc Pháp và toàn bộ tỉnh Hà Nam, nằm giữa sông Hồng và sông Đáy.

                     Phải chăng “ Hà Nội 36 phố phường”?
Hiểu thế nào cho đúng về phố và phường ? Cần phải quan niệm đây các khái niệm mang tính lịch sử.
Thời nhà Lê phường không chỉ được quan niệm như là một tổ chức của những người cùng làm một nghề mà còn được coi như một đơn vị hành chính cơ sở của kinh thành Thăng Long. Phủ Phụng Thiên là tên gọi của Thăng Long dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1492)- bao gồm hai huyện Vĩnh Xương ( sau là Thọ Xương) và Quảng Đức (sau là Vĩnh Thuận), chia đều thành 18 phường cho mỗi huyện. Như vây Thăng Long với tên gọi mới phủ Phụng Thiên bao gồm 36 phường.
Đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn đặt phủ Hoài Đức thay cho phủ Phụng Thiên và chia nhỏ với nhiều đơn vị hành chính như phường, thôn,trại, như vậy phủ Hoài Đức dưới triều Minh Mệnh bao gôm 13 tổng , 239 phường , thôn , trại. Tời triều Tự Đức chỉ còn 153 phường , thôn, trại. Như vây đã cỏ thể hiểu có hay không Hà Nội 36 phố phường. Dưới góc độ là một khái niệm lịch sử phố sẽ được hiểu như thế nào ? do cách hiểu về sự hinh thành đơn vị hành chính phường từ thời Lê, cho nên phố không thể ngang cấp với phường, có thể hiểu phố nguyên nghĩa chỉ là chỗ bán hàng hay như ngày nay là cửa hàng, cửa hiệu , nhiều phố tập trung lại thành các dẫy phố mang tên Hàng Chiếu, Hàng Bạc v.v.v vì vậy có thể hiểu trong phường cổ có nhiều phố , vậy có nên quan niêm 36 phường thời Lê là 36 phố + phường.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

ĐI TÌM MỘT TÍNH CÁCH HÀ NỘI.

TTC tặng chúng ta một bài nữa trong chuỗi bài về Hà Nội của mình. Mời các bạn thưởng thức.


Từ lâu ,khi nói về tính cách Hà Nội, người ta hay dẫn những câu đại để Dẫu thơm cũng thể hoa lài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An, hay Ăn Bắc mặc Kinh. Có người giải thích “ Tràng An” đây là Trường Yên Ninh Bình, hay ” Kinh” là Kinh Bắc. Nhưng tôi cứ vơ vào cho Hà Nội vì thấy những tính nết ấy nó cũng định hình rồi. Nhưng dường như Hà Nội thiếu những câu nói về các thói tật không hay, như người Quảng Nam dặn nhau “bất giao Thừa Thiên hữu, bất thương Bắc Hà xứ, bất thú Bình Định thê...”. Hay như cụ Đặng Thái Mai đúc kết về người Nghệ mà tôi nhớ không hết: “bất khuất đến liều mạng, ý chí đến cố chấp, hà tiện đến cá gỗ…”. Mà đi tìm những tính cách Hà Nội thì, bên cạnh những tinh túy, lành mạnh, cũng cần nhấc, tóm cả những thói tật ấy.
Ngược lên nữa thì chưa biết, chưa rành. Nhưng quan sát chung quanh, những họ hàng, người quen, tôi tạm khoanh trong một lớp người ít nhất đã ba đời sống ở Hà Nội. Đời đầu, sinh ra cách nay quãng trăm năm, có thể là những ông thông, ông phán, viên chức nhỏ - cỡ thư kí. Đời thứ nhì, nay quãng bảy tám chục, năm bốn nhăm là học sinh, sinh viên, đóng cửa nhà đi kháng chiến, đầu không ngoảnh lại vẫn biết sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Có người ở lại, theo đến cùng cuộc trường kì, trải qua những giờ phút chiến thắng hào hùng, những đấu tố thời cải cách ruộng đất rồi sửa sai. Có người “dinh tê” vào thành, làm ăn vật vờ rồi năm năm tư sợ quá chạy vô Nam, có thể vào bảy lăm lại chạy đi Mỹ. Không ít người “lốm đốm “, sống ở vùng giáp ranh, không dư dật gì nhưng vẫn có cà phê uống buổi sáng, bụng dạ để cả hai phương. Đời thứ ba năm nay quãng 40-50tuổi, đang sống khì khì giữa bố mẹ bên trên, con cái ở dưới.
Không tính đời thứ tư ,dù rõ ràng là một thế hệ, vì họ khác nhiều quá, chưa định hình và cũng không dễ hiểu .
Những người khoanh lại ở trên đều có vài đặc điểm chung, như trải nhiều biến động chính trị, từ quân chủ mạt vận đến Pháp thuộc, Nhật thuộc, Cách mạng. Xen giữa là các vận động xã hội: Nho tàn, Tây học, cải tạo tư bản, chiến tranh giải phóng, chiến tranh phá hoại, bây giờ là kinh tế thị trường .... Lí lịch họ thường ghi xuất thân viên chức, “tạch tạch sè “ , thị dân, nội trợ gì đó. Nghĩa là họ không phải quân chủ lực cũng như quân tiên phong.
Tạm lấy một cái đặc điểm thô kệch nhất làm căn cứ, là đã cư trú ba bốn đời ở Hà Nội rồi quan sát, nhận xét họ, có thể thấy được những cái gọi là tính cách chung. Như giao tiếp nhỏ nhẹ, không ăn to nói nhớn. Dù từng cá nhân có thể quá khép nép hay quá hài hước, lối tỏ ra của họ có chừng mực, không vồ vập mà ý nhị. Không nhậu lấy vui, cả mâm quay vòng một chén rượu đến lúc “đổ “ là vui, họ ưa nhâm nhi, lấy câu chuyện làm trọng, và cũng chỉ là “trà tam tửu tứ “ chứ không thích đông. Có lẽ vì vậy mà trai Hà Nội rất được gái Nam ưa, dù chưa biết so với đàn ông Nam thì ai chơi hết mình hơn. Dù rủng rỉnh hay nghèo kiết, họ khá khó tính trong thưởng thức văn học nghệ thuật, ăn uống, mặc, chơi, Tiếp thu văn hóa Pháp rất ngọt, hình như là tạng họ dễ chấp nhận những Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng hơn văn chương tranh đấu ( xin nói ra ngoài đề tài: Nguyễn Tuân là duy mĩ, nên đòi ông phải có màu sắc, thái độ rõ ràng, mãnh liệt quá với thiện - ác , giàu - nghèo là không phải lối) . Xin trở lại: họ ăn phở phải có cọng mùi, cá là phải thì là, rất trọng vị, không thích bún riêu thả trứng đèo cả thịt bò với nem tai kẻo mà mất vị tanh đi. Đội mũ vải na ná mũ phở ngày xưa cũng gấp mép sau lên một chút, làm đỏm kín đáo như thế.
Kẻ chợ là nơi chịu nhiều sức ép. Những luồng dân từ tỉnh du nhập theo các thay đổi thời thế, mang lại lời ăn tiếng nói, nếp sinh hoạt ở quê lên. Phải nói là bản năng sinh tồn của người tiểu tư sản không mạnh. Thời cải tạo nhà đất, họ thu mình vào nhà trong, lên gác, để lại mặt phố Hàng Ngang, Hàng Đào cho dân mới. Để rồi, dần dà, con cháu sinh ra, một nhà ba bốn thế hệ, dù cố giữ lấy lề nhưng vục vặc nhau là điều không thể tránh. Cũng bởi sức tranh đấu kém, ngại va chạm, ít tham vọng, họ thường chọn những việc chuyên môn như bác sĩ, kĩ thuật, văn nghệ, dạy học ... (nhiều khi không chọn mà do lí lịch sắp xếp ). Nhưng cũng phải nói là người Hà Nội gốc không có tính cộng đồng mạnh như người Nghệ An, Hà Tĩnh (vốn chiếm một nửa các cơ quan ngành giáo dục đào tạo ở thủ đô hiện nay). Có cái gì đó dè dặt trong thái độ sống của họ - dù chưa đến nỗi yếm thế. Họ thích làm việc, có ý tưởng, chính kiến nhưng thiếu hẳn tham vọng, sự chịu đựng lì lợm các sức ép. Sắc sảo trong quan sát nhưng hay xét nét, họ cũng thiếu tính kỉ luật, sự đoàn kết để làm nên thành công. ít người làm quản lí, có nghĩa là không quyền lực, không đè khiến được kẻ khác, phần do chính sách cán bộ, phần do cái cá tính ấy.
Với sự học và phông văn hóa trên trung bình, với sức cạnh tranh kém, trong đời sống cộng đồng, người tiểu tư sản dễ chấp nhận các sinh hoạt ngoài tỉnh tràn về, nhưng không dễ tiếp thu, hòa hợp. Gặp người ho khạc bừa bãi, phơi quần áo nhỏ nước xuống nhà dưới, họ phản ứng nhún nhường, tránh xung đột. Bị cơi nới lấn chiếm xin đểu, càng co lại. Có phải vì thế mà bị đánh giá “ hoài nghi , lừng chừng “ không? Hào hoa nhưng khinh bạc, vừa tự tôn vừa tự ti, họ thường tỏ tính cách không mạnh, không có ý làm thủ lĩnh. Trong công việc họ có chủ kiến, tinh ý, nhưng phải có người khác tạo điều kiện mới phát huy được khả năng. Tóm lại, tiềm lực người tiểu tư sản phát lộ nhiều ở thời kì hòa bình, ổn định hơn. Không ít đã có thành quả, tạo được những giá trị. Chứ vào thời điểm phải tranh đấu, họ lại ít bươn chải, thiếu quyết đoán. Họ có quá nhiều cái để tiếc. Hiển nhiên là người mới “ ở quê ra “ dễ tiếp thu cái mới hơn họ. Tất nhiên tiếp thu hồn nhiên, ít chọn lọc hơn.
Con người tiểu tư sản là vậy. Còn văn học viết về họ thì sao? Tôi thấy là chưa nhiều và bị vương vướng không ít. Viết về sự đổi đời của người nông dân, một anh thợ gắng học hành, ”trí thức hóa“ rồi trở nên có cương vị dễ hơn những “cô “, “cậu “ gọi bố mẹ bằng “ba me”, “cậu mợ “ đi vào cách mạng. Trong những vận động khoảng dăm chục năm gần đây người tiểu tư sản được ít hơn người nông dân nói chung, và mất ít hơn
người mại bản, quan lại cũ. Mẫu người bị tịch thu nhà rồi nung nấu những ước mơ trên gác xép khó có thể là một điển hình tích cực trong văn học. Một đằng được thấy rõ, như ruộng đất, như vị trí xã hội, đằng này lại có những đòi hỏi rất vô hình, tù mù, thỏa mãn những riêng tư khó vô cùng . Kiểu nhân vật “gàn dở”, theo lối “ chủ nghĩa trí thức “ như tấm gương lấp lánh đâu đó nhưng không đẩy tới, nên cứ bàng bạc, nhàn nhạt, đáng tiếc vô cùng .
Những người sống tại đô thị, có thời phải rời bản quán đi xa vì chiến tranh hay những biến động nào đấy, đã rì rầm làm nên bản sắc văn hóa riêng, những sáng tạo văn nghệ , khoa học cho thành phố. Nhưng để phát huy được bản sắc Hà Nội trong họ lại là chuyện rất khác rồi .

2000 TTC-K3
(Hình minh họa của hanoivanhien.com)

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

Nhịp đập phố cũ

Một trong những bài về Hà Nội của TTC K3. Xin giới thiệu cùng các bạn.
------------------------------------------------



Hồi nhỏ tôi ở Hàng Buồm, trong khu phố bây giờ được định danh là "cổ". Những ngôi nhà ống chật chội chen chúc người tứ xứ, đa phần dân nghèo, nghĩ ngợi rất đơn giản. Vào sâu hun hút là nhà bếp, hố xí bẩn thỉu, hàng xóm chán nhau mà gặp mặt không chào lại trách móc. Tôi đã không thể yêu "cái tổ" của mình, mặc dù nó có cấu trúc tương đối gọi là "di sản" bây giờ: nhà ống nhiều ngăn chen sân giời, những khoang gác có ô trống để kéo hàng từ tầng dưới. Chỗ ở của một gia tộc tam tứ đại đồng đường, đem nhét nhiều gia đình ở tỉnh về thật bất tiện.
Nhưng sang nhà cô tôi ở Hàng Đường lại là một không gian khác hẳn. Cô tôi ở một mình, kĩ tính, bướng bỉnh đến gan góc, thế nào mà giữ được cả số nhà nguyên vẹn trong cơn bão tố cải tạo. Mảnh sân không rộng, vì vẫn là nhà ống, nhưng sâu, đặt đầy chậu cảnh. Cầu thang chẽ ra, dẫn lên những căn phòng lát gỗ lim lâu ngày nở lồi lên. Thiêng liêng nhất là gian thờ lúc nào cũng khép kín. Mở ra, mùi nhang đen, hoa huệ và bưởi đột nhập vào mũi gây cảm giác rất lạ. Ngày kị cô tôi nấu những món đặc phong kiến tinh xảo không thể tưởng. Ây là nghe bình phán lại, chứ ngày bé tôi chỉ thấy sướng mê mẩn được lên ăn, phễnh bụng rồi còn muốn nhồi tiếp.
Kí ức của tôi về sự cổ kính đã qua đường mũi và dạ dầy như thế. Sau này , trong sách vở , nhất là qua tiểu thuyết “Hồ Quý Ly “ của Nguyễn Xuân Khánh , tôi mới biết phường Hà Khẩu từng có một không gian sông hồ cơ man lãng mạn. Một thời dài , phần thị của Thăng Long chỉ gồm những lối đi hai bên có nhà tranh tre , một ngọn lửa có thể thiêu trụi dãy phố và đền tạ vương hầu , ngay cả phủ chúa. Bao nhiêu lần đổi chủ , lúc có , lúc không phi chiến địa , kiến trúc bền vững trong khu phố ấy giờ sót lại chỉ còn cổng Ô Quan Chưởng . Chếch lên mé Đông Bắc có Thành Cổ , điện Kính Thiên .
Rồi người Pháp đến , xây phía Nam đường Tràng Thi một loạt công sở , biệt thự , đồn binh . Khu Ba sáu phố phường hình thành với những kiến trúc phong kiến chuyển tiếp sang thực dân , tuy có đặc trưng khá rõ nhưng gọi là “cổ “ rất không chính xác . Riêng quận Hoàn Kiếm bé tí xíu có hơn trăm di tích . Nhưng so sánh với những ảnh tư liệu do người Pháp giữ , thấy không thể tưởng tượng ra “dấu xưa xe ngựa “ ,” nền cũ lâu đài “ , nghĩa là yếu tố kế thừa không còn bao nhiêu .
Lúc trưởng thành tôi không còn ở Hàng Buồm , chỗ mới vẫn trong khu Ba sáu phố phường. Ân tượng sau chiến tranh về khu phố mình thường bắt đầu từ những buổi sáng. Tinh mơ, người hàng xóm lạch cạch chẻ củi, đánh thức giấc ngủ còn đương non . Đến khi khói nhóm lò bay khắp phố, vào từng căn buồng thì không thể nằm nướng mơ màng nữa. Ngột ngạt, khó chịu, nhưng kêu ca rất khó, vì đấy là miếng ăn trưa, ăn tối cho con họ. Hòa bình đã về nhưng sinh hoạt vẫn đắt đỏ. Thời thịnh trị của những chị mậu dịch mặt vác lên chưa hết, cầm tem phiếu đi mua thực phẩm còn phải khúm núm để có miếng ngon. Ngày ấy, người đàn ông khen cô bán gạo có bàn tay đẹp đã đem về nhà được túi tấm trắng vợ khen phải biết. Một phóng viên Pháp ghi nhận “cái nghèo và chiến tranh giữ lại cho Hà Nội hình thái cổ kính “...
Sau năm 1975, kiến trúc bắt đầu biến đổi. Cuộc cách mạng khu phụ, có người gọi là “nền văn minh toa lét “ từ Sài Gòn tràn ra. Những nhà vừa có vừa được ở biệt lập đã xây bếp, phòng vệ sinh mấy lạng vàng một mét vuông, gía trị cao hơn hẳn chỗ ngủ, tiếp khách. Tiện nghi biến đổi con người. Ngồi xí bệt “tư cách “ khác hẳn xí xổm “họ hàng với “quận công, “ cầu tõm “ ở quê “. Có máy tính, tivi, thanh niên nhuộm tóc, hát theo MTV. Nhưng còn ối gia đình cũng khá giả mà còn phải chung đụng thì không thể, vì nhà trên là tư nhân, nhà dưới lại nhà nước quản lí. Trong bữa ăn họ còn phải chịu đựng ông hàng xóm sột soạt vo nửa tờ báo đi qua để vào khu phụ dùng chung, cả hai bên đều thấy chướng.
Kịp đến thời đổi mới, mọi người, mọi nhà nhất tề bung ra làm ăn, sự khấm khá lan tỏa, kiến trúc vùn vụt đổi dạng. Nhiều người mua lại được cả số nhà, rất nhiều người mua lại được một phần để xây cất lại cho riêng biệt. Phổ biến hơn là những cuộc hoán chuyển. Trong một số nhà, các hộ tìm cách chia cắt khu phụ dùng chung, đổi chỗ cho nhau cốt có không gian biệt lập. Rồi thì cửa đóng then cài, ai ăn gì hay không ăn gì, mặc gì hay không mặc gì đã thoải mái, khỏi so bì giữ ý. Cuộc chia cắt, cơi nới đem lại sắc thái độc lập hơn cho mỗi “tế bào xã hội“, tất nhiên phải có tiền lo lót phường quận, những nhân viên quy tắc, thanh tra xây dựng. Nhưng tiền vẫn đẻ lãi, mà nhu cầu có không gian riêng cho mỗi cá nhân đã xuất hiện. Nên chi chỉ trong quãng hai chục năm cuối thế kỉ XX, nhiều gia đình đã có đến hai cuộc “cách mạng nhà cửa “, lần đầu để quây khu, tránh chung đụng, lần sau thỏa mãn những ý thích về tiện nghi, nhu cầu cho mỗi thành viên. Kết cấu mỗi số nhà thường có lối đi chung rộng 80-90 phân, đủ chỗ cho xe máy vào, và phải ngồi lên xe đi mới tiện. Những ô cửa trổ từ ngõ chung vào mỗi nhà, có đường thoải lên cho xe máy . Bây giờ thì nhiều ông bố bà mẹ muốn vào phòng con phải gõ cửa, khiến thân thuộc ở quê ra thấy xa cách, rằng “ vẽ , sao mà phú quý sinh lễ nghĩa ...“. Mặc lòng, các nhu cầu thị dân phải được thỏa mãn. Những cậu trai mới lớn thích mặc “xịp “ lên giường, “ép phôn “ gắn vào tai nghe Bít-tơn không hề muốn ngủ chung với anh em, dù rất ít anh em, càng không thích bố mẹ soi. Mỗi người có âm nhạc, kênh truyền hình, thú khám phá riêng. Riêng quá, đến nỗi một ông chủ gia đình khi xây lại nhà đã yêu cầu thiết kế hành lang, chiếu nghỉ rộng ra, làm chỗ sinh hoạt chung, kẻo con cái nghĩ gì chẳng biết đường theo dõi. Hình như là “sự cô đơn bản thể “ đã bắt đầu mon men ...
Phải công nhận là khu phố cũ có nhiều gia đình trung lưu. Tuy chỗ ở bé xíu, mà con họ béo phì, đeo kính, học đàn orgue, có vài gia sư kèm riêng Anh văn, toán lí. Thích truyện tranh, xem băng đĩa hình, TV, chơi games hơn truyện chữ, chúng chẳng tỏ con ễnh ương khác con ếch. Nhiều “ cô “, “cậu “ đi học Việt - Đức, là trường phổ thông trung học theo tuyến- bằng xe máy Spacy, có lúc chỗ gửi kêu váng cả chục điện thoại di động để trong cốp .
Nhưng giàu có đến mấy thì sự sang trọng, bắc bậc cũng chỉ có chừng mực, bởi diện tích nhà chỉ có thể tăng theo chiều cao chứ không nong rộng đi đâu được. Những hộp diêm đứng, có người gọi là “ nhà công ten nơ “ - ngó xuống đường đã thấy hun hút, ban công “ bụng chửa bẩy tháng “ phì phò máy điều hòa. Vườn leo lên sân thượng - nơi thường có bàn thờ thiên, đôi khi to cỡ cái miếu, ông chủ đứng tưới cây bên trên những ầm ầm huyên náo. Dưới đường, tiếng ồn, bụi bậm và sự lộn xộn làm chúa tể, tuy tiếng ồn Hà Nội còn phải gọi tiếng ồn Sài Gòn là “ cụ “. Những gốc bàng, bằng lăng bị quây gạch bít gốc để chỗ đặt bếp than tổ ong, hộp thuốc, ấm nước. Đa Cu Quyền Hàng Bông, đa Thanh Lương Ngõ Gạch chẳng có đất cắm râu. “Nhà mặt phố bố làm to “. Bởi phần vỉa hè trước mặt nhà nào đã thành sở hữu bất thành văn của nhà ấy nên nơi ngõ chung trổ ra thành chỗ kiếm ăn của các hộ bên trong. Len lách qua những bàn nước, gánh phở, mẹt bún phải “tay lái lụa “ lắm. Sự cộng sinh tạo ra những quan hệ ngọt ngào hay xô bát đổ đĩa, nhưng cuối cùng người ta cũng phải thu xếp bằng được. Trên vỉa hè, chẳng cần say rượu hay ngổ ngáo gì, không “đánh võng “ đố đi bộ nổi. Nên chi bà đầm điện ảnh Pháp C. Deneuve dòm phố cổ trên xích lô có nhận xét ngồ ngộ :” Hà Nội hoang dã, ô tô đi sau bộ hành “.
Chật ninh ních, ngày càng đông, mà phố cũ níu giữ người ta, cả người thừa tiền tậu đất xây nhà ra ven ngoại thoáng đãng. Ngoài phần là trung tâm, ở đây có trường học tốt, lắm chợ búa, quà bánh vừa ngon vừa rẻ. Cuối những năm tám mươi, khi sự làm ăn bung ra, nhiều chị nhiều cô ra bán hàng rất thanh tú, gọn ghẽ. Nhưng cốm đầu nia, nhãn đầu mùa sẵn quá, sẵn cân nhà thì đố đứa nào bán điêu nổi, thế nên chỉ vài năm mợ nào mợ nấy đã ra “eo bánh mì “ cả.
Dù nhà quản lí đã có chính sách hạn chế xây cao, xây to để giữ gìn bộ mặt cổ kính, sức sống nội tại trẻ trung vẫn tràn ra, làm bật từng mối chỉ của manh áo quá cũ. Người viết bài này có lần dẫn một đoàn sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đi thăm “ phố cổ “ . Dọc Hàng Đường , Hàng Ngang, chốc chốc lại có em hỏi “ phố cổ đâu chú ?“. Không có không gian cổ thì lấy đâu cảm giác cổ, dù chả đâu trong cả nước - ngay cả Hội An hay Huế - dày di tích bằng khu vực này. Chùa Cầu Đông, Thái Cam, đền Bạch Mã, và ngôi đình Tơ Lụa mới toanh ở 38 Hàng Đào nằm quá lạc lõng. Nên chi, đành dắt các cháu vào các ngõ. Tạm Thương, Phất Lộc, Thanh Hà dù nhem nhếch nhưng còn rung rúc cũ một chút.

#
Kiến trúc đã vậy . Còn dân cư thì sao?
Giống như mọi đô thị , Kẻ Chợ chẳng bao giờ bảo vệ được cho mình một cấu trúc bất biến. Cứ hai trăm năm một cuộc xâm lăng, gần gần chừng nấy một vương triều, bao nhiêu nước chảy qua cầu mà kể. Mỗi khi người trị vì trong thành thay đổi, cư dân ngoài thị lại xáo trộn theo. Quan binh các nơi kéo về cùng gia quyến mang theo nếp ăn ở quê nhà, thì sinh hoạt, lối sống, và trên hết, tinh thần của đô thị thật khó xác định. Thế nhưng dù sao ông giải nguyên Nguyễn Công Trứ gốc Hà Tĩnh cũng đã có câu “dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An “. Thanh lịch, chắc là trên nhiều phương diện, người ta thể hiện nét văn hóa trong ngôn ngữ, giao tiếp, ăn mặc, dáng đi, nụ cười, điệu hát... Đó chắc chỉ là bên ngoài, và cũng chắc rằng đó phải là kết quả của một thời kì Kẻ Chợ được ổn định lâu dài. Chiến tranh và mọi sự xáo trộn làm đứt các tiến trình văn hóa, giáo dục. Không bị binh lửa với những thói quen thời chiến ảnh hưởng, đã phân hóa thành giầu nghèo, chí ít cũng có một lớp người không phải lo cấy cầy quá, để mà bận tâm nhiều đến cách châm chè, pha rượu, sửa câu hát, lời văn..., ô thị mới có được nếp thanh lịch ấy. Nho giáo và nho sĩ đóng vai trò quan trọng. Dù ở Thanh Nghệ ra, Kinh Bắc, Sơn Nam về, họ đều đã được tuyển chọn, là tinh tuý ở quê. Họ tập nhiễm lề thói kẻ chợ, đồng thời làm chúng giầu lên bằng bản sắc của mình. Quá trình thành thị hóa nông thôn và nông thôn hóa thành thị cứ tồn tại song song tạo nên bản sắc Tràng An. Càng ít chiến tranh, nhiều phân hóa, sự chuyên biệt ở mọi giai tầng càng rõ, thì sự khác nhau giữa “ nhà quê “ và “ nhà tỉnh “ càng lớn.
Trong ba phần tư thời gian đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam trải qua những vận động cực lớn: Nho tàn, Tây học, canh tân, cách mạng ... Bảy tám mươi năm trước, trong tôn ti phong kiến bán thực dân, khu phố có người giầu kẻ nghèo. Công chức, trí thức và người lao động chân tay có thân phận rạch ròi; bác sĩ đã được gọi “quan đốc “. Hàng Đào có những hiệu buôn lớn của người Ân. Người Việt có nhà Tam Kì, Lê Đào. Cụ Vĩnh Hòa ở Hàng Đường buôn chè sen tuyết nuôi mấy ông con phương trưởng được triều đình phong Tứ phẩm cung nhân. Sự phân hóa xã hội cùng một vài tiến trình văn hóa, kinh tế tạm ngưng lại sau cách mạng, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập, giành thống nhất đất nước. Cuối thế kỉ, sau giai đoạn nhùng nhằng chọn đường là công cuộc đổi mới. Dầu sao sự ổn định mới chỉ bắt đầu, vì thế kỉ quá nhiều biến động.
Như kiến trúc, cư dân phố cũ đảo lộn tận gốc rễ. Đảo lộn lớn nhất là ngừơi dồn về quá nhiều. Không thể nói đến các tập tính lâu đời của “dân gốc “ sau những biến động như cải tạo nhà cửa, sự xếp hạng lí lịch ... Nhiều định kiến, chính sách làm họ co lại. Có xu hướng yếm thế, nghi ngờ, thậm chí sợ hãi mọi thứ, họ hay chọn các ngành chuyên môn, kĩ thuật, nghệ thuật. Tránh xa những vị trí phải đương đầu, chịu sức ép, cũng là đồng nghĩa với sự không có quyền lực. Tinh tế, có óc hài hước, họ cũng dễ tổn thương; tóm lại là bản năng sinh tồn yếu ớt. Sinh ra, lớn lên trong sự ổn định, họ không được chuẩn bị cho sự tranh đấu còn dài dài trong cuộc đời rất dài. Hay thu mình lại, không có máu đồng hương hay làm thủ lĩnh, rốt cuộc là họ phải chịu lép trước những tập người Thanh Hóa khôn ngoan, Nghệ Tĩnh vừa mạnh mẽ vừa cục bộ. Có thể nói là trong cuộc tranh đấu toàn diện về vị trí công tác, không gian cư trú, thậm chí không gian văn hóa, ngôn ngữ, với bản tính “cô “, “cậu “, thua kém về óc tổ chức, tính kỉ luật, họ là kẻ thua - dù chả ai tuyên bố, và sẽ chả bao giờ có “ cuộc tuyên bố “ đó. Thế nên giờ đây gần như là không thể xác định được một tính cách Hà Nội. Để rồi, con cái những gia đình cũ và thế hệ thứ hai trong các “nhà mới đến “ lại hòa đồng nhau, kết hôn phổ biến. Những nét đặc thù đại thể không còn bao nhiêu, tuy chất tiểu thị dân khá rõ .
Do chỗ là cái “ chợ lớn “, Hà Nội không có những họ danh giá như Nguyễn Khoa trong Huế, hay là “họ Hồ Nghệ An, họ Phan Hà Tĩnh “, mà chỉ có những làng khoa bảng. Tuy thế , sinh hoạt họ tộc vẫn còn. Ngay thời kì xóa tàn tích phong kiến, họ Nguyễn vẫn có người đi nối phả, sinh họat họ, tôn cụ Nguyễn Bặc làm tổ.
Sau năm 1954, không ít người hữu sản chạy vào Nam, sau này có thể lại sang Pháp hoặc Mỹ, đem theo một tầng tri thức và văn hóa nhất định. Thành phố ở lại, hệ thống hạ tầng để phục vụ vài chục vạn người nay cáng đáng lượng người đông gấp bội, sinh trưởng lại mau. Những gia đình lâu đời hoặc bị cải tạo tư sản, trưng tập nhà cửa, hoặc phải phân chia chỗ ở cho đàn con cháu, tứ tán ra nhiều nơi cư trú. Thế vào là “thị dân mới “. Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Hàng Bồ ít người cũ, trong khi Hàng Bạc, Hàng Trống, Lãn Ông còn kha khá nhiều. Những ngôi nhà bị bán, chủ cũ đem đồ thờ lên đình, đền gửi Thánh. Gia phong thay đổi khi cách dạy con thưa gửi, “không dám “ với “ xin phép ra về ạ “ bị coi là phong kiến, tiểu tư sản. Giáo dục khuôn phép đã kém phù hợp, thay vào là “tác phong quần chúng “ kiểu xuề xòa. Quan trọng hơn là nhiều khi đặc tính “ chín bỏ làm mừơi “ bước sang ngự trị trong cả công việc, tư duy khoa học. Như “ giai tầng thứ ba “ sau cách mạng Pháp, người bình dân hừng hực bản năng sinh tồn vươn lên nắm giữ những cửa hiệu, vị thế quan trọng trong bộ máy mới. Thời kinh tế eo hẹp, lấy vợ lương thực, thương nghiệp thành mốt trong công chức. Sự lãng mạn, cả tinh nơi các “cô “, “cậu “, con các ông thông ông kí xưa mất dần. Quả là sự thanh lịch có ít đi: xếp hàng chen ngang, hàng xóm sửa nhà trổ cửa, để nước chảy sang nhau. Thời chống tàn dư phong kiến, mê tín dị đoan, các bà đi lễ khó vì đình đền bị xâm nhập, đồ thờ hóa bỏ hoặc không ai bảo vệ. Khi thần phật không còn, người ta ít biết sợ. Rất nhiều cuộc vận động xây dựng nếp sống mới được tổ chức trong khi quan niệm Nho giáo trong tổ chức gia đình, xã hội bị coi thường. Nhưng dầu sao thì một vài “tàn dư “ cũ vẫn tồn tại: những bà già Hàng Bạc sang trọng một cách kín đáo. Con cháu những ông lang ở Lãn Ông giàu nứt đố mà không chơi bời lối giàu xổi, khá dị ứng với loại nhạc thiên về tiết tấu.
Rồi "thời thị trường " ập về. Cuộc sống biến đổi vùn vụt. Truyền thống được đánh giá cao hơn, thi thoảng cả những " di sản phong kiến ", nhưng quay lại không thể như xưa, hoặc bị chắp vá. Do phân công tự nhiên, nhiều phố hàng xáo trộn. Thuốc Bắc chuyển sang bán đinh, Hàng Cân, Hàng Cá bán quần áo. Hàng Buồm chuyên rượu, bánh kẹo, vẫn còn lạp xường, thịt quay nhưng "rốn ông Tầu " đã hết. Người Ninh Hiệp bên Gia Lâm có nghề da sang chiếm cứ Hà Trung đã lâu, nay buôn thuốc bắc, mua lắm nhà Lãn Ông. Chợ Đồng Xuân gần như chỉ còn bán buôn. Hàng Bè thành " chợ xịn " với các bà còn chưa quen ra siêu thị, vì thịt cá rau quả vừa nhiều vừa ngon. Dù thuế cao và không ngừng tăng, nghề buôn vẫn phát đạt. Lạ, là chẳng nơi nào đất đắt như đây, mỗi mét vuông hàng chục lạng vàng, mà vẫn có người tậu nguyên số nhà. Lạ nữa là họ lại từ tỉnh ngoài về. Có lời giải thích: tỉnh ngoài, nhất là tỉnh xa, công chức - tất nhiên chỉ cỡ cao cấp -kiếm ăn qua các dự án dễ vô kể." Lấy thằng miền xuôi nuôi thằng miền ngược" mà.

#

Bây giờ thì kí ức về phố cũ ra sao? Thật khó mà kể ra. Đã tít mù tắp không gian sông hồ, mặt người chìm trong sương giăng. Khói bếp dóm than tổ ong cũng dạt nhiều ra ven ngoại. Có lẽ nên chuyển "ấn tượng" qua cái ti vi. Sáng sáng, vừa trỗi dậy, người ta với tay tìm ngay cục điều khiển. Sau một ngày làm lụng không thấy mặt nhau, tối đến, cả nhà quây quần quanh cái hộp có hình có tiếng, không ai nói chuyện với ai. Nghĩ ngợi, xúc cảm gì do TV quy định. Một nhịp sống, sự hưởng thụ có thể gọi là đơn giản. Hiện đại là như thế?...
Và phố cũ ngày một mới hơn, bất chấp những hội thảo về phố cổ và văn bản định danh "cổ". Khu phụ dùng chung trong các số nhà "đa hệ" đã "tư nhân hoá" gần hết; một quá trình béo bở cho cấp phường. Mọi sự thay đổi theo hướng tiện nghi, dễ khai thác hơn, tiêu biểu nhất có lẽ là phố Hàng Giầy. Cái nhà vệ sinh công cộng sừng sững bao nhiêu năm giờ phải nhường chỗ cho khách sạn Phan Thái và trung tâm Hướng dẫn du lịch. Tấp nập một đoạn phố con là những cà phê internet, chi chít biển hiệu Prince, Classic. Có cái hồn gì đấy trong khung cảnh không quá sang trọng, không quá nhem nhếch này, rất quyến rũ dân du lịch. Trên vỉa hè hẹp, cạnh dòng cống "róc rách", gái Bắc Âu tóc trắng ngồi tu Heineken chai. Những quán bar ốp gỗ, thắp đèn dây tóc tạo không gian "hơi bị cũ kĩ", vừa ngồ ngộ vừa gần gũi, để mà có thể chiêm nghiệm, khám phá "cái gì đấy". Sáng ra, những gánh rau quả, xe đạp chở hoa sặc sỡ đi qua hàng chí mà phù có con ngựa đá thật bắt mắt. Về giá ăn ở, dù đã là "giá tây", chắc chẳng có nơi nào trên thế giới rẻ bằng. Mà đã thế, du lịch bụi còn mò ra phở xào Ngõ Gạch tám nghìn, "giá ta". Một anh Bỉ nhờ học trước tiếng Việt được chủ khách sạn đầu Hàng Gà giảm giá phòng từ một trăm xuống còn tám chục nghìn một ngày. Ngoài ra là những giầy dép Hàng Dầu, sơ mi Hàng Đào, đĩa CD tầu ..., có lẽ "rẻ nhất thế giới ".
Với những hương vị không giống Sài Gòn hiện đại, rất khác Huế, Hội An - có không gian cổ riêng để bảo tồn, khu Hà Nội Ba sáu phố phường mang lại cho khách nước ngoài những ấn tượng riêng. Nhưng nó đâu có giống những Arbat của Maxkva, Ile de la Cité của Paris, mà là khu thương nghiệp phừng phừng sức sống. Sự bán buôn chẳng bao giờ già nua. Cái câu "nhất cận thị nhị cận giang" chả hề đúng với những bảo tàng, di tích, kiến trúc tôn giáo. Những cụ hưu, đám Việt Kiều hồi cố và du khách hiếu kì đâu có mang lại động lực sống cho khu phố. Không làm ăn, xông ra mặt phố, không khiến đồng tiền đẻ lãi thì lấy gì đóng thuế - nguồn thu chính cho Nhà nước. Dám chắc là trên một diện tích tương đương, chẳng khu vực nào ở Hà Nội đều đặn góp vào ngân sách thành phố một lượng tiền tương đương. Cho nên không thể bắt chước nước người biến phố cũ thành khu bảo tàng, gái già kể chuyện ngày xưa. Nói thô tục, "cô gái" ấy mà bị áp đặt vào những dự án kiểu phố đi bộ thể nào cũng "thủ dâm". Cái áo cũ bận ngoài cơ thể trẻ trung chỉ nên giữ lại những đường nét, chi tiết "cổ" thôi. Các vật liệu nhôm kính, dáng nhà quá cứng cáp, và loại "hộp diêm đứng" chênh vênh cần bị hạn chế. Rồi phải có những điểm độc đáo cho người ta thăm thú. Chẳng may là trụ sở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở 10 Hàng Đào - một biểu tượng của khát vọng canh tân - chưa phải địa chỉ được lựa chọn, trong khi phố ẩm thực Tống Duy Tân được chăm sóc đến nơi lại nhiều nỗi "rất đáng tiếc". Hồ Gươm - gạch nối giữa khu phố Tây và khu phố cũ, nếu không đập bỏ được những kiến trúc quá nghiêm khắc thì xin đừng cho xây thêm công trình đồ sộ nào bên cạnh nữa. Hà Nội Vàng, "Hàm cá mập" chẳng phải những bài học đủ ê chề rồi hay sao...
Nhưng không làm "đông cứng" phố cũ thì Hà Nội có cái gì để khoe là bản sắc (về văn hoá), là điểm du lịch (về kinh tế)? Khu vực ven ngoại và ngoại thành còn khối nét son đấy. Thành phố đã chọn những làng nghề như Bát Tràng gốm sứ, Vân Hà chạm gỗ, Ninh Hiệp buôn thập cẩm. Nếu Huế có nhà vườn thì sao Hà Nội không khai thác những làng cổ, văn vật. Phú Thượng, Mọc có bao nhiêu vị khoa bảng, còn những cổng làng gợi nhớ đến cánh cổng phố làm nên tên phố Hàng Ngang cách nay trăm năm, những cụm di tích đủ cả đình đền chùa, những dòng họ còn nhà thờ, phả hệ, giữ nguyên ngày giỗ tổ... Đi chơi chỗ đấy bây giờ có thể hình dung "ngôi làng lớn nhất nước" đã "hàng phố hoá" như thế nào...
Nhưng đấy lại là sự tìm hiểu, là du lịch văn hoá, thứ hiện nay ta chưa lí đến nhiều. Còn phố cũ thì nó sẽ "vầy vậy", vừa là di sản vừa là chỗ đồng tiền đẻ lãi từng phút từng giây.
TTC-K3 2002