Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/04, anh Trần Chí Thọ gửi tới các bạn một truyện ngắn có tên là " Chúng tôi ra biển". Trân trọng kính mời các bạn đọc. (bấm vào tên truyện ngắn để đọc).
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chí Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chí Thọ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015
CHÚNG TÔI RA BIỂN
Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/04, anh Trần Chí Thọ gửi tới các bạn một truyện ngắn có tên là " Chúng tôi ra biển". Trân trọng kính mời các bạn đọc. (bấm vào tên truyện ngắn để đọc).
Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014
Chiến dịch CQ.88
Kỷ niệm CQ.88
Chí Thọ - K3
Những ngày biển Đông nổi sóng, dư luận xôn xao…
Mấy anh em cựu chiến binh Hải quân (Đa số có tham gia chiến dịch CQ.88 năm xưa)
lại tìm gặp nhau. Nhiều kỷ niệm và tâm sự ngày ấy lại trỗi dậy quanh tấm hải đồ
cũ kỹ… Tâm trạng thì nóng mà vẻ mặt luôn lạnh – Có lẽ đó là nét chung của những
người từng một thời “ăn sóng, nuốt gió” với bao vất vả lo toan… Thế mà đã 26
năm!.
Tháng 3-1988, quân Trung Quốc bất ngờ tiến chiếm
các điểm Châu Viên, Chữ Thập, Gạc Ma, bắn chìm ba tàu vận tải của ta ở Trường
Sa, 64 chiến sĩ hy sinh… Cả nước rung động. Chiến dịch mang mật danh CQ.88 được
triển khai khẩn trương quyết liệt. Các đơn vị Hải quân rầm rập vào cuộc, với
tinh thần : Quyết không nao núng, tranh thủ thời gian, triệt để tận dụng thời
cơ, triển khai nhanh lực lượng!.
Trước đó ta chỉ mới chốt được vài điểm ở Trường
Sa, với cơ sở còn rất thô sơ. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau chiến dịch ta đã
rải quân hầu khắp các điểm trên thềm lục địa với công sự kiên cố, khả năng
phòng thủ vững vàng. Một khối lượng lớn công việc trên biển bằng cả mấy năm
cộng lại đã hoàn thành, sẵn sàng với mọi tình huống phức tạp nhất. Điều đó
khiến đối phương, dù còn đầy dã tâm, đã phải chùn bước… Với bối cảnh chung rất
khắc ngiệt lúc ấy (trong thì khủng hoảng kinh tế xã hội, ngoài bị cấm vận bao
vây, viện trợ không còn, khó khăn chồng chất…) CQ.88 đã thành công.
Ngày ấy tôi ở một trong những đơn vị Hải quân làm
nhiệm vụ “Bảo đảm cho Trường Sa và DK1”. Một phần quân số đơn vị còn đang ở
Cămpuchia giúp bạn. Số còn lại đều chuyển vào trạng thái sẵn sàng, với tinh
thần “Tất cả vì Trường Sa” không kể ngày đêm. Nhiều kỷ niệm, nhưng có một kỷ
niệm có tính chất “bên lề” khiến tôi nhớ mãi.
Một đêm mưa to, tôi vừa đi kiểm tra công việc
ngoài quân cảng về, chưa kịp thay áo, thì có điện thoại gọi. Tôi thầm nghĩ :
Chắc lại từ sở chỉ huy tiền phương CQ.88! (Hồi ấy điện gọi thường xuyên). Tôi
chuẩn bị tinh thần báo cáo thật rành rọt tình hình các tàu đang neo đậu tại
cảng (Nói cho hình tượng là : Phải nắm đến từng cơ số đạn, từng mét xích neo,
từng gói mỳ, lon nước… như bên tham mưu thường nhắc “quên là mất đầu liền!”)
thì nghe đầu giây bên kia vang lên tiếng cười nhẹ nhõm :
A lô!... Ba Huấn đây (Anh Nguyễn Văn Huấn, khi
ấy là phó chủ tịch thường trực Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, vốn quen
biết trước đấy).
Nhận ra tôi, giọng anh Ba trầm ấm :
Đang vất vả lắm phải không?... Mình hiểu. Rất
hiểu!... Mấy bữa nay nghe tin Trường Sa, tụi mình ở Ủy ban sốt ruột dữ lắm. Ai
cũng nói : Phải làm cái gì chứ!... Xa thì khó gặp. Thôi thì… cứ gặp các cậu
trước đã… Nè, nói thiệt nghe : Bí mật vừa thôi, cũng phải hô lên cho tụi tui
ghé vai vô với chứ. Trường Sa đâu phải chỉ là của mấy ông Hải quân?! “Vì cả
nước, cùng cả nước” kia mà!.
Nghe vậy, tôi rất xúc động. Mấy tháng nay cả đơn
vị làm quần quật. Việc gì cũng nặng nề, khẩn trương, mà lại thiếu thốn đủ thứ…
Nay có người thông cảm vậy, sao không xúc động. Giọng anh Ba vui tươi : Chiều mai mình đến thăm anh em, được chứ? Trước
là thăm, sau là xem có giúp thêm được gì không. Rồi ta cùng bàn.
Vâng, xin mời anh – Tôi đáp.
Là thế này – Anh Ba hạ giọng – Tụi mình có đem
theo chút quà tặng cho các tàu trực ở Trường Sa (mấy cái radio, sách báo, kẹo
bánh… thôi). Ngoài ra còn kéo theo vài nghệ sĩ xuống ca dăm bài “úy lạo” anh em
trước khi ra biển.
Đến cái đoạn”ca dăm bài” thì tôi hơi phân vân… vì
rằng : Các tàu đều đang tất bật. Vũ khí, trang bị ngổn ngang. Lại cũng có lệnh
của trên “nội bất xuất, ngoại bất nhập”… Nhưng trước sự nhiệt tình của anh Ba
(và cũng là của thành phố) tôi đành nhận lời (mà quên báo cáo lên trên “chuyện
nhỏ” này).
Chiều hôm sau, đoàn khách thành phố đến khá đông,
có các anh Ba Huấn, Ba Hòa, Tư Minh, Sáu Hiệp… cùng vài chục nghệ sĩ (đều khá
nổi tiếng trên tivi). Ban chỉ huy chúng tôi ra đón mà hơi lung túng, vì với
giới nghệ sĩ, thật tình là chúng tôi không quen ai và cũng không biết nên tiếp
họ thế nào cho phải nhẽ. Anh Ba Huấn rất cởi mở (nghe người ta còn khen anh là
có phong cách rất … sang! “Sang” từ cái bắt tay, chào hỏi, đến cả cách… uống
rượu?). Anh thân mật giới thiệu từng người, rồi nói như thanh minh ::
- Tui tính chỉ lựa theo ba “cây hát vàng” tới ca
vài bài rồi về ngay. “Đánh nhanh, rút gọn”, vì biết các anh đang rất bận. Nhưng
nghe nói đi phục vụ bộ đội Trường Sa, nên ai cũng đòi đi rần rần… Hổng biết lựa
ai nữa. Thành ra một đoàn “rồng rắn” vậy đó.
Sau khi giới thiệu vắn tắt tình hình biển - đảo,
tôi đưa cả đoàn ra cảng. Mọi người dừng lại trước tấm bích chương đỏ rực căng
ngay đầu quân cảng, ghi lời đại tướng Lê Đức Anh nói tại Trường Sa :
“… Xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, xin
thề trước anh linh các liệt sĩ đã hy sinh vì tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả
nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau : Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc
thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa của chúng ta!”
Vừa đọc, có vài người rút giấy bút ra ghi lại câu
này, rồi trầm trồ :
- Câu nói hay quá! Anh Ba ơi, ta ghi lại, đem
treo ngay trước Nhà hát lớn thành phố cho mọi người đọc chứ.
Đoàn khách đi thăm và tặng quà từng tàu. Đó là
những con tàu vừa trực chiến mấy tháng trời ngoài biển xa trở về, hoặc sắp lên
đường ra khơi. Trong đó có tàu vừa trải qua mấy ngày đêm gan góc đeo bám tàu
đối phương, tìm cách cản phá, xua đuổi chúng ra khỏi vùng biển của ta. Có tàu
trở về sau đợt lùng sục cứu vớt các chiến sĩ từ nhà dàn DK1 bị sóng quật đổ,
trôi dạt trên biển mấy ngay liền … Nghe chuyện, đoàn khách ai cũng xúc động.
Một nữ ca sĩ đứng lên bên khẩu pháo lớn và bồi hồi nói :
Bấy lâu em chỉ hát nơi đô hội. Nay em xin được
hát vài bài bên khẩu pháo này cùng các chiến sĩ hải quân của chúng ta.
Cô giơ tay mời. Lính hải quân sôi nổi ào lên nắm
tay nhau cùng hát vang. Một bục gỗ và các ghế nhựa được đưa ra bờ cảng nhanh
chóng tạo nên một sân khấu dã chiến. Các ca sĩ chuyên và không chuyên đua nhau
lên biểu diễn. Tiếng vỗ tay cười hát vang rền… Thế là thành một “đại nhạc hội”
ngay trên quân cảng cho đến tận khuya.
Tạm biệt nhau, các anh Ba Huấn, Ba Hòa, Tư Minh
nắm chặt tay chúng tôi :
Đến đây gặp anh em, thấy thương quá! Khi nào
cần cứ gọi nhé. Thành phố Hồ Chí Minh sẵn sàng làm tất cả cho biển Đông và
Trường sa!.
Còn mấy cô ca sĩ thì sôi nổi nói :
Khi nào có tàu ra Trường Sa, anh nhớ kêu tụi em
nghe! Ra đó em sẽ hát suốt ngày…
Tôi vui vẻ cám ơn từng người, mà lòng như lửa đốt
vì bao công việc còn ngổn ngang…
Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011
Tìm hiểu
Chuyện Thời Mở Cõi
Chí Thọ (K3)
Trên mạng K3 vừa rồi có mấy bài bàn về thời “mở cõi” của nước ta (nhân nhắc chuyện các nàng công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa…). Tôi xem hơi muộn, nhưng thấy đây là một đề tài hay, nên cũng xin “nói leo” theo vài lời (cũng là cho vui thôi).
Chuyện mở cõi, hay Nam tiến, của ta chủ yếu liên quan đến hai xứ Chiêm Thành và Chân Lạp. Nó kéo dài hơn một nghìn năm và khá khốc liệt.
Thời nước ta còn bị Bắc thuộc (gọi là Giao Chỉ, Giao Châu…) thì Chiêm Thành đã là một vương quốc mạnh (còn gọi là Tượng Lâm, Lâm Ấp, Hoàn Vương quốc…) Họ thường xuyên đánh phá Giao Châu và ít ra cũng đã hai lần chiếm được vùng Nhật Nam, Cửu Chân (Thanh – Nghệ bây giờ). Thậm chí vua Chiêm còn đòi Trung Quốc phải giao cả nước ta cho họ cai quản (thời Dương Mại), coi như một chốn không người…
Sau khi giành được độc lập (thế kỷ 10), các triều đình Đại Việt vì luôn phải đối phó với giặc phương Bắc, nên đã cố giữ hòa hiếu với Chiêm Thành đề tránh bị ép cả hai đầu. Nhưng mọi cố gắng ấy đều không thành. Giặc Chiêm vẫn luôn là một tai họa, nên cuối cùng thời nào ta cũng phải dùng đến binh đao. Trong hàng trăm trận giao tranh ác liệt Việt – Chiêm thời ấy, có vài cột mốc chính đánh dấu sự mở cõi của nước ta :
- Năm 1069, nhà Lý thu ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chánh (Quảng Bình và một phần Quảng Trị)
- Năm 1306, vua Chiêm dâng 2 châu Ô và Ri ( Quàng Trị - Thừa Thiên) để xin cưới Huyền Trân công chúa. Sau đó là hàng chục trận giao tranh đẫm máu.
- Năm 1402 , nhà Hồ chiếm Chiêm Động (Quảng Nam ), Cổ Lũy (Quảng Ngãi), vài năm sau lại mất.
- Năm 1470, Lê Thánh Tôn thân chinh dẫn 20 vạn quân tiến chiếm Chiêm Động, Cổ Lũy, đánh qua Đồ Bàn (Bình Định)… Lập đạo Quảng Nam . Ông đã chia nhỏ Chiêm Thành làm 3 nước rồi khắc lên Thạch Bi Sơn lời nguyền :
“Chiêm Thành quá thử binh bại tướng vong,
An Nam quá thử quân thua tướng chết”.
Tưởng thế là yên. Nhưng nạn binh đao vẫn không hề dứt. Nhà Nguyễn sau này, khi biết không thể quay lại đất Bắc, đành phải bước qua “lời nguyền”.
- Năm 1653, chúa Nguyễn cử tướng Hùng Lộc đem binh đánh đến sông Phan Lang, lập phủ Thái Ninh (Khánh Hòa).
- Năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh chiếm nốt Phan Rang và Phan Rí, lập ra Thuận Thành phủ (tức Bình Thuận).
Đến đây dứt hẳn Chiêm Thành.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)