Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Công. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Công. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Lê Công chia sẻ...


Thư từ Lê Công :

ThanhCong Trinh
07:36 (3 giờ trước)
tới tôi
Bài này đọc thấy hay, ông post cho mọi người coi chơi.

Lá đu đủ chống ung thư

Các nhà khoa học Nhật Bản và Mỹ vừa phát hiện thêm một tác dụng mới của cây đu đủ: chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng diệt tế bào ung thư.

              

Kết quả nghiên cứu mới này được đăng tải trên “Tạp chí dược lý dân tộc” của Nhật Bản. Theo phát hiện mới của nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học của Văn phòng thí nghiệm lâm sàng thuộc Trung tâm Ung thư, Đại học Florida, Mỹ và Đại học Tokyo, chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng kháng ung thư và hiệu quả này tương thích với tất cả các tế bào ung thư được gây dựng trong phòng thí nghiệm, gồm ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư gan, phổi, ung thư tuyến tụy...

Khi cho 10 loại tế bào ung thư khác nhau tiếp xúc với chất chiết xuất này, 24 giờ sau có thể thấy tốc độ phát triển của tế bào chậm hẳn lại, và nếu nồng độ chất chiết xuất càng cao, hiệu quả kháng tế bào ung thư, thậm chí giết chết nó càng rõ rệt. Cũng trong một thí nghiệm tương tự, các nhà khoa học còn phát hiện ra chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng thúc đẩy tế bào Th1 - tế bào đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch - sinh trưởng và phát triển.

Mặt khác, việc sử dụng chất chiết xuất từ lá đu đủ kháng ung thư còn có ưu điểm ở chỗ nó không mang độc tính và không gây ra tác dụng phụ. Nó có thể tiêu diệt tế bào ung thư, song không ảnh hưởng xấu đến các tế bào khỏe mạnh, vì vậy sẽ tránh được các trường hợp làm tổn thương đến cơ thể người bệnh như khi dùng các loại thuốc thông thường.

“Chúng ta từng biết đến đu đủ như một loại trái cây rất có ích trong việc phục hồi sức khỏe”, tiến sỹ Bharat Gawol thuộc Trung tâm Ung thư Anderson, Đại học Texas
 cho biết, “Đu đủ có rất nhiều thành phần có lợi, trong đó phải kể đến chất papain, một ezyme có rất nhiều trong quả và lá của chúng”. Hiện các nhà khoa học đang đẩy mạnh nghiên cứu để thử nghiệm trên động vật và người.
Gia Vinh

Giải pháp "Lá đu đủ & Sả" cho người bị ung thư gan giai đọan cuối

Cách đây hơn hai năm , anh em nhận được tin không vui về anh Phùng Văn Bộ là Việt kiều ở Canada đang gặp phải bệnh nan y : Ung thư gan giai đoạn cuối, sau xét nghiệm cuối cùng về y khoa ở bệnh viện ở Canada .  Anh đã nằm viện mấy tháng, khối u gan trên 4 cm đã được sử dụng kỹ thuật cao chặn đứng sự  di căn bằng cách cắt, cô lập cách mạch máu nuôi u và đưa thuốc vào nội tạng gan để cô lập . 
Anh Bộ sinh năm 1933, nay đã trên 80 tuổi, không đủ sức chịu đựng, nên mất sức nhanh ,  tóc rụng      và đứng đi không nổi  .Bệnh viện cũng cho anh hay  với tình trạng sức khoẻ của anh   khó vựợt qua nổi sáu tháng.Trước 2009, anh  Bộ bị ung thư tuyến tiền liệt giai đoan đầu , bệnh viện đề nghị giải phẩu,anh không chịu cho mổ, cố chịu cảnh “đái rắc” vì thấy mình cũng tuổi già, không  nên   đụng vào dao kéo làm gì.
Vừa ung thư gan và tiền liệt tuyến (cả hai đều là  ung thu nguyên phát), vừa được y khoa tiến triển của Tây Y “báo tử” là anh không đủ sức chịu nổi xạ trị và các ca dao kéo.
Vốn là thầy thuốc châm cứu, và hiểu rõ y lý Đông phương, hơn nữa cũng sẵn tâm thuận đạo sinh tử lẽ thừơng, anh trở về Vĩnh Long, thử chữa theo cách của mình. Dẫu sao, ru mình những ngày cuối đời ở quê nhà vẫn là hạnh phúc!
Tất cả anh em đều tin rằng việc anh Bộ về quê với ung thư gan giai đọan cuối, tóc rụng, chân run , đi một bước có người dìu đỡ… đưa được thân xác tàn tạ về quê hương  những  ngày cuối đời   đã là điều quý.
Vậy mà hôm qua, ngày 2/04/2013, Hay tin anh Bộ  từ Vĩnh Long  lên Sai gon để về Canada. Tôi và anh Diệp đến thăm anh và tôi không thể tin ở mắt mình: Một ông già 81 tuổi chắc nịch, mắt sáng, dáng đi cứng cáp bước lên xuống cầu thang gác đón tôi và anh Diệp như là một "trung niên hán tử" ! 

- Hai năm qua anh đă chữa trị ung thư bằng cách nào, mà mới ngày nào tôi gặp anh, xin lỗi tôi nghĩ anh không qua được sáu tháng ? Tôi hỏi.
-Bệnh viện Canada nó cho mình bản án báo tử. Mình về quê-hương "còn nước còn tát ". Mình chỉ có kiên trì 1 thứ thuốc đó là ”Nước trà lá đu đủ với sả" uống thay mọi thức uống. Chỉ có vậy. Mình muốn nói với các bạn, lấy kinh nghiệm bản thân của mình mà nói cho mọi người. Giúp được ai thì mừng nấy, các bạn à.
Anh Bộ, nhấn mạnh cách chữa trị  ung thư của anh như sau  :
- Ung thư gan, nội tạng, phổi… đều sử dụng trà lá đu đủ và sả chữa trị được. Nhưng cũng tùy tạng người, có người chữa dứt, có người được giai đọan đầu biến chuyển nhanh, nhưng sau đó chậm. Ung thư gan thì tôi thấy biến chuyển rõ rệt. Tôi dùng trà lá đủ đủ và sả trong hai năm, nay đi tái khám và xét nghiệm thì đã hòan tòan hết sạch bứơu trong gan cũng như sưng phù tuyến tiền liệt.Tôi đã chỉ vẽ nhiều người dưới quê , kết quả rất tốt , nhất là  các bệnh ung thư gan , phổi , bao tử, siêu vi B , siêu vi C...Nó là loại trà  giải độc , lọc máu số một , không bệnh uống ngừa bệnh cũng rất hay.
Cách chế biến như sau: lá đu đủ xắt tươi phơi khô, sả củ xắt mỏng phơi khô, cả hai thứ trộn lẫn, nấu như nấu nước chè, bỏ vào chai để nguội uống suốt ngày. Tỉ lệ sả trong  đu đủ ít thôi, khỏan 1 phần mười sả làm mùi nước thơm dễ uống và nó dẫn chất thuốc rất nhanh.
Thời gian đầu, khỏan hai tuần, khi mới uống thì phân và tiểu thải ra có mùi hôi thối  nồng nặc. Đó là chất độc đã được trục ra khỏi máu.
Nhìn cách anh Bộ trình bày, cách anh nói cười diễn đạt tôi không tin vào mắt mình rằng đây là nguòi trước đây  hơn   một năm , tôi bắt bàn tay lạnh giá của anh với ý nghĩ  là lần vĩnh biệt.
   Cách đây mấy ngày tôi vừa nhận đựơc tin bạn tôi Uyên Thao nhờ uống  trà    lá đu đủ mà thóat tay tế bào ung thư. Thế thì món thuốc đơn giản này không phải là khám phá mới ,nhưng theo anh  Bộ khó nhất và cần nhất là kiên trì, kiên trì uống ! Chỉ đơn giản có vậy !
Anh Bộ, 81 tuổi, nói cười ha hả, khoe với tôi và anh Diệp: “. Tôi nói các bạn chia vui, khỏan ung thư thì nay đã qua khỏi rồi, mà khỏan "sức sống " thì nay mình nay hơn tám mươi mà  lạ quá   mình cũng còn "rạo rực " lắm lắm,  mấy bạn à !"
     QUANG TUYẾN.



Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

100 năm Ngày sinh Giáo Sư Viện sỹ Trần Đại Nghĩa




VAI TRÒ CỦA CỤC TRƯỞNG CỤC QUÂN GIỚI TRẦN ĐẠI NGHĨA VỚI SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN GIỚI VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
                                                                    (1945-1954)
                                                                                                                                                                                    Lê Công


  Lịch sử sự ra đời và phát triển của ngành quân giới Việt Nam cũng như những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược(1945-1954) với đường lối kháng chiến “ Toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chinh” của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng , Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa ( 1913-1917).  Bằng những tài liệu hiện có, tham luận hy vọng góp thêm một vài kiến giải về vai trò cũng như những cống hiến trên lĩnh vực khoa học quân sự thuộc ngành quân giới của Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, người được mênh danh là “Ông vua vũ khí” trong lịch sử quân giới Việt Nam.


Giáo sư Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ sinh ngày 13-9-1913, quê nội ở Thủ Dầu Một- Binh Dương, nhưng được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Măng Thít thuộc làng Chánh Hiệp, quân Tam Bình( nay là ấp 6, xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long).

Từ tuổi ấu thơ và cho đến khi trưởng thành, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thân phụ- ông Phạm Quang Mùi ( 1882-1920) một nhà giáo nghèo đã từng đậu Thành Chung, làm nghề dạy học ở Vĩnh Long, am hiểu Nho học và có học vấn cao về văn hóa và văn minh Phương Tây, vì thế khi cha mất (1920) khi mới chỉ 7 tuổi và gia cảnh khó khăn, nhưng với sự nuôi dưỡng của thân mẫu- bà Lý Thị Diệu( 1881- 1941) và chị gái- Phạm Thị Nhẫn, ông vẫn kiên trì theo đuổi con đường học vấn.
Năm 1926 sau khi hoàn thành chương trình tiểu học với kết quả cao, ông được nhận học bổng hạng ưu tại Trung học Mỹ Tho để hoàn thiện chương trình trung học đệ nhất cấp vào năm 1930, rời Mỹ Tho lên Sài Gòn với học bổng của Trung học Pétrus Ký, năm 1933 ông đã hoàn thành chương trình trung học đệ nhị cấp với hai bằng tú tài bản xứ và tú tài Pháp ban Toán và ban Triết.Năm 1935 với giúp đỡ của nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938), ông đã nhận được học bổng của Hội Ái hữu trường Chasseloup Laubat để tới Paris (Pháp) du học, ở đây để có thể thi vào đại học, ông đã hoàn tất chương trình của một trường trung học đặc biệt trong thời gian 01 năm (giảm được một nửa thời gian theo quy chế). Sau đó với 11 năm (1935-1946) ông đã có bằng Đại học của các trường Đại học danh tiếng ở Paris như Đại học Cầu-Đường Paris, Đại học Mỏ, Đại học Bách Khoa, Đại học Điện, Học viện Thống kê, Viện Khí Động học, Học viện Kỹ thuật Hàng không và các chứng chỉ cơ bản của Đại học Tổng hợp Sorbone.
Vũ khí quân sự cũng một trong những lĩnh vực được ông đặc biệt quan tâm, rất nhiều tài liệu về vũ khí của người Đức đã được ông nghiên cứu trực tiếp bằng tiếng Đức, trong thời gian làm việc trong phòng thiết kế của một hãng chế tạo máy bay dân dụng và quân sự, ông đã tiếp cận với kỹ thuật vũ khí quân sự như súng, pháo, bom, mìn, một khối lượng lớn các tài liệu mật về chế tạo và sử dụng các loại vũ khí với khoảng trên 30 ngàn trang đã được ông bí mật thu thập và đưa về nước vào năm 1946.
Tháng 9-1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách của nước Pháp và tham dự Hội ngị Fontainebleau, ông đã cùng với Bác và một số trí thức yêu nước như bác sĩ Trần Hữu Tước, các kỹ sư Võ Trí Huân, Võ Đình Quỳnh trở về nước, trực tiếp tổ chức nghiên cứu, chế tạo vũ khí tại chiến khu Việt Bắc, xây dựng ngành quân giới Việt Nam, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp(1945-1954).(1)

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Tìm hiểu : Xứ Quảng


ĐÀ NẴNG  ĐẤT & NGƯỜI
 ( Phần 1 )
                                Lê Công 
    Một vài nét chấm phá về vùng đất mà anh em mình sẽ quần tụ  ở đây vào những ngày đầu tháng 8 này. Các bạn đọc chơi cho vui.

Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
    Không gian văn hóa xứ Quảng, trong đó có Đà Nẵng bao gồm cả Quảng Nam và Quảng Ngãi, trải dài theo trục Bắc- Nam với chiều dài khoảng 300km và chiều ngang rất hẹp nơi rộng nhất như Quảng Nam chỉ 100km.
    Dựa lưng vào dải Trường Sơn ở phía Tây, hướng tầm nhìn ra biển cả ở phía Đông, phía Bắc giáp vơi Băc Trung bộ được ngăn cách với tiểu vùng văn hóa  xứ Huế bằng đèo Hải Vân. Ở phía Nam ngăn cách với Bình Định bằng đèo Bình Đệ. Địa hình xứ Quảng mang một sắc thái riêng biệt so với nhiều vùng miền khác trong toàn quốc, đó là sự đan xen lẫn nhau giữa đồng bằng, rừng núi và sông biển trong một không gian địa lý chật hẹp.
    Đèo Hải Vân sừng sững như một ranh giới không chỉ về địa hinh mà còn là một cột mốc của sự chuyển giao giữa khí hậu nhiệt đới chí tuyến ở phía Bắc với khí hậu á xích đạo ở phía Nam, con đèo nổi tiếng này là giới hạn của sự phân chia chế độ khí hậu của hai khu vực : gió mùa đông bắc từ phương Bắc và gió mùa tây nam ở phương Nam .
    Sự đa dạng của cac yếu tố địa hình và khí hậu mặc nhiên quyết định sự đa dạng của hệ sinh thái. Rừng núi ở đây nằm trong hệ thống nam Trường Sơn với diện tích chiếm 2/3 lãnh thổ, bao trọn mặt phía Tây xứ Quảng, nhiều khu vực rừng núi nhô ra sát biển ôm lấy cả ba mặt đồng bằng.
    Từ hệ sinh thái núi đồi và trung du này, hình thành sự đa dạng trong hoạt động sinh tồn của con người xứ Quảng : trồng lúa nước ở đồng bằng, lúa nương ở nương rẫy, trồng rừng và khai thác tài nguyên rừng. Chủ nhân của các hoạt động sản xuất này không chỉ là các tộc người thiểu số mà còn là người Kinh. Đây là một điểm khác biệt so với nhiều vùng miền khác.
Đồng bằng miền Trung cũng như xứ Quảng càng xuôi về Nam càng hẹp, sự hạn hẹp của đất đai dẫn đến những hạn chế của sản xuất nông nghiệp, bù lại nguồn nguyên liệu tự nhiên phong phú tạo điều kiện cho sự phát triển đa dạng của các ngành nghề thủ công truyền thống như chế tác đá, sản xuất mía đường, dệt lụa, đóng ghe thuyền. Người xứ Quảng từ xa xưa đã biết đã tận dụng tối đa các nguồn lợi tự nhiên để làm phong phú hơn đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng.
    Cửa sông và bờ cát ven biển tạo thành một hệ sinh thái đặc thù của người xứ  Quảng, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt với mật độ cứ 20km trên tổng số 200km bờ biển lại có một cửa sông với các quy mô lớn nhỏ tùy theo địa hình. Hệ sinh thái nước lợ bao gồm các cửa sông, bãi bồi, bãi sú vẹt ngập mặn, không chỉ tạo ra nguồn tài nguyên thủy hải sản phong phú, mà còn tạo ra những vùng đất cát pha thích hợp để trồng các loại cây củ vốn là nguồn lương thực chủ yếu của các cư dân vùng núi và trung du.
    Từ điều kiện tự nhiên và những hoạt động kinh tế, những sinh hoạt văn hóa mang đặc trưng của người xứ Quảng đã từng bước định hình .

1.Văn hóa Sa Huỳnh và sự ra đời của Vương quốc cổ Chăm Pa
    Lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa cổ trải dài theo ven biển Trung Bộ Việt Nam là những dải đất hẹp dưới chân dẫy Trường Sơn. Các con đèo nổi như Hải Vân, đèo Ngang, đèo Cả nối cao nguyên với biển, chia cắt dải đất hẹp nằm giữa núi và biển thành ba khu vực địa lý : khu vực Amaravati cổ xưa bao gồm ranh giới các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam- Đà Nẵng ; khu vực Vijaya cổ xưa ( Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên); khu vực Panduranga cổ xưa ( Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) tương ứng với quần thể kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc mang dấu ấn văn hóa Ấn Độ như Mỹ Sơn, Đồng Dương( Quảng Nam) ; Bình Định; Nha Trang- Phan Rang( Khánh Hòa, Ninh Thuận)
    Cho đến nay giới nghiên cứu về khảo cổ học và văn hóa học bước đầu đã có sự thống nhất khi đưa ra nhận định cội nguồn của Văn hóa Chăm PaVăn hóa Sa Huỳnh ( Đức Phổ- Quảng Ngãi) có niên đại được xác định bằng phương pháp C14 cách ngày nay khoảng 4000 đến 3500 năm thuộc thuộc thời đại kim khí, những di chỉ khảo cổ thuộc loại hinh Văn hóa Sa Huỳnh trải dài trên một không gian khá rộng từ Hoành Sơn đến lưu vực sông Đồng Nai cho thấy một quá trình phát triển từ thấp đến cao mang tính thông nhât với những hiện vật văn hóa độc đáo. Chủ nhân của nền văn hóa này được xác định thuộc nhóm tộc tiền Malayo-Polynesia, trong quá trinh hình thành và phát triển có sự trao đổi và giao lưu chủ nhân của nền văn hóa hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí ở cao nguyên Lâm Đồng thuộc ngữ hệ Môn- Khmer hay tiền Nam Á. Bên cạnh đó trong sự giao lưu và tiếp biến văn hóa với các cư dân thời đại kim khí ở Đông Nam Á hải đảo và lục địa có thể xác định chủ nhân của Văn hóa Sa Huỳnh có ngôn ngữ Nam Đảo hay Malayo- Polynesia với nhiều yếu tố Nam Á. Cũng như nhiều cư dân khác ở Đông Nam Á cư dân của nền Văn hóa Sa Huỳnh cũng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ nhưng thông qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa  có thể nói văn hóa Ấn Độ ở đây đã được bản địa hóa để từng bước hinh thành nền văn minh Chăm Pa với bản sắc độc đáo. Trong khi đó một nhóm cư dân Sa Huỳnh đinh cư rừng núi và trung du hay các vùng bán sơn địa đã di chuyển lên cao nguyên hầu như không chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, bảo toàn ngôn ngữ Nam Đảo là cội nguồn của người ÊĐê, GiaRai hiện nay.                                                                                                              
2.Sự hình thành những tiểu quốc đầu tiên và sự ra đời nước Lâm Ấp( TKII)
    Vào giai đoạn cuối của Văn hóa Sa Huỳnh khoảng TK I-II đầu CN,  với trình độ phát triển cao về kinh tế-xã hội, cư dân ở đây đã dứng trước ngưỡng cửa của sự ra đời nhà nuớc. Những dấu ấn đầu tiên về những bộ lạc Cau  Dừa còn lưu lai trong bi ký , truyền thuyết dân gian cho biết : bộ lạc Cau  ( (Chữ Phạn trong bi ký Kramuka Vamsa) cư trú ở phía Nam đèo Cù Mông trên địa bàn của các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay và bộ lạc Dừa ( Chữ Phạn trong bi ký Narikela Vamsa) cư trú ở phía Bắc đèo Cù Mông thuộc địa bàn các tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay.
    Căn cứ trên những được ghi lại trên bia Võ Cạnh ( Vĩnh Trung- Nha Trang) (được các nhà nghiên cứu xác định có niên đại vào khoảng TK II) viết bằng chữ Phạn có nói về một triều vua có tôn hiệu Sri Maya chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ.Tiểu quốc Nam Chăm này có thể có tên Pan-rãn( tiếng Chăm cổ) hay Panduranga( chữ Phạn), tiểu quốc này có thể đã tồn tại độc lập và có vai trò đưa ảnh hưởng của Văn hóa Ấn Độ vào Bắc Chăm thông qua sự phổ biến chữ Phạn, tạo tiền đề cho sự sát nhập giữa Nam Chăm và Bắc Chăm sau này.
    Tuy  nhiên vài ba thế kỷ trước khi có bia Võ Cạnh , Bắc Chăm đang còn nằm dưới ách đô hộ của nhà Hán.Năm 111 TCN nhà Hàn  đánh bại Nam Việt của nhà Triệu và đặt sự cai tri trên chin quận, trong đó trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay có ba quận :Giao Chỉ ( Bắc Bộ); Cửu Chân ( Thanh- Nghệ- Tĩnh) và Nhật Nam( từ Hoành Sơn đến Quảng Nam) với năm huyện trong đó Tượng Lâm là huyện xa nhất về phía Nam, có địa bàn tương ứng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay, cũng là địa bàn trung tâm của Văn hóa Sa Huỳnh  nơi cư trú của bộ lạc Dừa.
    Trong suốt TK II các cuộc đấu tranh của dân chúng ở Nhật Nam và Tượng Lâm chống ách đô hộ của nhà Hán liên tục bùng nổ, đỉnh cao là vào năm 192- Sơ Bình thứ ba đời vua Hiến Đế nhà Hán , nhân lúc Trung Quốc có biến, Khu Liên đã lãnh đạo dân chúng Tượng Lâm nổi dậy và lên làm vua ( Khu Liên không phải là tên người ,có thể là sự chuyển âm từ ngôn ngữ cổ Đông Nam Á có ngĩa là Kurung có nghĩa là tộc trưởng, nhà nước đầu tiên của người Chăm đã ra đời với tên gọi Lâm Ấp, định danh nay chỉ thực sự xuất hiên trong Thủy Kinh chú- thư tịch cổ Trung Quốc vào năm 248, khi Lâm Ấp tấn công Giao Chỉ và Cửu Chân.
    Như vậy vào cuối TK II ngay tại trung tâm của Văn hóa Sa Huỳnh đã xuất hiện hình thái nhà nước đầu tiên của người Chăm, bằng các tài liệu khảo cổ có thể khẳng định người Lâm Ấp chính là những hậu duệ của chủ nhân Văn hóa Sa Huỳnh.

3. Các tên gọi của Vương quốc Chăm Pa
+ Lâm Ấp : Theo thư tịch cổ Trung Quốc từ khi ra đời (192) cho đến năm 757 Lâm Ấp là tên gọi của quốc gia cổ đại đầu tiên của người Chăm.
+ Chămpa : Tên gọi được ghi nhận từ bi ký của vua Sambhuvarman( 595-692),là tên một loài hoa- hoa Đại (tên khoa học Michelia Champaca Linnae)
Cũng là một địa danh ở đông bắc Ấn Độ, hạ lưu sông Hằng. Tên gọi Chăm Pa không có trong thư tịch cổ Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể đây là tên mà bộ lạc Dừa tự gọi sau khi đã lập nước.
+ Hoàn Vương : Tên gọi Lâm Ấp hầu như không còn tồn tại trong thư tịch Trung Quốc từ sau năm 749 khi sứ bộ của vua Rudravarman sang TQ.
Gần mười năm sau đó theo Tân Đường thư , Hoàn Vương được xác định vào thiêời Đường Đức Tông “sau niên hiệu Trí Đức ( 756-757)” vì vậy các nhà nghiên cứu cơ bản thống nhất tên gọi Hoàn Vương  có từ năm 758.
+ Chiêm Thành : Từ niên đại 854 của bia Vikarantavarman III ở Po Nagar, về sau  không còn tư liệu về Hoàn Vương cũng như Chăm Pa. Các bia ký mới chỉ xuất hiện vào năm 875 ở Indrapura ( khu vực Đồng Dương- Quảng Nam). Năm 877 Tân Đường thư- thư tịch TQ lại có những ghi chép về Chăm Pa với tên gọi mới Chiêm Thành, tên gọi này được phiên âm Hán-Việt từ Campapura ( Thành Chăm pa) đã có trong bia ký Mỹ Sơn năm 629.
    Những tên gọi khác nhau trong thư tịch cổ TQ và Việt Nam có thể sẽ phản ánh một nội dung quan trọng nào đó trong lịch sử vương quốc Chăm Pa, nhưng cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫ n chưa có những tài liệu mà họ cần phải có xung quanh vấn đề này. Nhưng trong thời kỳ này với những tài liệu như bia ký ở Mỹ Sơn thế kỷ VII cho biết về một tiểu quốc ở phía Bắc có tên là Campapura cùng với Vương triều Indrapura , như vậy lịch sử vương quốc Chăm Pa từ đây cho đến khi suy vong ( 1471), khởi đầu từ vương triều Indrapura cho thấy lịch sử Vương triều Chăm Pa thực chất được xây dựng từ liên kết của các tiểu quốc và vị trí và vai trò bá quyền sẽ thuộc về những tiểu quốc hùng mạnh. Lịch sử Chăm Pa thời kỳ Vương triều Indrapura là những câu chuyện về sự phát triển hùng mạnh, khẳng định quyền lực của một tiểu quốc ở phía Bắc.
                                              ( Hết phần I)