Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2010
Thứ Năm, 16 tháng 9, 2010
Bác sỹ Thuỷ thông báo về chương trình kiểm tra thính lực miễn phí.
BS Thuỷ chuyên khoa II Tai-Mũi -Họng,là em của Hữu Hoàng K3.
Chương trình kiểm tra thính lực và tư vấn miễn phí do BS Thuỷ phụ trách thực hiện tại TP Hồ Chí Minh với sự bảo trợ của Công ty Phonak thuộc Tập đoàn Sonova, Thụy Sỹ.
Nếu bạn hoặc người thân thấy có vấn đề về thính lực, xin mời bạn vô đây tìm hiểu thông tin chi tiết..
Chương trình kiểm tra thính lực và tư vấn miễn phí do BS Thuỷ phụ trách thực hiện tại TP Hồ Chí Minh với sự bảo trợ của Công ty Phonak thuộc Tập đoàn Sonova, Thụy Sỹ.
Nếu bạn hoặc người thân thấy có vấn đề về thính lực, xin mời bạn vô đây tìm hiểu thông tin chi tiết..
Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010
Hà Nội trong mắt tôi - Bài 1
Hà Nội có nhiều gương mặt, nhìn từ những góc độ khác nhau thì chả “cái” nào giống “cái” nào. Đành chọn một góc mà ngắm nghía nó theo chủ quan mình vậy…
Bài 1
Nẻo xưa đâu tá…
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ
Nhà thơ Vũ Đình Liên, khi làm mấy câu trên, chưa chắc nghĩ mình đã “đóng đinh” khép lại một giai đoạn văn hoá. Chữ Nho lụi, hồn xưa tản mát, mỗi xuân mới lại thấy “chợ ông đồ” họp một lần ở chân tường Văn Miếu. Khi mấy ông hoạ sĩ vẽ chữ thành tranh bảo đấy là thư pháp, có người reo lên truyền thống đang trở lại. Thực thế không?
Tôi có người bạn làm ở một cơ quan nghiên cứu quá khứ. Yêu nghiệp, kính trọng cái cổ xưa, cả chục năm sau khi ra trường, anh hầu điếu các giáo sư, chúi mũi vào đám thư tịch cổ. Quãng bốn chục thì lấy vợ, và thốt ra: “Thư viện quốc gia xếp tôi vào loại bạn đọc lỳ lợm nhất, nhưng giờ thấy nó chả đến đâu. Viện tôi ít việc, cán bộ nghiên cứu làm thợ nề, viết luận văn thuê, nghĩa là đời không cần mình...”. Những lời nghe thật cám cảnh! Có vẻ như một “mầm non trí thức” sẽ lụi tàn.
Rồi mới đây gặp lại, thấy anh trẻ trung, hiện đại hẳn. Làm không hết việc, bình thường dậy chữ Nho ở nhà, thỉnh thoảng đi xa dựng phả cho dòng họ, dịch văn bia, có khi tát ao để lôi tượng đá, bia đá ném xuống hồi chống mê tín dị đoan lên, còn mò được cả hoa cái cụ nghĩa quân Cần Vương đánh Tây bị nó chặt đầu thời cách nay trăm năm. Viện anh ngoài buổi họp chung vắng vẻ, ai cũng bận “giúp” các nơi viết sử địa phương. Những ông trước nay kiếm tiền kiểu “năng động” giờ mới tiếc mình không dùi mài vốn cổ, học chữ người xưa, nay chả ma nào mời. Mà tỉnh, huyện giờ người ta ưa làm địa chí, khoa học, phong phú hơn, chứ hệ thống lịch sử Đảng bộ từ cấp xã trở lên đã làm xong cả rồi, và cũng eo hẹp, không kham nổi nhu cầu dân trí cũng như quan trí. Anh hồ hởi khoe với tôi những bản rập văn bia, bản chụp sắc phong, phả hệ. Lớp Hán Nôm của anh đông sư sãi sắp nhập học viện, vài anh “số” ăn lộc Thánh, tức sẽ xung vào “nghiệp” cúng bái. Lại một đại tá chỉ cần qua Tam Tự Kinh để đọc được lịch sử họ mình, một ông thời cải cách ruộng đất quy tội địa chủ hăng quá, nay muốn vớt vát lại cái “cục” mình đã “quăng” vào quá khứ. Đọc tạp chí Xưa & Nay, họ ầm ầm thảo luận sao nhà Nguyễn được ghi nhiều công sức thế, những Phan Thanh Giản, Mạc Thiên Tích té ra là thế này thế nọ, mà sao đánh giá trong sách giáo khoa vẫn chả động gì nhỉ...
Thành phố, và phải suy rộng ra cho cả vùng xung quanh, trong “đà” hội nhập vào hiện đại hoá, công nghiệp hoá, có một dòng chảy theo hướng truyền thống. Âm thầm, phải len lách, có khi tự xác định tiêu chí, nó thật bền bỉ, chỉ ngun ngún như nén nhang cháy trong đêm. Những ông già tìm về quá khứ để giữ nếp nhà nếp làng, răn dậy con cháu. Những trí thức dăm ba ngoại ngữ chán nản vì đi đình chùa vãn cảnh không đọc được chữ cha ông. Thậm chí, những anh trẻ trai chỉ cần vũ trang vài chữ “phúc lộc thọ khang ninh” với “tâm”, “nhẫn” để kiếm tiền thập phương kì lễ hội. Cái dòng chảy ấy không ồ ạt reo vang, người “bơi” bên trong rất cô đơn, có khi còn tự giấu mình đi, mà nhanh nhách dai, mà gặp tri kỷ thì sướng phát rồ. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp dựng tượng Phật trong nhà. Hoạ sĩ Quách Đông Phương được tĩnh tâm trong “chùa” tại gia giữa phố. Hoạ sĩ Thành Chương gọi chốn bồng lai của mình là “phủ”. Dân văn nghệ, hướng về Chân – Thiện – Mỹ, làm vậy cũng dễ hiểu. Nhưng còn bao người thường, những cựu cán bộ phụ nữ xung vào đội tế nữ quan, lễ hội nào cũng có mặt, những quan chức mở miệng vô thần nhưng tìm cách vứt vàng vào yểm tâm ngôi tượng đang đúc..., họ có những căn gì, duyên gì? “Thế giới quan” của họ là duy vật hay “lấp lánh tâm linh”?
Nhu cầu về cội, tìm lại di sản trong quá khứ có những nguyên do thật phong phú. Trước tiên, chả phải Nho giáo là con số không tròn trĩnh, nếu không thì cả nghìn năm nay, cứ kể từ ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh đi, các cụ đã không tôn đây là Đạo Thánh Hiền. Lời người xưa chí lý, đọc như được “sang ngang” cái tâm hồn, những quan niệm nhân văn, đạo đức nuốt đi, cuốn mình đi. Đã có một thời Nho giáo bị đồng nhất với khái niệm phong kiến để phải bài trừ, chôn chặt. Nhưng các triều phong kiến có tinh thần dân tộc đã dùng nó như một công cụ để tề gia trị quốc yên dân đấy chứ. Các bậc Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông không có chữ, có Đạo, làm sao vĩ đại được vậy! Thời nào cũng phải có lý tưởng. Lý tưởng, đơn giản đi, như một thứ thần tượng, để thiên hạ hoà vào một mối mà noi theo. Cụ thái thú Sĩ Nhiếp từ phương Bắc sang cai trị, thương dân Giao Châu dạy cho chữ Thánh Hiền, nên được tôn là “Nam Giao Học Tổ”. Nho Giáo dần chiếm chỗ của Phật Giáo là vì bên cạnh phần cao cả của tâm hồn, khái niệm “quân tử”, còn có sức mạnh thế tục rất lớn, rất thực tế.
Rồi Nho tàn, gắn với thay đổi về chính trị. Quốc ngữ mà Alexandre de Rhode mang lại đẩy văn hoá ta đến gần với thế giới hiện đại, nền khoa học, công nghiệp tiên tiến, nhưng lại gián tiếp là nhát kiếm chí mạng chém vào sự liên hệ với quá khứ. Trường thi kiểu cũ bỏ hẳn, chữ Nho không còn tác dụng, bị quên dần, gần như quên hẳn. Nhưng rồi cũng đến cái lúc những thần tượng xã hội hằng noi theo mỗi ngày mỗi héo đi, rơi rụng, thì vì chưa có cái mới “lắp” vào, hoặc đã có nhưng nó không thuyết phục, người ta lại có nhu cầu tìm về cái cũ. Người đô thị, nhất là trí thức, vãn cảnh đình chùa, đứng trước tấm bia ghi sự tích cái nơi mình đang ở mà tựa trước bức vách, hẳn phải tức tối chứ. Càng tức tối khi đấy là “nguyên khí” mà các cụ mình hằng tựa vào cả nghìn năm. Và voi đá ngựa đá bát bửu cửa võng sẽ có hồn vía hơn khi người ta am hiểu cái không gian xung quanh, dính dáng đến nhân vật được thờ cúng. Có chuyện thật như đùa ở lễ hội nọ: tín chủ đọc danh sách toàn gia cho thầy viết sớ, xong bảo đọc lại xem có chính xác không, thì thầy… chịu, nghĩa là trứơc đó toàn múa bút lăng nhăng.
Dù sao, sự trở về cần thiết trên cũng chỉ để ghi lại những dấu ấn trong quá khứ, để cho khỏi đứt mạch mà thôi. Biết thì khỏi quên, biết để còn mang ơn, tránh cho hiện tại khỏi những chuyện chẳng may, sống khỏi bạc ác, chứ bước vào một xã hội đô thị thì không thể phục cổ hoàn toàn. Lớp Hán Nôm thời nay uyên bác đến mấy không thể tư duy bằng Hán văn nữa. Và một người nghĩ ngợi nói năng giống hệt các cụ cách giờ trăm năm ắt bị đám Tây học Nga học Mỹ học nhạo cợt. Nghĩa là sự trở về ấy đến đâu, như thế nào cần rất được chọn lọc. Chẳng hạn tinh thần “tham nhũng là sỉ nhục” của Nho giáo rất cần thiết, nhưng hạn chế sự độc lập của con người ta lại đã là hạn chế, trói buộc rồi...
Trần Chiến
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG (4 tiếp theo)
Mấy hôm đưa nhiều chữ lên Blog quá nên mọi người chắc mệt mỏi. Gần tuần nay không thấy ai đưa bài nào, tranh thủ gửi tiếp bài hành trình về phương Đông. Ai có thời gian xin tiếp tục chịu tra tấn.
CÕI VÔ HÌNH (4 tiếp theo)
ôngGiáo sư Allen ngập ngừng:
“Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên Thiên đàng hay xuống Địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao?”
Hamoud lắc đầu:
“Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng, khi chết linh hồn sẽ thay đổi toàn diện: sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên hoàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi Thiên đàng, hoặc linh hồn mất hết tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào Địa ngục. Điều này vô lý, vì sự tiến hóa phải từ từ chứ không thể đột ngột được. Trên thế gian này không có ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử tốt, xấu do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại. Tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như một người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại.
Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ tham ăn thì khi chết họ vẫn ăn tham, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thỏa mãn, vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được. Lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả nổi”.
“Như ông nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thỏa mãn không?”.
“Khi người sống ăn ngon, có các tư tưởng khoái lạc, thì các loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, tuy nhiên chúng không sao thỏa mãn được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ta thấy thèm và ứa nước bọt (tiết tâm linh), nhưng điều này đâu có thỏa mãn nhu cầu bao tử. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ xẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo không khí thô bạo ở đó. Nhưng người giết súc vật trong nhà đã vô tình mời gọi các vong linh này đến. Sự có mặt của chúng có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là đối với những người dễ thụ cảm.”
“Đa số mọi người đều cho rằng, ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa. Điều này giải thích thế nào?”.
“Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình thể Phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể Xác bị hư thối, thì thể Phách, là thể trung gian giữa thể Xác và thể Vía cũng tan rã theo. Thể Phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần, nhưng có nhiều nguyên tử Dĩ thái nên nhẹ hơn. Nó thu nhận các sinh lục còn rơi rớt lại trong thể Xác để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang ta rã nên thể Phách không tồn tại nguyên vẹn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân bay là là trên các nấm mồ. Người không hiểu gọi đó là ma.
Theo sự hiểu biết của tôi thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất. Vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường là trong giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.
“Ma quỷ thường thuộc những thành phần gì trong xã hội?”
“Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già, vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn đang sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng: Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau”.
“Số phận của những quân nhân tử trận thì ra sao?”
“Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một nấc thang lớn trong cuộc tiến hóa. Họ đã quên mình để sống và chết cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị Thánh tử vì đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.”
“Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống?”
“Thật ra phải nói như thế này, khi chết các giác quan, thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể Vía. Không những thế, họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ là đàng khác, mặc dù họ không còn nghe thấy, nhìn thấy như chúng ta. Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.”
“Như vậy thì họ ở gần hay ở xa chúng ta?”
“Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân. Nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ”.
“Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không?”
“Điều này không có gì khó, hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra, nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.
Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài thì nay quay vào trong. Linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng, không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như một cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “Hồi quang phản chiếu” (Memory Projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên kết giữa thể Xác và thể Phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể Phách, và thể Vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách sắp xếp lại từng lớp nguyên tử. Lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến”
“Ông du hành sang cõi âm thế nào?”
“Nói như thế không đúng lắm, vì cõi âm chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thực ra ở cùng một nơi, chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian (time, space dimension). Sang cõi âm là sự di chuyển tâm thức, sử dụng giác quan về thể Vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm. Quan niệm về không gian cũng khác, vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền. Muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp ngay người đó. Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt troi, bay bổng, vì kh còn đi bằng hai chân như thể Xác.”
“Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao?”
“Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê ghớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang, nhưng sau sẽ quen đi.Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động. Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có. Ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm. Ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về để sống với kỷ niệm xưa, nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chẳng ai để ý đến ong. Họ tin rằng ông đã lên Thiên đàng, vì họ đã bỏ ra nhiều tiền để tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn. Một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên Thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát, nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu, cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết. Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gây dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì. Họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm làm tiêu phá cơ nghiệp. Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra. Họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về dọa nạt những kẻ bén bảng đến gần nơi chôn dấu. Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa. Họ không muốn người mình yêu mến chia sẻ tình yêu với người khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu với người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở. Những nhà lãnh đạo, vua chúa, những người ham muốn uy quyền thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nưa, họ hết sức đau khổ.
Đôi khi tư tưởng oán hờn có thể tạo nên những hình tư tưởng có sự sống riêng biệt và có tác dụng mạnh mẽ ở cõi vô hình. Cách đây vài năm, một người bạn ở Calcutta cho tôi biết, có một con dao cán ngà rất đẹp mà hễ ai cầm lên cũng có ý định giết người. Tôi bèn tìm đến và cầm thử thì quả nhiên trong người bị kích động lạ thường. Nhờ đã mở giác quan thể Vía nên tôi thấy một vong linh hung tợn đang giận dữ vì tôi chống lại. Nhờ các bạn bè cõi âm, tôi tiếp xúc được với tư tưởng vong linh đó. Vợ y đã ngoại tình với người bạn thân nên y sử dụng con dao này để giết cả hai. Sau đó y còn đâm chết hai người em vợ và bị một người khác dùng chính con dao đó để đâm chết y. Sau khi chết, lòng oán hận khôn nguôi nên y quanh quẩn bên con dao này và ảnh hưởng đến bất cứ ai sử dụng nó. Nhiều người đã bị y xúi dục giết người. Y rất thành công cho đến khi gặp tôi. Phải mất một thời gian lâu tôi mới thuyết phục được y, tôi bèn bẻ gãy con dao đó và đem chôn.
Một trường hợp khác, tôi gặp một vong linh say rượu bị xe đụng chết. Y rất oán hận nên cứ vẩn vơ nơi ngã tư đường và hướng dẫn những người lái xe cho họ gặp tai nạn. Rất nhiều người bị chết ở đó. Tôi cũng mất nhiều thời gian khuyên giải y mới bỏ đi nơi khác. Dĩ nhiên, sớm muộn gì các vong linh cũng tỉnh ngộ, nhưng việc làm của y là những nguyên nhân xấu sẽ tạo ra những nghiệp quả mà y sẽ phải trả, vì ở bất cứ cõi nào, luật thiên nhiên cũng không thay đổi.
Trường hợp khác, có hai người bạn rất thân cùng yêu một cô gái. Để chiếm đoạt cô gái, một người đã gài bẫy khiến bạn mình bị tình nghi có dính dáng vào một tổ chức chính trị. Anh bạn bị bắt và bị thủ tiêu. Anh ta chinh phục cô gái nhưng không thành công, ít lâu sau cô này lấy người khác. Anh ta đau khổ bèn tự tử. Thế là cả hai người bạn đều sang cõi âm, nhưng người bị thủ tiêu không biết mình là nạn nhân của bạn nên mến bạn và đi tìm gặp. Trái lại, anh kia lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt, thường lẩn tránh, ẩn náu. Sự tìm gặp này kéo dài rất lâu khiến người bạn tội lỗi lúc nào cũng đau khổ, hối hận.”
Hamoud lắc đầu: “Các ông nên biết, ở cõi trần có thể trốn tránh được, chứ ở cõi âm thì trốn đi đâu? Đây là cõi tư tưởng, chỉ cần nghĩ đến nhau là đã gặp nhau rồi…”
Mọi người im lặng, cảm thấy thấm thía điều vị pháp sư Ai Cập diễn tả. Giáo sư Mortimer lên tiếng:
(Còn tiếp)
CÕI VÔ HÌNH (4 tiếp theo)
ôngGiáo sư Allen ngập ngừng:
“Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên Thiên đàng hay xuống Địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao?”
Hamoud lắc đầu:
“Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng, khi chết linh hồn sẽ thay đổi toàn diện: sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên hoàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi Thiên đàng, hoặc linh hồn mất hết tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào Địa ngục. Điều này vô lý, vì sự tiến hóa phải từ từ chứ không thể đột ngột được. Trên thế gian này không có ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử tốt, xấu do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại. Tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như một người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại.
Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ tham ăn thì khi chết họ vẫn ăn tham, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thỏa mãn, vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được. Lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả nổi”.
“Như ông nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thỏa mãn không?”.
“Khi người sống ăn ngon, có các tư tưởng khoái lạc, thì các loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, tuy nhiên chúng không sao thỏa mãn được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ta thấy thèm và ứa nước bọt (tiết tâm linh), nhưng điều này đâu có thỏa mãn nhu cầu bao tử. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ xẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo không khí thô bạo ở đó. Nhưng người giết súc vật trong nhà đã vô tình mời gọi các vong linh này đến. Sự có mặt của chúng có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là đối với những người dễ thụ cảm.”
“Đa số mọi người đều cho rằng, ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa. Điều này giải thích thế nào?”.
“Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình thể Phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể Xác bị hư thối, thì thể Phách, là thể trung gian giữa thể Xác và thể Vía cũng tan rã theo. Thể Phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần, nhưng có nhiều nguyên tử Dĩ thái nên nhẹ hơn. Nó thu nhận các sinh lục còn rơi rớt lại trong thể Xác để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang ta rã nên thể Phách không tồn tại nguyên vẹn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân bay là là trên các nấm mồ. Người không hiểu gọi đó là ma.
Theo sự hiểu biết của tôi thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất. Vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường là trong giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.
“Ma quỷ thường thuộc những thành phần gì trong xã hội?”
“Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già, vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn đang sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng: Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau”.
“Số phận của những quân nhân tử trận thì ra sao?”
“Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một nấc thang lớn trong cuộc tiến hóa. Họ đã quên mình để sống và chết cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị Thánh tử vì đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.”
“Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống?”
“Thật ra phải nói như thế này, khi chết các giác quan, thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể Vía. Không những thế, họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ là đàng khác, mặc dù họ không còn nghe thấy, nhìn thấy như chúng ta. Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.”
“Như vậy thì họ ở gần hay ở xa chúng ta?”
“Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân. Nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ”.
“Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không?”
“Điều này không có gì khó, hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra, nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.
Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài thì nay quay vào trong. Linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng, không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như một cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “Hồi quang phản chiếu” (Memory Projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên kết giữa thể Xác và thể Phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể Phách, và thể Vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách sắp xếp lại từng lớp nguyên tử. Lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến”
“Ông du hành sang cõi âm thế nào?”
“Nói như thế không đúng lắm, vì cõi âm chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thực ra ở cùng một nơi, chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian (time, space dimension). Sang cõi âm là sự di chuyển tâm thức, sử dụng giác quan về thể Vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm. Quan niệm về không gian cũng khác, vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền. Muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp ngay người đó. Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt troi, bay bổng, vì kh còn đi bằng hai chân như thể Xác.”
“Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao?”
“Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê ghớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang, nhưng sau sẽ quen đi.Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động. Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có. Ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm. Ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về để sống với kỷ niệm xưa, nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chẳng ai để ý đến ong. Họ tin rằng ông đã lên Thiên đàng, vì họ đã bỏ ra nhiều tiền để tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn. Một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên Thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát, nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu, cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết. Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gây dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì. Họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm làm tiêu phá cơ nghiệp. Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra. Họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về dọa nạt những kẻ bén bảng đến gần nơi chôn dấu. Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa. Họ không muốn người mình yêu mến chia sẻ tình yêu với người khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu với người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở. Những nhà lãnh đạo, vua chúa, những người ham muốn uy quyền thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nưa, họ hết sức đau khổ.
Đôi khi tư tưởng oán hờn có thể tạo nên những hình tư tưởng có sự sống riêng biệt và có tác dụng mạnh mẽ ở cõi vô hình. Cách đây vài năm, một người bạn ở Calcutta cho tôi biết, có một con dao cán ngà rất đẹp mà hễ ai cầm lên cũng có ý định giết người. Tôi bèn tìm đến và cầm thử thì quả nhiên trong người bị kích động lạ thường. Nhờ đã mở giác quan thể Vía nên tôi thấy một vong linh hung tợn đang giận dữ vì tôi chống lại. Nhờ các bạn bè cõi âm, tôi tiếp xúc được với tư tưởng vong linh đó. Vợ y đã ngoại tình với người bạn thân nên y sử dụng con dao này để giết cả hai. Sau đó y còn đâm chết hai người em vợ và bị một người khác dùng chính con dao đó để đâm chết y. Sau khi chết, lòng oán hận khôn nguôi nên y quanh quẩn bên con dao này và ảnh hưởng đến bất cứ ai sử dụng nó. Nhiều người đã bị y xúi dục giết người. Y rất thành công cho đến khi gặp tôi. Phải mất một thời gian lâu tôi mới thuyết phục được y, tôi bèn bẻ gãy con dao đó và đem chôn.
Một trường hợp khác, tôi gặp một vong linh say rượu bị xe đụng chết. Y rất oán hận nên cứ vẩn vơ nơi ngã tư đường và hướng dẫn những người lái xe cho họ gặp tai nạn. Rất nhiều người bị chết ở đó. Tôi cũng mất nhiều thời gian khuyên giải y mới bỏ đi nơi khác. Dĩ nhiên, sớm muộn gì các vong linh cũng tỉnh ngộ, nhưng việc làm của y là những nguyên nhân xấu sẽ tạo ra những nghiệp quả mà y sẽ phải trả, vì ở bất cứ cõi nào, luật thiên nhiên cũng không thay đổi.
Trường hợp khác, có hai người bạn rất thân cùng yêu một cô gái. Để chiếm đoạt cô gái, một người đã gài bẫy khiến bạn mình bị tình nghi có dính dáng vào một tổ chức chính trị. Anh bạn bị bắt và bị thủ tiêu. Anh ta chinh phục cô gái nhưng không thành công, ít lâu sau cô này lấy người khác. Anh ta đau khổ bèn tự tử. Thế là cả hai người bạn đều sang cõi âm, nhưng người bị thủ tiêu không biết mình là nạn nhân của bạn nên mến bạn và đi tìm gặp. Trái lại, anh kia lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt, thường lẩn tránh, ẩn náu. Sự tìm gặp này kéo dài rất lâu khiến người bạn tội lỗi lúc nào cũng đau khổ, hối hận.”
Hamoud lắc đầu: “Các ông nên biết, ở cõi trần có thể trốn tránh được, chứ ở cõi âm thì trốn đi đâu? Đây là cõi tư tưởng, chỉ cần nghĩ đến nhau là đã gặp nhau rồi…”
Mọi người im lặng, cảm thấy thấm thía điều vị pháp sư Ai Cập diễn tả. Giáo sư Mortimer lên tiếng:
(Còn tiếp)
THÔNG BÁO
Ban liên lạc trường VHQĐ-TCCT NGUYỄN VĂN TRỖI
Kính mời các thầy cô, các bạn cựu học sinh, thân nhân của cựu học sinh, các bạn cựu học sinh các trường nội trú cùng thời (Trường Bé, Trường HSMN...), các bạn yêu mến Trường Trỗi đến dự lễ kỷ niệm 45 năm ngày thành lập trường tổ chức tại phía Nam.
Địa điểm: Nhà hát Quân đội, 140 Đường Cộng Hòa, quận Tân Bình.
Thời gian: 09g00 ngày 03 tháng 10 năm 2010.
Rất mong sự có mặt của các thầy cô và các bạn.
Ban liên lạc.
người đăng thông báo KT.
Kính mời các thầy cô, các bạn cựu học sinh, thân nhân của cựu học sinh, các bạn cựu học sinh các trường nội trú cùng thời (Trường Bé, Trường HSMN...), các bạn yêu mến Trường Trỗi đến dự lễ kỷ niệm 45 năm ngày thành lập trường tổ chức tại phía Nam.
Địa điểm: Nhà hát Quân đội, 140 Đường Cộng Hòa, quận Tân Bình.
Thời gian: 09g00 ngày 03 tháng 10 năm 2010.
Rất mong sự có mặt của các thầy cô và các bạn.
Ban liên lạc.
người đăng thông báo KT.
Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010
THÔNG BÁO
Ban Liên lạc trường tại tp.HCM thân mời toàn thể các BLL các khóa tại tp.HCM tới họp
Nội dung : chuẩn bị Hội trường tại tp.HCM kỷ niệm 45 năm ngày thành lập
Thời gian : 17g30 ngày 9/9/2010 (thứ 5)
Địa điểm : nhà hàng Kỳ Đồng - 209, Nguyễn Văn Thủ, Q1
Rất mong BLL các khóa và AE có quan tâm cùng đến dự.
Thân mời,
TM.BLL tp.HCM
JM
Nội dung : chuẩn bị Hội trường tại tp.HCM kỷ niệm 45 năm ngày thành lập
Thời gian : 17g30 ngày 9/9/2010 (thứ 5)
Địa điểm : nhà hàng Kỳ Đồng - 209, Nguyễn Văn Thủ, Q1
Rất mong BLL các khóa và AE có quan tâm cùng đến dự.
Thân mời,
TM.BLL tp.HCM
JM
Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010
Đằng sau bài nói chuyện của ông Lưu Á Châu
Blog 'Uttroi' ngày 17/08/2010 đăng bài
"Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức (TuanVietnam.net) ", trong đó dẫn đến bài đăng cùng tên trên Tuanvietnam.net.
Đây là bài nói của Trung tướng Quân đội TQ Lưu Á Châu,gây được sự chú ý với người đọc bởi những quan điểm 'cấp tiến' trong cách nhìn nước Mỹ và những đánh giá có tính 'phản tỉnh' về những 'yếu điểm' của TQ.
Nhưng theo Boxitvn.wordpress.com :
Bài đăng ở Tuanvietnam.net không đầy đủ, vì dịch giả lấy từ văn bản đăng trên http://www.xici.net chỉ ngắn bằng 1/3 bài trên Trung Quốc báo đạo chu san, 28/05/2005 mà ô.Dương Danh Dy đã dịch trọn vẹn. Trong văn bản đầy đủ bài nói chuyện của Lưu Á Châu có trình bầy quan điểm về chiến tranh biên giới Việt-Trung, về vụ Thiên An Môn,..
Nếu bạn quan tâm tới vấn đề này,xin mời tham khảo tại đây.
4SG
Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010
Chào mừng Quốc khánh 65 năm
Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945.
Toàn văn bản tuyên ngôn độc lập
"Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."
Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010
Gặp mặt 29/08/2010 tại TP Hồ Chí Minh
Trưởng Ban BLL Bùi Vinh vào Nam công tác, bố trí được một ngày nghỉ lại thấy sắp đến 2/9, thế là anh alu mọi người ới nhau tới nhậu nguyên buổi ở quán Cây sứ,số 3 Phạm Văn Hai,p.12,Q.Tân Bình. Thật vui đáo để.
Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010
30/08/1945-Ngày chấm dứt chế độ Quân chủ ở Việt Nam
Ngày 23-8-1945, nhân dân Thừa Thiên khởi nghĩa giành chính quyền tại Huế. Cùng ngày, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ gửi điện báo tin Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thành lập và yêu cầu Bảo Đại thoái vị. 2 giờ 30 ngày 24-8-1945, Bảo Đại điện cho chính phủ lâm thời xin thoái vị.
Chiều 25-8, Chính phủ lâm thời điện cho Bảo Đại yêu cầu phải “ban dụ chính thức thoái vị và sẽ cử đại biểu của Chính phủ vào nhận lễ thoái vị”. Ngày 27-8, phái đoàn gồm : Phó Chủ tịch Uỷ ban dân tộc giải phóng, Bộ trưởng Bộ tuyên truyền Trần Huy Liệu (trưởng đòan), Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận rời Hà Nội. Chiều 29-8, Bảo Đại tiếp đoàn tại điện Kiến Trung và chấp nhận những điều kiện và nghi thức lễ thoái vị.
Chiều 30-8-1945, lễ thoái vị được chính thức cử hành trước Ngọ Môn,Huế, trước sự chứng kiến của hơn 50 nghìn người dân Cố đô.
Đúng 19 giờ 30,Vua Bảo Đại mặc triều phục Hòang đế đọc chiếu tự nguyện thoái vị trước máy truyền thanh và xin làm công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Trần Huy Liệu thay mặt Chính phủ lâm thời chấp nhận việc thoái vị của Bảo Đại và nhận ấn kiếm vàng tượng trưng cho sự chấm dứt quyền lực của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam . Lá cờ “quẻ Ly” bị hạ xuống và lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên cột cờ đại nội trước sự chứng kiến của đông đảo nhân dân thừa Thiên Huế.
![]() |
Trần Huy Liệu
(1901 - 1969)
|
Đúng 12 giờ 25 phút trưa ngày 23 tháng 8 năm 1945, Nội các họp dưới quyền chủ toạ của nhà Vua và gồm có: Trần Trọng Kim, Trần Văn Chương, Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền và Nguyễn Hữu Thí. Về vấn đề trả lời tối hậu thư của Việt Minh, cuộc họp đồng ý chấp nhận các điều kiện của Việt Minh. Về vấn đề góp ý kiến vào dự thảo Chiếu thoái vị, chỉ có một ý kiến của Trần Đình Nam là nên bỏ bớt bốn chữ "nồi da xáo thịt", nói "Nam Bắc phân tranh" là đủ rồi.
Khoảng 11 giờ đêm ngày 26 - 8 - 1945, ông Tôn Quang Phiệt đến nhà ông Phạm Khắc Hoè, hỏi xem Chiếu thoái vị. Đọc xong, ông Tôn Quang Phiệt nói: "Hay thật đấy ! Nhưng đoạn nói về công lao liệt thánh đậm nét quá ! Chủ yếu là công lao của nhân dân lao động chứ đâu có phải là của các Chúa Nguyễn" ?
Toàn văn Chiếu thoái vị
"Hạnh phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt được mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả mọi phương diện và cũng vì mục đích ấy, nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có bổ ích cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này, đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết, nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể nào tránh được nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân, lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng, cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao liệt thánh vào sinh ra tử trong gần 400 năm, mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hoá đến Hà Tiên; mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong 20 năm trời mới gần gũi quốc dân được mấy tháng, chưa làm được gì.
Trong khi trao quyền lại cho Chính phủ mới, Trẫm chỉ mong ước ba điều sau này:
1- Đối với tôn miếu và lăng tẩm các liệt thánh, Chính phủ nên xử trí thế nào cho có sự thể.
2- Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong Chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hoà xử trí, để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ Dân chủ Cộng hoà nước ta xây đắp trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân, lợi ích cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ Dân chủ Cộng hoà.
3 - Đối với quốc dân, Trẫm khuyên hết tất cả các giai cấp, các đảng phái cho đến các người hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ Dân chủ giữ vững nền độc lập của nước, chứ đừng vì lòng quyến luyến Trẫm và hoàng gia mà sinh ra chia rẽ. Còn về phần riêng Trẫm trong 20 năm ngai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay Trẫm lấy làm vui mừng được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ Trẫm quyết không để ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của hoàng gia mà lung lạc dân chúng.
Việt Nam độc lập muôn năm!
Dân chủ Cộng hoà muôn năm!".
Tualinh tổng hợp
Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010
Hội An - ở bên dưới.
Sau đêm Hội An, tôi bắt đầu thực hiện mục tiêu chính của mình tại đây là khảo sát cái bên dưới.
Cù lao Chàm là một quần đảo nhỏ nằm ngay cửa ngõ Hội An, cách một giờ rưỡi chạy tàu. Từng là một cảng thông thương quốc tế sầm uất của thế kỷ trước, tàu bè ra vào Hội An thường đi ngang Cù lao Chàm. Ở đây người ta từng trục vớt được nhiều đồ cổ quí giá từ những con tàu bị chìm ở vùng nước này. Tôi cũng được gặp xác tàu đắm trong chuyến lặn nhởn này. Xác một con tàu sắt bé nhỏ, không hiểu vì sao chưa bị kéo lên bán ve chai. Các dải đá ngầm ở đây còn tệ hơn ở Nha trang hay Phú Quốc do nạn đánh bắt cá bằng chất nổ. Mới được qui hoạch là khu bảo tồn biển mấy năm gần đây, bên dưới Cù lao Chàm đang dần hồi phục. Bây giờ thì chỉ mới có san hô thân mềm là chính, cá mú cũng ít. Tuy nhiên, ở đây có những giống cá mà tôi lần đầu tiên chộp được - chú cá Chình hoa và cá Sư tử màu đen.
Lần này, hướng dẫn viên của tôi là một cô chuẩn úy (Dive Master), sinh ra ở vùng núi Alple nhưng rất mê lặn biển. Vanessa - cô gái Thụy Sỹ này sống hòa đồng với dân làng chài trên Cù Lao Chàm, dạy tiếng Anh cho lũ trẻ và còn quyên góp từ bạn bè để tặng cho làng một thư viện sách cho trẻ em. Mời các bạn xem clip về chuyến khám phá bên dưới Hội An của tôi.
Thiên tài không đi lẫn với bầy cừu?
Bài này 4SG giới thiệu, mời ACE vô coi. Nếu có cảm tưởng chi,xin nói to cho mọi người cùng nghe nhé.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

