Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010
Bạn khóa 3 tại Hội trường Hà Nội.
Ngày hội trường là dịp tốt để bạn bè gặp nhau. Hà Nội thủ đô của cà nước tất nhiên là nơi tập trung đông đào nhất các bạn trỗi. Hội trường 16/10 hứa hẹn sẽ thu hút được các bạn và thày cô từ các vùng miến khác nhau. Chỉ riêng trong cái CB con con của nhóm mấy thằng K3 chúng tôi do Bình ngọng làm bí thư cũng đã có hầu hết anh em dự kiến sẽ ra dự hội trường. Mục đích đầu tiên tất nhiên là để gặp lại anh em chiến hữu cùng C ngày ở trường NVT, gặp lại thày cô của mình. Mong muốn là vậy, nhưng nhiều khi, mà nhất là ở tuổi này không phải cứ muốn là được nên có 2 ĐV dù đã quyết tâm, đã mua vé nhưng đến giờ chót phải bỏ cuộc, chỉ còn TLinh, T Công, X Nam và tôi (amk3) tham dự được ngày hội trường ở HN. Nhiều bạn K3 ở Phía Nam cũng không có điều kiện tới được ngày hội trường này nên tôi xin đưa lên đây hình ảnh các bạn K3 tại sự kiện này. Mong muốn của tôi chỉ là để các bạn ở xa có thể thấy lại các bạn của mình. Bản thân tôi cũng không nhớ tên một vài bạn K3 do lâu ngày quá nên cũng không thề chú thích tên từng người. Mời các bạn xem và nếu được, hãy gọi tên bạn mình.
Vì clip làm ở dạng HD, bạn có thể xem toàn màn hình bằng cách nhấn vào ô phóng to màn hình như dưới đây.
Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010
Tin buồn
Ban liên lạc Trường Nguyễn Văn Trỗi, BLL K8, BLL B6 K8 và BLL C11 vô cùng thương tiếc báo tin:
Bà Nguyễn Thị Yến, là mẹ bạn Nguyễn Kim Hậu, B6 K8 C11, sau một thời gian lâm bệnh đã từ trần hồi 4 giờ chiều hôm qua (ngày 19 tháng 10 năm 2010), hưởng thọ 87 tuổi.
Lễ viếng và lễ truy điệu sẽ được cử hành tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Lê Thánh Tông từ 10 giờ đến 12 giờ 30, an táng tại nghĩa trang Tứ Liên, Hà Nội.
K8 sẽ tập trung viếng Bà vào lúc 11 giờ.
Được đăng bởi Nguyen Thi Thai
Bà Nguyễn Thị Yến, là mẹ bạn Nguyễn Kim Hậu, B6 K8 C11, sau một thời gian lâm bệnh đã từ trần hồi 4 giờ chiều hôm qua (ngày 19 tháng 10 năm 2010), hưởng thọ 87 tuổi.
Lễ viếng và lễ truy điệu sẽ được cử hành tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Lê Thánh Tông từ 10 giờ đến 12 giờ 30, an táng tại nghĩa trang Tứ Liên, Hà Nội.
K8 sẽ tập trung viếng Bà vào lúc 11 giờ.
Hà Nội trong mắt tôi - Bài 6
Xa lông, điếu cầy
Lần đi xe ôm, biết ông lái người Xuân Trường Nam Định tôi nói bừa “Dân Xuân Phú à?”, ai ngờ ông ấy hỏi lại “Anh xóm nào?”. Người xã ông lên đây chạy xe có đến một tiểu đoàn. Gần nhà tôi có chị hàng xôi trông hay hay, hỏi chuyện ra chồng bán nước ghi đề bơm xe đầu phố, con học trường phường, còn cái ông tối tối ép nước mía cách mấy dãy nhà là bố đẻ, đều từ Thái Nguyên xuống. “Em còn bà nội trên ấy. Làng đi vãn, cụ chỉ sợ chết không ai biết, có biết thì đám ma không ai đi”.
Ngoài Chương Dương Hàm Tử có những “xóm” Hưng Yên, “xóm” Thái Bình, ngày gánh mướn đội thuê, quét dọn, rửa bát thuê ngoài phố, đêm về kềnh trong vòng tay người làng, giá hai ba nghìn mỗi đêm ngủ, tất nhiên cả tắm giặt. Đa phần phụ nữ, dai sức không thể tả và rất tiết kiệm, về quê đạp xe từ nửa đêm. Trước họ về cả vụ cấy, nhưng giờ đã “khoán” cả ruộng cho họ hàng, “tập trung vào chuyên môn” trên này. Thiếu họ, những lao động đơn giản, và thiếu đội quân “ô sin”, thành phố hẳn sẽ cuống lên.
Hà Nội, như thế, đã thở cùng một “nhịp” với vùng nông thôn vĩ đại xung quanh mình. Và hẳn là xem xét Hà Nội mà không tính đến những vấn đề của Bắc Bộ (tạm thu hẹp thế thôi), có lẽ giống đặt nồi lên bếp mà chưa biết củi lửa mắm muối đủ chưa. Vậy thì cái nông thôn ấy đang như thế nào, quan hệ với Hà Nội ra sao?
Điều tích cực thì chúng ta đã nói đến nhiều: cung cấp thóc gạo, thực phẩm, đất đai, nhân lực, nguyên vật liệu... Người tài người đẹp từ Quảng Bình Thanh Hoá ra, Lạng Sơn xuống, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xó xỉnh chợ búa đâu đâu cũng gặp... Đến đây với khát vọng đổi đời, chả mấy kẻ uể oải, đa phần đều năng nổ, bổ sung phần cần cù mạnh bạo vào cái nhịp yếm thế của người phố. “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, bổ sung sinh lực, tóm lại là có rất nhiều điều hay để nói về họ. Một nhận xét khác: “mỏ” nhân tài cho Thăng Long xưa nay lớn nhất là Nghệ Tĩnh và xứ Quảng, có lẽ còn mầu mỡ hơn cả Kinh Bắc, Đông, Đoài, bởi người Nghệ người Quảng cạnh tài năng còn là ý chí vô song.
Nhưng lại cũng có cái dở, mà chả hề ít. Sự phát triển làm khoảng cách địa lý giữa thành thị với nông thôn gần lại, nhưng cái hố sâu về mức sống, văn hoá, tập quán... lại toang hoác ra. Những chú phụ nề hơn chục tuổi từ Bắc Giang xuống hay nghêu ngao câu hát về một tình yêu dang dở. Chưa hề thất tình, hẳn thế. Nhưng có lẽ trong vô thức, hàng ngày thấy cả lũ “em Chã” bằng tuổi, chú chả thể bằng lòng về phận mình. Và chú cũng có những ước mơ chứ, có điều chả hướng về ngôi nhà trên đồi có mẹ già cằn cỗi. Nông thôn đang không giữ đợc người. Cái êm ả sau luỹ tre chỉ có nghĩa là ăn đã đủ, mặc không bị rét nữa thôi. Nhưng thế chưa đủ. Đất đai ít, bởi người đẻ mãi ra, trồng cấy sinh lợi ít. Một sào ruộng chịu nhiều khoản: thủy lợi, khuyến nông, phân hoá học, thuốc sâu rầy..., mà trời không thương có khi mất cả. Một “suất đinh” chịu đóng góp các thứ quỹ xóa đói giảm nghèo, tiếp khách, bảo tồn di tích, khuyến học, người cao tuổi, cựu chiến binh, văn nghệ... của xã, thôn, của họ tộc. Thế là phát canh lấy thóc cho bố mẹ ăn, còn mình “ra đi vào chốn đô hội”, chả biết làm nghề gì khác ngoài sức vóc. Cũng không ít đàn bà, với “vốn tự có”. Cái sự ra đi ấy có thể quy cho là bần cùng hóa?
Làng xóm nhiều nơi, vùng xa là chính, đàn ông, thanh niên vãn cả, còn lại là ông già bà lão và những anh dốt nát chả có tài cán gan góc càng không. Nhà văn Dạ Ngân “miêu tả” bằng chữ “trống toang”. Ra đồng tinh đàn bà, tuy đã có đôi ủng cao su buộc cạp lên quá gối lội bùn tiện hơn, nhưng cái việc xấp mặt xuống cấy thì không thể trốn. Tệ hơn là cái nạn cường hào mới. Người giỏi giang ra tỉnh học nghề rồi ở lại, bằng không cứ lao động đơn giản cũng kiếm bằng mấy chân quê. Tết đến, ít hào đem về lại đóng tiền xây nhà thờ họ, mộ tổ, cùng bao thứ quỹ chỉ ở xó xỉnh mới có. Mấy chú đánh giầy bán báo qua bao lần “bắt cóc bỏ đĩa”, nghĩa là những đợt “làm sạch phố phường”, lại nhẩy phắt ra phố. Chúng ưa thích cái “vị” tự do (dù đầy cạm bẫy) hơn tôn ty trong luỹ tre chăng? Và thanh niên ăm ắp khát vọng với tài năng, còn chỗ nào có thể đem lại học vấn, cơ hội đổi đời hơn thành phố? Chả lẽ học xong rồi về quê, nơi lắm khi sự êm đềm lại như một tấm lưới trói chặt cá tính, nghĩ gì nói gì cũng không thể trái lời ông trưởng họ...
Vùng nông thôn gần thì sao? Không thể không nhận thấy là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thay đổi nhiều làng quê cũ kỹ. Giao thông phát triển, những khu công nghiệp mọc lên đem lại bộ mặt mới mẻ, hiện đại. Các dự án đem lại công ăn việc làm. Nhiều làng nghề đang suy sụp hồi sinh. Thanh niên rành vi tính, kỹ thuật mới, hay có thể tậu con xe tải chạy pành pành.
Nhưng cạnh phần được đó, lại là bao cái đáng tiếc. Tiếc mà không níu được, có lẽ là những di sản gắn với đời sống nông nghiệp. Nhiều nơi đập cổng làng, xén đất đình cho ô tô đi. Cái hình ảnh một làng quê xấu đi là rõ nhất: đố thấy còn nhà tranh, nhưng “kiến trúc” mới chả có quy hoạch quy chuẩn nào, cứ xây chằn chặn xìn xịt mà cái nọ chửi bố cái kia. Vườn tược cây cối ao chuôm biến mất khiến nước thải chẳng còn chỗ chảy, vừa đem theo cái vẻ êm đềm thanh mát vừa khiến hàng xóm to tiếng.
Dù sao cái phong cảnh “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” đó còn xa xỉ chán, chỉ mấy lão thi sĩ tiếc quắt ruột. Đáng ngại, là hậu quả của việc mất đất canh tác cho các dự án. Vèo cái, qua một đêm, người nông dân gần đô thị có cục tiền cả đời mơ không thấy. Nhưng vẫn là cái anh chỉ biết cấy cầy mà không còn đất, họ đâm thất nghiệp. Tiền dự án đền bù cho sẽ xoay ra làm gì, càng nhiều có khi càng xảy sự, con cái tranh giành, họ tộc đòi góp. Nhà lên được, xe đã mua, có dễ con thành hỏng. Đất đã sụt dưới chân, mà chuyển nghề chạy chợ thì cụt vốn có khi, bởi “quê ta thuần nông, có mả làm thương nghiệp đâu”. Đó là những con tính nát óc bao ông chủ gia đình. Một điều tra của Đại học Kinh tế Quốc dân trên địa bàn Hà Nội vừa cho biết 57% nông dân dùng tiền đền bù đất đai để xây nhà, chỉ có 1% đầu tư cho nghề mới và 3% cho học nghề. Sự thay đổi là cần thiết với đất nước, thủ đô, làng xã, nhưng xa xôi quá, với họ thì lại nhanh và nghiệt ngã khiến trở tay không kịp.
Và ngay ở phạm vi đất nước, cái đất nước xuất khẩu gạo vào loại ác chiến trên thế giới bỗng dưng lại đối mặt với vấn đề an ninh lương thực, thì hẳn là phải có chuyện trong đường hướng phát triển rồi. Giá đắt chừng nào trời nào mà đong!
Dầu sao, cảnh khó của làng quê gần còn là ước mơ của bao xó xỉnh xa xôi. Và lại dầu sao “giầu nhà quê không bằng ngồi lê kẻ chợ”, nên chi “Làng ơi, chào nhé”, nên chi “Cô dì chú bác ở lại, cháu ngược”.
*
Mấy chục vạn, hay mấy triệu người kéo lên Hà Nội, chả biết. Lên theo thời vụ hay thành hẳn “người phố” là mấy phần, chả hay. Chỉ biết cái nội thành cho triệu người là vừa giờ san sát, cựa cái đã chạm nhau. Diện tích mở rộng, đường xá thêm ra, nhà cao tầng rộng lên cho tiết kiệm đất, bao nhiêu cũng không đủ. Thủ đô như cái đầu máy phải gánh phải kéo vùng nông thôn, thở hồng hộc, lem nhem, kém thanh lịch đi. Cũng phải, vì tiền xây cất là còn do thuế từ nông thôn chứ. Và thành phố đâu phải chỉ của người ở đã lâu, ai cấm ai vào được.
Người nông thôn mang vô vàn sức lao động đến, kèm theo cách sống của họ. Tư duy tuỳ tiện, áp dụng lệ làng, xây cất cơi nới, đi đứng hồn nhiên, phạm luật mà không biết. Đa phần lao động đơn giản, họ thành công cụ cho người chủ, có thể bị bóc lột, làm nạn nhân, cũng có khi phá đám lại chút ít. Thành phố cần họ và hiển nhiên, “xếp” họ vào đẳng cấp dươi dưới. Với cái “dươi dưới” ấy, và với tâm lý đi ở tạm “hàng xóm”, liệu họ có yêu quý, lo cho cái cộng đồng chung bằng cho làng nước mình? Từ đấy đến chỗ vứt con chuột ra đường, đái một bãi “mặc bố thằng nào ngửi” rất mỏng.
Nhưng có những con người có chí tiến thủ, học hành đầy đủ, chiếm được những vị trí cao, đủ quyền lực định đoạt việc lớn. Sự tác động của họ vào đời sống đô thị có hay dở của nó, chỉ xin nêu ra ở đây cái phía không tích cực.
Từ nơi khác đến lập nghiệp, cái tâm lý không tự tin và cũng chả tin người rất dễ có. “Cơ chế” cục bộ, co cụm để bảo vệ nhau xuất hiện. Những “tập” người hình thành xung quanh vị “gia trưởng” mới để “chào cờ xã ta”. Người huyện người họ kéo ra, dùng người tài theo kiểu hẹp hòi... ác nghiệt nhất là những ông tiểu nông ấy mà càng quyền cao chức trọng học hàm học vị xum xuê với cả cán bộ đảng viên nữa thì càng “Thôi rồi Hà Nội ơi!”. Nhiều yếu tố khiến cơ cấu dân cư thành phố vỡ một cách “tinh tế”, công tác tổ chức, cán bộ bị ảnh hưởng. Cái tâm lý “chín bỏ làm mười” thâm căn cố đế chiếm dụng, lấn át tư duy duy lý - nhất là trong khoa học, khiến nhiều khảo sát, điều tra, giải quyết vấn đề không được đẩy đến cùng. Và còn những biến thái nhỏ li ti nữa không thể không nghĩ tới. Như là liệu không gắn bó, yêu quý Hà Nội, người ta có chỉ tính tới những giải pháp ngắn hạn, “có tính chất nhiệm kỳ” cho nó? Như là một thành phố không có những dòng họ trí thức lớn như Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hồ Đắc, Hà Thúc ở Huế, hay “Hà Tĩnh họ Phan Nghệ An họ Hồ”, thì liệu có mất mát không? Nói thế thật ra không chính xác lắm, vì Hà Nội chi chít làng xóm, dòng tộc khoa bảng. Nhưng sao đã ngót nghìn năm theo Nho giáo, trí thức đô thị nhiều người huỷ tiết tháo đi, hành xử cứ hay khép lại, không nói ra cái điều họ nghĩ? Có một nỗi ám ảnh thường trực nào chăng?
Thành phố của chúng ta đa sắc thật. Những mảng mầu. Những tập người. Những thời khắc... Hệt như cái kính vạn hoa, chỉ nghiêng đi một tý đã thấy khác.
Trần Chiến
Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010
Hình K3 tại Hội trường NVT 45 - Hà Nội.
Bên ngoài hội trường - Cung văn hóa hữu nghị VX.
Trông không khác mấy so với hơn 30 năm trước
Hà mèo cũng đang lọ mọ kiếm tư liệu cho clips tiếp theo của mình.
Lý nhím từ Nha Trang và dân bản địa - chú Phi...Nhìn dáng chụp hình biết ngay là còn teen chán.
Bác Trần Đào - tay còm sắc bén nhất Blog K3.
TL (không phải Thùy Linh) Đ. tá đương chức...của hiếm trong AE k3 đấy.
Hai bác chấp hành khuyến cáo về trang phục dự Hội của BLL trường nghiêm túc nhất K3.
Hai L, Khắc L Và Tuấn L đều là đại biểu xa về dự hội trường.
Các bạn SG còn nhớ ai với ai hông??? Tui nhớ hết, trừ đ/c áo màu trứng sáo đứng cạnh chú Phi.
Đấy nữa, đứng cạnh Bắc cóc, trước H Bằng hình như không phải K3, nom trẻ quá.
Nhà báo Hồ Bắc - Quốc Quân
Thắng Lợi và Q Giới
Có hình tui ở đây! ủa mà đây là Quân Ali mà...đâu có phải B cóc đâu?
Ở đây có thêm nhà báo TC, Chí Đỉnh và cạnh hắn là ai nhỉ? tui không nhớ.
Cùng ông bạn DTL.
Một vài hình ảnh K3 ở bên ngoài hội trường. Mới chỉ có một vài khuôn mặt bạn K3. Sẽ có nhiều hơn nữa khi ta vô trong hội trường. Giống như Hội Trường ở HCMC, các khóa được phân công ngồi tập trung thành từng khu riêng nên rất tiện điểm danh, chụp hình. Tuy nhiên tại đây bạn cũng đừng hy vọng thấy lại tất cả K3. Chỉ khi ngồi vào bàn nhậu thì ai cũng sẽ có mặt cả! . Lượng hình chụp được cũng tăng nhanh chóng ở phần Lễ và đặc biệt ở phần Hội. Xin mời các bạn xem tiếp ở bài sau.
Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010
Cứu hộ 33 thợ mỏ Chi lê dưới góc nhìn của một "lính" Dù
Sự khó khăn, nguy hiểm, tính phức tạp về kỹ thuật trong việc cứu hộ 33 công nhân kẹt trong lòng đất dưới độ sâu 700 m ở Chi lê đã được báo chí đăng tải. Ở đây, dưới góc độ của một kẻ chơi Dù, tôi xin nói về mặt tâm sinh lý khi con người bị “leo” (chuyển động lên cao).
Trong vụ cứu hộ, để đưa công nhân lên mặt đất, họ nhốt anh ta trong cabin chật như chiếc quan tài. Tất cả tối đen. Cô đơn. Anh ta không biết gì và bị mất phương hướng (hiểu theo nghĩa đen). Khủng khiếp. Cabin “leo” với vận tốc 1m/s làm anh ta nôn nao muốn ói, hay tệ hơn, muốn xỉu, hay tệ hơn nữa, hoảng loạn.
Con người có khả năng kiểm soát, cảm nhận sự di chuyển trên mặt đất (ngang dọc). Khi lái xe hơi, anh ta thoải mái, và hăng lên, có thể “kéo” trên 200 km/h (ở xa lộ EU) mà vẫn bình thường. Nhưng với chuyển động lên và xuống, anh ta lại không dễ dầu thích nghi, bởi con người là loại động vật sợ độ cao. Anh ta hồi hộp khi “rớt” xuống, nhưng hồi hộp hơn là lúc “leo” (kể cả vận động viên Dù có hàng ngàn lượt nhảy hay hàng trăm giờ bay).
Tốc độ “leo”:
Tốc độ 1m/s (3,6 km/h) chỉ là tốc độ dạo phố, nhưng BỊ “leo” với tốc độ hơn 1/ms có thể làm cho người ta lạnh xương sống, có kẻ tim bị ngừng đập một vài giây, nhất là khi anh ta thấy mình đang ở trong điều kiện không an toàn. Một lần tôi bay dù lượn vào vùng khí thăng hơi mạnh, tôi bị “leo” hơi nhanh (hơn 1 m/s thôi), dù “phực phực” giật giật, bỗng dưng cảm thấy … lạnh, đành kéo cho dù trượt ra khỏi vùng thăng. Nhưng ngược lại, “rơi” với tốc độ 1 m/s thì quá êm, phải cỡ 10 m/s (36 km/h) đổ lên mới thấy “hay”, còn nếu đi mô tô (không leo, không rơi) thì phải lối 28 m/s (100 km/h).
Không nhìn thấy đích:
Ban ngày, khi VĐV rơi khỏi máy bay, anh ta hoàn toàn bình tâm vì đất trời minh bạch, nhưng chỉ cần bay đêm hay đơn giản hơn là chui vào đám mây mù là … khác ngay. Tôi một lần bị trôi vào mây mù. Không thấy trời, không thấy đất và đích đến, mất phương hướng, một nỗi sờ sợ kì lạ như bị mất giác quan. Một VĐV bơi qua eo biến Manche (cự li 22 dặm) và đã bỏ cuộc khi chỉ còn cách bờ nửa dặm, mặc cho HLV cam đoan rằng “chỉ còn nửa dặm thôi!”. Cũng chỉ vì lúc đó trời mù nên VĐV không nhìn thấy đích – một nỗi lo sợ vô cớ của loài động vật có tư duy. 3 tháng sau, VĐV này đã bơi qua eo Manche một cách mĩ mãn “vì đã trông thấy đích”.
Sự chế ngự nỗi sợ: Tính chuyên nghiệp của đội cứu hộ và việc tập huấn cho 33 thợ mỏ là rất quan trọng, nhưng phải nói đám thợ mỏ này (trừ 1 người) đều là dân kì cựu – họ có bản lãnh và tự tin.
Số liệu không liên quan (chỉ để xem chơi):
Định luật rơi tự do nói, vận tốc của vật rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của nó.
Nhưng nó chỉ chính xác hoàn toàn khi không xét tới sức cản không khí.
Theo đúc kết của hội Dù thế giới, trên thực tế, với độ cao dưới 4.000 m, tốc độ rơi tự do của VĐV nhảy Dù (không phụ thuộc trọng lượng VĐV và phụ kiện) như sau:
Thời gian rơi (s) \ Tốc độ rơi (m/s):
1\9.8 – 2\19 – 3\27 – 4\33.5 – 5\45.5 – 6\47.5 – 7\49 – 8\49.5 – 9\50 (đã rơi được 287 m) – 10\50 – 11\50.5 – 12\50.5 – 13\50.5 – 14\50 - 15\50(...nt...) – 30\50 (đã rơi được 1.330 m).
Trong vụ cứu hộ, để đưa công nhân lên mặt đất, họ nhốt anh ta trong cabin chật như chiếc quan tài. Tất cả tối đen. Cô đơn. Anh ta không biết gì và bị mất phương hướng (hiểu theo nghĩa đen). Khủng khiếp. Cabin “leo” với vận tốc 1m/s làm anh ta nôn nao muốn ói, hay tệ hơn, muốn xỉu, hay tệ hơn nữa, hoảng loạn.
Con người có khả năng kiểm soát, cảm nhận sự di chuyển trên mặt đất (ngang dọc). Khi lái xe hơi, anh ta thoải mái, và hăng lên, có thể “kéo” trên 200 km/h (ở xa lộ EU) mà vẫn bình thường. Nhưng với chuyển động lên và xuống, anh ta lại không dễ dầu thích nghi, bởi con người là loại động vật sợ độ cao. Anh ta hồi hộp khi “rớt” xuống, nhưng hồi hộp hơn là lúc “leo” (kể cả vận động viên Dù có hàng ngàn lượt nhảy hay hàng trăm giờ bay).
Tốc độ “leo”:
Tốc độ 1m/s (3,6 km/h) chỉ là tốc độ dạo phố, nhưng BỊ “leo” với tốc độ hơn 1/ms có thể làm cho người ta lạnh xương sống, có kẻ tim bị ngừng đập một vài giây, nhất là khi anh ta thấy mình đang ở trong điều kiện không an toàn. Một lần tôi bay dù lượn vào vùng khí thăng hơi mạnh, tôi bị “leo” hơi nhanh (hơn 1 m/s thôi), dù “phực phực” giật giật, bỗng dưng cảm thấy … lạnh, đành kéo cho dù trượt ra khỏi vùng thăng. Nhưng ngược lại, “rơi” với tốc độ 1 m/s thì quá êm, phải cỡ 10 m/s (36 km/h) đổ lên mới thấy “hay”, còn nếu đi mô tô (không leo, không rơi) thì phải lối 28 m/s (100 km/h).
Không nhìn thấy đích:
Ban ngày, khi VĐV rơi khỏi máy bay, anh ta hoàn toàn bình tâm vì đất trời minh bạch, nhưng chỉ cần bay đêm hay đơn giản hơn là chui vào đám mây mù là … khác ngay. Tôi một lần bị trôi vào mây mù. Không thấy trời, không thấy đất và đích đến, mất phương hướng, một nỗi sờ sợ kì lạ như bị mất giác quan. Một VĐV bơi qua eo biến Manche (cự li 22 dặm) và đã bỏ cuộc khi chỉ còn cách bờ nửa dặm, mặc cho HLV cam đoan rằng “chỉ còn nửa dặm thôi!”. Cũng chỉ vì lúc đó trời mù nên VĐV không nhìn thấy đích – một nỗi lo sợ vô cớ của loài động vật có tư duy. 3 tháng sau, VĐV này đã bơi qua eo Manche một cách mĩ mãn “vì đã trông thấy đích”.
Sự chế ngự nỗi sợ: Tính chuyên nghiệp của đội cứu hộ và việc tập huấn cho 33 thợ mỏ là rất quan trọng, nhưng phải nói đám thợ mỏ này (trừ 1 người) đều là dân kì cựu – họ có bản lãnh và tự tin.
Số liệu không liên quan (chỉ để xem chơi):
Định luật rơi tự do nói, vận tốc của vật rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của nó.
Nhưng nó chỉ chính xác hoàn toàn khi không xét tới sức cản không khí.
Theo đúc kết của hội Dù thế giới, trên thực tế, với độ cao dưới 4.000 m, tốc độ rơi tự do của VĐV nhảy Dù (không phụ thuộc trọng lượng VĐV và phụ kiện) như sau:
Thời gian rơi (s) \ Tốc độ rơi (m/s):
1\9.8 – 2\19 – 3\27 – 4\33.5 – 5\45.5 – 6\47.5 – 7\49 – 8\49.5 – 9\50 (đã rơi được 287 m) – 10\50 – 11\50.5 – 12\50.5 – 13\50.5 – 14\50 - 15\50(...nt...) – 30\50 (đã rơi được 1.330 m).
Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010
K3 mời bạn giao lưu -Tin nhắn Thái Chi. 13/10/2010, 8:11
Toàn văn như sau :
TM BLL K3 Kính mời Bạn và nhờ bạn THÔNG BÁO đến toàn khoá k3 Tham dự buổi giao lưu Toàn quốc. KHOÁ 3 Hà Nội Đón tiếp Các Bạn K3 Sài gòn,Đà Nẵng,Huế,Hải phòng,Thanh Hoá Thái nguyên về Hanoi. thời gian 11g 30 ngày 15 th10 tại Bia Hải xồm số 23 Nguyễn Đình Chiểu HN,Tại buổi giao lưu xin gửi Giấy mời cho Bạn Chưa nhận và Phổ biến Nội dung k3 Hưởng ứng toàn diện lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Trường Cám ơn.
Thái Chi.
TM BLL K3 Kính mời Bạn và nhờ bạn THÔNG BÁO đến toàn khoá k3 Tham dự buổi giao lưu Toàn quốc. KHOÁ 3 Hà Nội Đón tiếp Các Bạn K3 Sài gòn,Đà Nẵng,Huế,Hải phòng,Thanh Hoá Thái nguyên về Hanoi. thời gian 11g 30 ngày 15 th10 tại Bia Hải xồm số 23 Nguyễn Đình Chiểu HN,Tại buổi giao lưu xin gửi Giấy mời cho Bạn Chưa nhận và Phổ biến Nội dung k3 Hưởng ứng toàn diện lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Trường Cám ơn.
Thái Chi.
Vài suy nghĩ về cuốn SRTKL3
Gần đây thấy mấy “pác” bình phẩm cuốn SRTKL3 nhiều quá làm tôi “ngứa ngáy” cũng muốn “sổ” ra theo.Trước hết xin nói : tôi cũng là một “nạn nhân” trong cuốn SRTKL3. Một số bài của tôi được mang tên người khác, một số bài được sửa chữa, thậm chí biên tập lại mang ý nghĩa khác hẳn ban đầu. Tất nhiên là chẳng thích thú gì với chuyện đó. Song nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại.
Từ ngay sau khi tập 2 ra đời, tôi đã trực tiếp cũng như gián tiếp nghe nhiều bạn Trỗi (xin miễn nhắc tên ra đây) nói : Sách đ. gì chỉ có vài thằng viết mà cũng gọi là trường Trỗi. Tại sao không có bài của khóa này, khóa kia, của thằng này, thằng kia viết rất hay …. Và tôi được biết, ngay ở tập 2 đã có một số bài mang tên không đúng của tác giả, song không có ai thắc mắc gì. Hay là vì hồi đó chưa có blog, nên cũng chẳng ai biết, ngoài tác giả và BBT. Hay là vì các tác giả này cũng suy nghĩ như tôi thế này :
Như đã một lần giãi bày cùng AE trong bài “Tôi viết bài cho blog Trỗi” đã đăng cũng lâu rồi (không nhớ chính xác thời gian) : tôi chẳng biết viết văn (hồi Trỗi vốn là học sinh dốt toàn diện mà!), nhưng vì bức xúc với những kỷ niệm xưa, kỷ niệm với những người bạn ba bốn chục năm trước mà nay vẫn là bạn (chứ đời nay, bạn bè người ta tính theo tuần là quá lâu rồi) nên mới viết ra những gì mình nghĩ mà chia sẻ với bạn bè. Tất nhiên văn nói (như tán gái) thì dễ, nhưng văn viết thì không dễ chút nào, mà văn trên blog chắc cũng không thể như văn trên sách (hay là vì tôi dốt nên mới nghĩ thế?). Bởi vậy nếu “người ta” đưa “văn mình” lên sách chắc chắn phải “tút” lại thì mới thành “vợ người” được chớ. Âu cũng là chuyện thường.
Với cái thằng dốt như tôi được nhìn thấy văn của mình in thành sách thì đã là tự hào lắm rồi dù cho đó chỉ là sách nội bộ AE mình nên dẫu có “bị” hay “được” sửa thế nào thì cũng thấy “đã” lắm chứ không phải như mấy “pác” văn nghệ sỹ “pro” có đủ “trình” để làm “cần câu cơm”. À, mà các “pác” muốn “câu cơm” thì cứ “câu” đi chứ sao lại phải đăng “nháp” lên blog để AE góp ý cho hoàn chỉnh rồi mới “câu”. Vậy “cái cần câu” của “pác” có bản quyền đứng tên ai? Theo luật là tên tập thể đó. Vậy khi “câu” nhớ xin phép tập thể nha(?). Mà có một số bài khi đăng lên, thấy có người bình : hay quá, xin được đưa bài vào tập 3 – Chẳng thấy tác giả nào trả lời. hay là theo thuyết “im lặng là đồng tình”?
Thôi lại nói bậy rồi. Xin quay lại chuyện AE mình. Tôi đang đặt địa vị mình vào vị trí người biên soạn cái tập 3 này (tất nhiên chỉ là tưởng tượng vì tôi không có đủ khả năng và trên hết là không đủ nhiệt tình để làm “chùa” như vậy). Trước hết tôi kêu gọi AE viết bài để biên soạn. Kêu gọi mãi, chẳng thằng đ. nào gửi bài mà chỉ toàn bình phẩm, nhận xét cái cuốn sách mà lúc đó thậm chí còn chưa được “thụ thai”! Vậy là “xù”? Nhưng mở mấy cài blog “bán trời” thấy có quá nhiều bài hay, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện trời, chuyện đất … chẳng thiếu gì, mà toàn theo đúng giọng “bán trời” tụi mình cả! Hỏi thăm lại, thì số AE xem blog chưa tới 100 người. Vậy còn khoảng 1000 nữa không biết. Ô là là! Chuyện Trỗi, văn Trỗi mà lính Trỗi không biết! Làm nhiều khi đi nhậu, nói dóc chuyện blog chẳng ai biết. Chán thật!
Rồi lên blog thì … ôi, cả ngàn bài, hoa mắt! Thế là đành mò mẫm 6 trang blog từ mấy năm nay đến giờ rồi chọn lọc. Bài này chọn- bài này bỏ - Chọn – Bỏ - Chọn … Xong! Đọc lướt lại khoảng năm sáu trăm bài để lấy ra 300 bài cho đủ khoảng 1000 trang (vì tính tương đương T2 mà!). Đang đọc mới nhớ : mẹ, có bài giống thế này mà còn hay hơn, nhưng mà ở blog nào nhỉ? Vậy là lật lại tìm hết 6 blog trong 3 năm mới sực ra : bài này thằng kia gửi mail cho mình chớ đâu có đăng blog…. Xong! Nhưng thế đêk nào, mấy trăm bài cũng chỉ loanh quanh vài chục thằng. Bỏ mẹ! Lại có chuyện “sách riêng của mấy người!”. Thế là đổi tên, gắn tên,… tùm lum cả. Gọi điện cho thằng này, nhắn tin cho thằng kia, rồi lại gọi điện lại, rồi… chết mẹ lại quên thằng này,…. Trong khi “đại lễ 45 năm” đã đến gần, mà còn xin phép, in ấn, ứng tiền, xin tài trợ, tinh toán số lượng, vận chuyển …thượng vàng hạ cám. Nhờ thằng HM thì : em đ. biết! Nhờ thằng XYZ thì : mày cứ làm đi! Rối cả lên, nhầm lẫn lung tung mà chẳng có ai kiểm tra lại cho. Vậy là đành tặc lưỡi : thôi thì AE mình cả. Nó chửi thì mình nghe. Sori! Vậy là sori liên tục ….
Vậy đó, cứ tưởng tượng ra chuyện đó là thấy ngán rồi. Ai làm thì làm, chớ em xin lỗi : ai làm em xem, em vỗ tay … và nếu “ngứa mồm”, em “góp ý” vài lời nếu có sai thì là “tại thiên tai”, mà lỡ đúng “là nhờ thiên tài …” của em! Ha ha!!!
HMk6
Thứ Ba, 12 tháng 10, 2010
Hà Nội trong mắt tôi - Bài 5
Thông tin xô đẩy
Sang thế kỉ này, internet lan toả, lập tức chiếm lĩnh vị trí cực kì quan trọng trong các kênh thông tin - tuyên truyền. Cạnh các ấn phẩm, toà soạn nào cũng cố ra báo điện tử “kẻo thông tin muộn”. Cạnh các tờ “chính thống”, được phép của Nhà nước, blog ra đời. Theo một công bố, tháng 11 - 2007, cả nước có hơn 3 triệu blog, mỗi ngày vài nghìn (?) cái mở thêm. Ngần ấy “báo cá nhân” làm thay đổi khủng khiếp tri thức, và do đó, nhận thức, quan niệm xã hội, mà trước hết trong giới trẻ. Cái sự được dễ dàng nói ra điều mình biết, mình nghĩ tạo xung động mạnh mẽ vào cộng đồng, đặt ra những vấn đề không dễ giải quyết cho người quản lý, như đâu là tin thật, đâu là giả, thế nào là cách nghĩ “đúng”...
*
Cách đây vài năm, có một chuyện thế này: cậu bé đánh giầy Trương Bá Sơn đang lang thang “tác nghiệp” thì dính tai nạn, gãy tay, vào viện cấp cứu trong tình cảnh chả ai thân thuộc. Đường dây tư vấn trẻ em của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em (khi đó) biết chuyện, một mặt thông tin cho báo chí, mặt khác báo cho ngành dọc có liên quan can thiệp. Tỉnh Hà Nam quê Sơn bảo người thân em chả còn ai, mà “nó lên Hà Nội rồi thì Hà Nội chịu”. Quận Hoàn Kiếm trỏ sang Hai Bà, chỗ bị nạn, Hai Bà lại bảo Hoàn Kiếm là nơi Sơn trú ngụ. Chú bé nằm trong viện với số tiền giúp đỡ ít ỏi của nhân viên, bệnh nhân xung quanh, và có bà chủ nhà trọ của em ở ngoài bờ sông chăm sóc nữa. Khi báo chí loan chuyện, được nhiều ngời giúp đỡ, thì Sơn lại khư khư số tiền đã trở nên to, chả “đưa lại” cho bà chủ trọ đã giúp mình. Sau đó ít lâu, khi lành bệnh, em được hưởng những “giải pháp triệt để”, như cho lên trại xã hội chăm sóc, học nghề...
Chuyện đến đó là hết. Nhưng bình luận về thời gian chú bé đánh giầy gặp khó, một cán bộ cỡ vụ của cơ quan chăm sóc trẻ em coi đó là phép thử nghiệt ngã với xã hội. Có thể kể ra những thành phần “chính” sau: cơ quan chuyên trách về trẻ em ở các cấp, những người bình thường -trong đó có bà chủ trọ tốt bụng, và bản thân cậu bé - với tâm lý láu lỉnh, thực dụng của kẻ chả còn nơi nương tựa. Đây là một ví dụ về tác động của thông tin vào các thành phần của cộng đồng, cho ra những phản ứng khác nhau, điều trước đây hầu như không có.
*
Nhân chuyện này, ta xem lại vài phép thử khác, diễn ra trong thời gian gần đây mà dư luận hầu như đều tỏ.
Đầu tiên là “vụ” Lê Vân. Cuốn tự truyện của chị do một nhà văn chấp bút ra năm 2006 thật sự là một sự kiện. Cùng quãng này, nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Nguyễn Đức Thạc cho người ta biết phần nào cái trạng huống thật của con người ta trong chiến tranh, vừa bình thường vừa anh dũng, đem lại sự thấu hiểu, thông cảm, cả kính phục. Thì Lê Vân lại tạo ngay ra những phản ứng đối lập. “Phái” giận dữ (chí ít là trách móc) phê phán “Ai đời con cái kể bố ra thế. Sao không xem lại mình đi, có phải cái gì cũng hay đâu!”. “Đẹp tốt phô ra xấu xa đậy lại, chuyện gia đình có gì đóng cửa bảo nhau chứ”. “Vô trách nhiệm quá, gì thì cũng đã đóng vai chị Dậu cô Duyên, những biểu tượng phụ nữ Việt Nam rồi”. “Nổi tiếng đến vậy mà còn đem chuyện nhà ra buôn thì chỉ có là cần tiền”. Giới mạng, chủ yếu do người trẻ làm chủ, bình luận sôi nổi: “Có thế chứ! Nói ra được những điều thầm kín phải dũng cảm lắm”. “Ta quen đạo đức giả rồi, cứ phải kiêng kỵ không nói ra, khuôn mình vào cái khung chung chung nhạt nhẽo chả ai khác ai, nay có người bóc cái “màng” ấy tuột ra là chê ngay”. Tranh luận “xảy ra” ở cơ quan, trong gia đình, lúc ăn chơi ngủ ngáy họp hành, cũng có thể gọi là “mớ” “xung đột thế hệ”.
Tự truyện của Vân không có giá trị văn học cao, về “tư liệu” chả nhiều cái mới; vì ối người, ối nhà có chuyện tương tự. Nhưng về mặt xuất bản nó đúng là một cơn sốt: số lượng 8000 bản đợt đầu, còn in nối trốn thuế bao nhiêu chả ai biết, trong khi sách các nhà văn nổi tiếng được in 2000 bản đã là mừng. Nó gây sôi nổi vì chạm đến chỗ nhạy cảm của văn hoá, đạo đức truyền thống. Xã hội phương Tây xuất hiện loại sách này từ tám hoánh. Có câu cay nghiệt “Điếu văn để cho người sống, hồi ký để nói hay cho mình”, ở ta hai “thể loại” trên đều sống khoẻ, và đều “có họ gần” với tự truyện kiểu Vân. Nói thế để thấy cái xu thế “đem chuyện nhà mình ra kể” sẽ thành tự nhiên nay mai. Nhưng trước mắt, trong quãng “nay mai gần” thì còn khó: một nữ nghệ sĩ nhân dân đã bỏ trên chục triệu đặt nhà văn nọ chấp bút tự truyện cho mình, bản thảo xong rồi chuẩn bị in thì rút lại: sợ bị dư luận “phang” như Lê Vân.
Sang năm 2007, lượng “phép thử” càng nhiều, do người ta am tường cái thế giới xung quanh mình hơn, biểu thị phản ứng cũng dễ hơn. Sôi nổi nhất vẫn là cái “mô típ” “người của công chúng”: vụ Vàng Anh. Chương trình “Nhật ký Vàng Anh” làm chăm chút, phát trên VTV đang bắt mắt khán giả thì đoạn “phim” quay cảnh làm tình của TL, cô diễn viên chính xinh xẻo bị đưa lên mạng. “Xì căng đan” lớn quá. Chương trình phải ngưng bằng một buổi từ biệt, tất nhiên có cáo lỗi (nhân vật chính không gọi đó là “tội”); lại một dịp gây sự kiện nữa. Đến nỗi mà có ông lão chả biết sự tình chi chi, nhầm nhà thơ Phan Thị Vàng Anh, người được giải của Hội Nhà văn Hà Nội sau đó là cái cô Vàng Anh nọ.
Trở lại với dư luận xung quanh vụ này. Nhiều người phê phán diễn viên TL đóng Vàng Anh “đồi truỵ”, “nêu gương xấu”. Khá rôm rả và khái quát là những “quan điểm” trên một trang cá nhân, dưới hình thức đưa cả lời qua lẫn tiếng lại:
- “Nghệ sĩ không phải mẫu gia giáo, không nên xem đây là “sụp đổ thần tượng”. Nếu không phải thần tượng thì không phải giữ gìn ư?”.
- “Sao VTV3 dành cho TL một buổi chia tay, mà không có vụ sập cầu Cần Thơ?” - “Thì VTV3 là kênh giải trí cơ mà!”.
- “Đài báo sao ỉm vụ này đi? Để người có liên quan dùng ảnh hưởng dẹp đìa?” - “Cuộc sống còn khối chuyện còn phải nhắc. Đó là quyền được thông tin của dân, và quyền được tôn trọng tự do cá nhân. Moi móc không phải là để đáp ứng quyền được thông tin”.
-“Hành vi phát tán hình ảnh (sex) qua internet là phạm pháp rồi. Còn giao cấu và quay hình không phạm pháp. Mà văn hoá, đạo đức phương Đông không bất biến đâu. “Tây sương ký” chả ăn cơm trước kẻng a?”.
- “Bạn có thể không tha thứ cho TL, nhưng không thể bắt nó như bạn muốn”. “Cho rằng TL có trách nhiệm giữ đạo đức vì là người của công chúng là giả dối. Cho những quan niệm truyền thống vẫn còn nguyên giá trị là nhầm lẫn!”.
(Địa chỉ: http://svnhanvan.org)
Trang http://nguyenquanghuy.wordpress.com, sau khi “mô tả” về việc thông tin trên các báo đã “thỏ thẻ”: “Với mình, báo chí cũng nh một người “lắm chuyện”, ta nên tin tưởng có chừng mực. Phải hết sức tỉnh táo”.
Vụ Vàng Anh làm nhiều người nghĩ đến Văn Quyến. Cả hai đều còn trẻ, hồn nhiên trong hành xử. Cô gái nghĩ đơn giản là sẵn máy điện thoại thì ghi lại chuyện ấy của mình, rồi mất vai, phải đi tìm việc. Còn chàng cầu thủ đội tuyển vương vào lao lý vì “đằng nào mình cũng thắng, cho nó một bàn kiếm bạc triệu có sao!”. Cái giá cả hai phải trả cảnh tỉnh được nhiều ngời đồng lứa đang muốn nổi tiếng bằng cách “cũng” đưa clip sex của mình lên mạng “khoe chơi”. Cậu bạn trai “đóng” chung “phim” với TL bị chửi bới, đe doạ sợ mất mật. Nghĩa là nhìn chung, giới trẻ nhìn nhận sự việc này rất tỉnh táo, chín chắn, phân rõ đâu là “cái chỉ làm ta khinh bỉ chứ không thể tống vào tù”. “Thuốc thử” Vàng Anh, do đó, cũng có thể coi như một liều vác xin tăng cường sức đề kháng cho cộng đồng, ngăn chặn những ai muốn chơi trội, hay đơn giản chỉ là “hồn nhiên” quá.
*
Thế giới mạng không phải chỉ là ảo. Thông tin, té ra tạo xung động có tính chất rất thật. Nếu những tranh luận xung quanh tự truyện Lê Vân, clip Vàng Anh là giữa các cá nhân, thì cũng lại có va đập giữa cá nhân với cơ quan truyền thông nhà nước. Báo điện tử nọ “dựng” chân dung nhà văn Hồ Anh Thái, một bloger đáp trả. Báo nữa đăng phỏng vấn Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ này nhảy chồm chồm lên rằng trả lời của anh bị cắt xén, thay đổi. Mà tất cả những nói đi nói lại ấy ai ai cũng có thể đọc được. Một “vụ” khác không om xòm bằng Lê Vân, Vàng Anh nhưng có diễn biến khá thú vị, là xung quanh Vương Trí Nhàn. Nhà nghiên cứu này vài năm nay giữ mục “Thói hư tật xấu người Việt” trên báo Thể thao & Văn hoá, chủ yếu trích đăng những nhận xét của các vị trí thức đầu thế kỷ XX: Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng bàn về tính ỷ lại, Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh nêu thói “nhất mẹ nhì con” chả cần biết đến bên ngoài thế nào... Rồi trong một lần phát ngôn, ông Nhàn cao hứng “Người Việt là một khối tự phát khổng lồ”. www.vietimes.com, “nhánh” của một báo điện tử “túm” được, bèn tổ chức “trận” phỏng vấn ông Nhàn. Những câu hỏi đưa ra, đại để: “Nước ta đã có những Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... mà còn những thói tật ấy à?”, “Đưa ra như vậy thì bản thân ông có những thói tật ấy không?”, “Ông có nói với con cái mình về những thói tật ấy chứ, và chúng nó có mắc phải không?”... Cuộc phỏng vấn kéo đến phút thứ 24 thì ngưng, ông Nhàn bỏ về vì “Tôi không thể trò chuyện theo kiểu này!”.
Bài đăng ra lập tức có sự hưởng ứng. Khoảng hai chục ý kiến kèm theo, từ các blog trong nước, cho rằng ông Nhàn không có lòng tự trọng dân tộc, không được mở chiến dịch nói xấu người Việt.
Nhưng cái thế giới các nhà báo đang hành nghề lại “phẳng”. Đám bloger ngay lập tức biết chuyện, và ác cái, lại có phương tiện để bầy tỏ chính kiến (đa phần hẳn là trí thức trẻ). Họ kêu báo mạng nọ chơi không hay, “kích động bạn đọc nhẹ dạ”, phê phán lối đặt câu hỏi khi phỏng vấn là “đấm dưới thắt lưng”... Họ tán thành ý của Vương Trí Nhàn, một dân tộc muốn tiến bộ rất cần tự biết nhược điểm của mình, bằng vào cứ “mẹ hát con khen” chả khá được. Lỗ Tấn vạch ra cái xấu của người Trung Hoa mà vẫn được tôn vinh đấy chứ. Và tác phẩm “Người Mỹ xấu xí” rất là được các “đối tượng phê bình” quý trọng. Phải mạnh mẽ nhìn thẳng vào các thói tật mới được!
Chả biết có bao nhiêu blog “phản hồi” lại, và phản hồi như thế nào, mà sau đó vietimes. com nhanh chóng “bóc” ngay cái trang phỏng vấn nọ. Sự kiện này cho thấy tính chất “phẳng” của thế giới ngày nay. Hầu như ngoài địa hạt chính trị, người ta đều có thể tham gia vào thông tin một cách bình đẳng, sòng phẳng. Cái phong cảnh “vừa thổi còi vừa đá bóng”, “tay này múa tay kia vỗ”, “cả vú lấp miệng em”, “mẹ hát con khen hay” rất khó kéo dài. Cuộc can thiệp của giới truyền thông vào hoạt động của cơ quan điều hành bóng đá đỉnh cao dai dẳng và dữ đến độ (nghe nói) các vị đứng đầu ở đấy bảo “cứ đọc báo thì chả dám làm gì!”.
Thông tin biến cái không thể thành có thể, cái tưởng như bất biến thay đổi hình trạng. Đa chiều, cởi mở, “khoáng đạt”, nó lại đặt ra những vấn đề khác, không phải chỉ là chuyện “giới hạn đến đâu” cho giới quản lý, mà còn cả đạo đức, văn hoá... của người được nói. Báo nọ đòi treo giò cầu thủ đuổi đánh trọng tài, mấy tháng sau, khi án kỷ luật vẫn còn, lại lớn tiếng “sao không đưa anh này vào đội tuyển?”. “Thủ thuật” tìm sự kiện ”thổi” cho to lên được dùng nhiều. Và không ít bloger, vì muốn nhiều người truy cập đã “nhấn mạnh”, “đẩy tới” cái điều mình định nói lên, làm giảm tính chất thật thà cần phải có của “thể loại” “nhật ký cá nhân”.
Rối nhiễu thông tin, cộng đồng bối rối, hẳn thế. Nên chi một người có tuổi nhận xét: “Dân đô thị sướng vụt lên sau một thời nghèo khó thì lại phải trả giá cho “trình độ hưởng sướng” thấp của mình. Vì được ăn được uống thả phanh, những căn bệnh “của người giàu” như gút, tiểu đường, béo phì lan tràn. Cũng vậy, sau giai đoạn thông tin nhỏ giọt, có kiểm soát, định hướng, người ta dễ “rối loạn tiêu hoá” (về tâm lý) khi bỗng nhiên bể cả thông tin ập đến quá tràn trề, đa chiều, khiến ngạc nhiên, khiến bối rối, hoang mang, cái gì cũng “ô thế à?”. Nghĩa là bội thực về thông tin cũng gây bệnh chứ chả phải riêng do rượu thịt ê hề quá”.
Đó là một nhận xét chí lý, nếu xét riêng ở đô thị. Còn nếu kể cả nông thôn, nó làm một người con ra thành phố chưa lâu, trở về nhà đã thấy nhận thức của mình khác xa của phụ huynh nhiều lắm. Có nghĩa là, cái sự cách biệt về thông tin ở trung tâm lớn với các vùng quê cũng mênh mông vô kể.
Dù sao, nhìn đại thể, xã hội lành mạnh, được hưởng lợi nhiều hơn khi thông tin phát triển. Đặt ra thách đố về quản lý, nó làm số đông biết mình biết người, “tiện” cho sự hoà nhập.
Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2010
10/10 - Hà Nội Ngày trở về
Hà Nội Ngày Trở Về - Phú Quang
Tôi vội vã trở về
Lấy cho mình dù chỉ là chút bóng đêm trên đường phố quen
Dù chỉ là 1 chiều hương giăng lối cũ
Tôi bồi hồi khi chạm bóng cửa Ô
Như ngày xưa mỗi lần chạm vai gầy áo mẹ
Ôi nỗi nhớ muôn đời vẫn thế
Như giòng sông Hồng cuộn đỏ mãi trong tôi
Vội vã trở về vội vã ra đi
Chẳng thể nào qua hết từng con phố
Nhưng còn đó mùa thu, mùa thu đầy gió
Và rêu phong bên những gốc cây già
Vội vã trở về cùng tháng năm xưa
Sau những con đường dầu dãi nắng mưa
Bên quán ngọ em buồn nghe lá trút
Chiều mưa sa giăng kín phố dài
Hà Nội ơi, mỗi khi lòng xác xơ
Tôi vội vã trở về để nghe tim rưng rưng trong nước hồ thu
Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010
Ca khúc về Hà Nội
Nhớ tuổi thơ Hà Nội – Đức Chính
Nhớ vô cùng ngày tôi xa Hà Nội
Những phố phường tuổi thơ tôi bồi hồi
Phố Hàng Lược chợ hoa, phố Hàng Đào lụa tơ
Đất Thăng Long người ơi
Mái nhà nào chờ tôi
Bài hát của tôi, làn gió của tôi
Những phố phường tuổi thơ tôi bồi hồi
Phố Hàng Lược chợ hoa, phố Hàng Đào lụa tơ
Đất Thăng Long người ơi
Mái nhà nào chờ tôi
Bài hát của tôi, làn gió của tôi
Những tháng ngày tuổi thơ tôi - Hà Nội
Những chiều chiều đội mưa
Lũ bạn bè ngày xưa
Trốn học đi tìm thơ
Trái tim tôi mộng mơ.
Bài hát mùa đông, làn gió mùa đông
Phía sông Hồng
Những cánh buồm, những cánh buồm nâu
Những con thuyền dắt nhau về đâu
Bãi dâu chiều khuất xa.
Mãi vẫn là tuổi thơ tôi - Hà Nội
Dáng hiền từ, Bà tôi, dắt tôi trong chiều nghiêng
Mãi mãi truyện thần tiên
Đất Thăng Long hùng thiêng
Còn đó tuổi thơ, còn mãi ngày xưa
Sóng Tây Hồ
Tiếng chuông chùa khuất xa thật xa
Những mái nhà ngói xô bài ca
Những gì đã qua lại bao la vọng về
Những gì đã qua lại bao la một chiều
Mãi vẫn là tuổi thơ tôi - Hà Nội..
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)