Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2008

THẦN DƯỢC CỨU MỆNH - 4(tiếp theo)

Tôi định chép hết cả bài báo của Ông Định, nhưng thấy một số bạn muốn biết ngay bài thuốc nên tôi chép luôn phần 4 của bài báo. Trong khi chép lại, thấy có một số chỗ hơi gợn về từ ngữ, nhưng tôi trung thành chép nguyên không thay đổi theo ý mình hiểu, sợ bản thân chưa nắm hết sẽ hiểu sai ý tác giả. KT

Bỏ mất cơ hội đó, tôi cứ tiếc mãi. Suốt 27 năm qua, cứ mỗi lần đọc báo, xem đài, nghe thấy tin dịch bệnh vẫn hoành hành, các cháu vẫn chết. Vào bệnh viện thấy các cháu nhỏ hôn mê sâu, nằm im như xác chết xanh lè, là tôi không sao cầm được nước mắt. Có lần đang ăn cơm mà tôi phải buông đũa rồi khóc nức nở như trẻ nhỏ. Một lần, kiềm không được lòng mình, tôi đã la lên: Trời ơi! Thuốc đây! Có thuốc đây, tại sao các cháu vẫn chết, hỡi trời?
Gần 30 năm đã trôi qua, mà tôi cứ tự trách mình, tự dằn vặt mãi. Cứ mãi cho rằng do tôi, năm đó tôi đã thiếu trách nhiệm, đã thiếu dũng cảm mà nên. Khổ nỗi ở nước ta, nhiều người vẫn còn gớm con trùn cho nên bài thuốc vẫn không được dùng rộng rãi?
Cuối cùng tôi quyết phải cố gắng viết, đưa vấn đề này lên mặt báo, để bài "Thần dược cứu mệnh" đến tận tay đồng bào, nhất là bà con ở các vùng xa xôi hẻo lánh, đường đi tới bệnh viện có khó khăn, người ta buộc lòng phải tự làm để cứu mạng người thân. Nếu có hàng trăm, hàng ngàn người được cứu sống, thì bài thuốc này sẽ được khẳng định.
Hoặc giả, trong cả triệu nhà chuyên môn, nhà nghiên cứu sẽ có những người tin tưởng nó, dùng nó để trị bệnh, dùng nó để chế thuốc tiêm, tiện dùng hơn, hiệu quả hơn.
Nếu thật sự có những vị như thế, trong nước như ngoài nước thì khi các vị cần tôi hợp tác, tôi sẽ luôn luôn sẵn sàng làm bất cứ việc gì, đi bất cứ nơi đâu.
Bài thuốc gồm 3 vị : Trùn đất, đậu đen, bù ngót. Trong quá trình trị bệnh cứu người, tôi có gia thêm vị thứ tư là đậu xanh. Vì tôi nghĩ: đào trùn có khi ở gốc chuối, có thể có những chai lọ hóa chất, hoặc trùn đào tại các cây có độc như xương rồng, sầu đâu, chùm ruột, ít nhiều bị nhiễm độc, sẽ có đậu xanh giải độc.
Từ khi tôi thêm vị đậu xanh, năm 1954 đến nay, thuốc vẫn đẩy lùi bệnh sau 65 phút, y như thang gốc. Nghĩa là hầu hết các trường hợp cứu bệnh tôi kể trên, thuốc đều có 4 vị, tức có thêm đậu xanh.
Bài thuốc như sau:
1/Địa long 50g mỗi thang, tương đương 50 con trùn tươi (Xin mách : ở khu chợ thuốc bắc, đường Hải Thượng Lãn Ông Chơ Lớn lúc nào cũng sẵn, muốn mua cả tạ cũng có ). Nếu không có điều kiện mua Địa Long thì đào trùn tươi (loại màu sẫm rất dai, đào trúng nó, nó không giãy co lại thành 1 núi tròn). 50 con cho liều người lớn hoặc từ 15-16 tuổi trở lên. 30 con cho trẻ từ 5-6 tuổi đến 13-14 tuổi. 20 con cho trẻ từ 1-2 tháng tuổi đến 5-6 tuổi.
2/ Đậu đen, đậu xanh mỗi thứ 100g (sách cổ ghi: 1 bụm to).
3/ Rau bù ngot bằng 2-3 mớ bán ở chợ, khoảng 200-300g, băm nhỏ cả cọng và lá.
Trùn rọc ra, rủa sạch sao thơm giòn, giã nhỏ. Đậu và rau sao thơm, tất cả cho vào siêu hoặc nồi đất hay nồi nhôm gang đều được. Cho vào 4 chén nước, sắc còn 1/2 hoặc 1/3 chén cho người bất tỉnh, phải cạy răng đổ. Thuốc nầy uống 1 thang cũng thấy hết bệnh, nhưng tôi thường cho uống 3 thang trong 3 ngày (tối nước nhất, sáng nước nhì). Hai thang sau để trừ căn và triệt các di chứng (như tai biến mạch máu não có thể di chứng câm, què quặt tay chân, hư mặt, tai ... sốt xuất huyết dễ hư tim, óc ... ) cho nên khi uống thang thứ 2, thứ 3, bệnh nhân đã tỉnh táo. Thuốc có thể pha đường cho dễ uống. Bù ngót sao thật khô giòn, thuốc sẽ có vị thuốc bắc. Bù ngót để tươi sắc không sao, nước thuốc giống chè đậu đen pha đường uống rất ngon.
Thuốc nầy bệnh càng nặng càng thấy rõ hiệu quả 65 phút. Bệnh nhẹ ít thấy rõ kết quả 65 phút, nhưng bệnh vẫn lui. Ở Đại Hàn (Nam Triều Tiên) là xứ sở nhân sâm Caoly, mà người ta còn tẩm bổ bằng cháo trùn. Ở nước ta các dân tộc miền núi phía Bắc trị bụng báng trướng nước bằng cách : trùn băm nhỏ để tươi, trộn với sữa, cứ để thế múc nuốt. Triều Tiên thì cháo trùn là món ăn ngon (đặc sản) chứ không chỉ là món thuốc vừa tẩm bổ vừa trị bá bệnh. Trùn băm nhuyễn, xào thơm, nấu với đậu. Vì quý chất bổ và chất trị bá bệnh của con trùn nên người ta đâu có gớm nó. Huống hồ khi cần trị bệnh nan y hoặc giành giật mạng sống từ tay thần chết, thì có gì mà gớm? Mong rằng đồng bào và các cơ sở y tế hãy mạnh dạn dùng nó trong các bệnh siêu vi trùng, kể cả sida.
Nhân đây tôi xin nói rõ thêm hội nghị tổng kết chống bệnh sốt xuất huyết đợt 1 họp năm 1970. Thông tin nầy được đưa ra toàn thế giới. Nước Nhật nghiên cứu, ứng dụng điều trị. Đến năm 1972, đọc trên tạp chí Đông y của Việt Nam (in bằng khổ quyển Kiến thức ngày nay) tôi thấy có dịch và in lại những bài trong tạp chí Đông y Nhật Bản. Họ hết lời ca ngợi "bài thuốc con trùn của Việt Nam", dùng trị siêu vi trùng rất có hiệu quả. Có lẽ do công bố đó của Nhật mà sanh ra món cháo trùn ở Đại Hàn chăng? Tôi còn nghe một người từ Mỹ về nói bên đó người ta làm thuốc bằng trùn và đậu đen. Điều đó không rõ thực hư thế nào. Nhưng điều chắc chắn là Liên hiệp quốc, trong mấy năm trước đây, có chủ trương: "Tìm về cội nguồn các dân tộc kém phát triển, để học cách trị bệnh bằng cỏ cây và côn trùng". Do đó, ta thường thấy trên tivi và báo chí các cách trị bệnh kỳ lạ của dân da đen, da đỏ.
Càng nghĩ tới các điều đó, tôi càng thấy đau lòng, nhớ lại đề nghị của bác Ba Hưởng muốn tôi bào chế toa thuốc thành thuốc tiêm. Đúng là "không sao kéo lùi lại thời gian đã qua". Nhưng việc bào chế thuốc đó thành thuốc chai (để thêm acid benzoide bột) hoặc chưng cất nó như cất rượu, dù có trễ gần 30 năm, nhưng lúc nào bắt đầu, nó vẫn là việc mới, việc hết sức cần thiết.
Tôi tuy tuổi đã cao nhưng vẫn còn muốn đóng góp. Các cơ sở nghiên cứu, bệnh viện hoặc bệnh nhân cần tôi, tôi vẫn sẵn sàng phục vụ. Ngoài toa "Thần dược cứu mệnh", tôi còn trong tay nhiều bài thuốc quý khác. Ví dụ: bó xương gãy, kể cả xương sống dập nát và xương đòn gánh gãy lìa, chỉ cần thời gian 15 ngày. Bản thân tôi bị dập nát 2 đốt xương sống, quân y Quân khu 9 bó tay, báo tử về đơn vị, nhưng tôi nay vẫn sống mà không tật nguyền, vẫn tập tạ 50kg và đánh quần vợt khi tôi trên 40 tuổi, đang ở nước ngoài có độ lạnh âm 20 độ. Lúc trị lành 2 đốt xương sống không có kẹp nẹp bó bột gì hết. Chỉ nằm sấp dội thuốc nóng vào lưng suốt 15 ngày đêm. Sang ngày thứ 16 tôi ngồi dậy và đi ra đồng cả trăm mét. Nếu tôi có dịp, tôi sẽ lần lượt giới thiệu nhiều bài thuốc quý trên báo để phục vụ bạn đọc.
Dưới đây, tôi cũng xin ghi rõ địa chỉ và số điện thoại của mình, để bạn đọc tiện liên hệ trao đổi thêm về nội dung bài viết. NGUYỄN AN ĐỊNH, (40/10 Hậu Lân-Bà Điểm-Hóc Môn-TPHCM) - ĐT 8914379.

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2008

THẦN DƯỢC CỨU MỆNH

THẦN DƯỢC CỨU MỆNH - 2 (tiếp theo)

Cuối năm 1969, ở Hà Nội có đợt dịch bệnh gọi là sốt xuất huyết, được xác định xuất hiện lần đầu tiên ở nước ta. Các cháu nhỏ chết la liệt, tại bệnh viện lớn có ngày 15-17 cháu chết. Nghe nói có dịch bệnh gây chết tràn lan, tôi đến các bệnh viện xem. Thấy các dạng bệnh giống y như tôi đã từng gặp, tôi viết ngay một bài, nói rõ về bệnh và phổ biến bài thuốc "Thần dược cứu mệnh", gởi lên Bộ trưởng Bộ Y tế lúc bấy giờ là bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng. Bác gởi phổ biến đi các tỉnh, đồng thời gởi đăng ngay trên báo "Hà Nội mới". Trong bài viết của tôi có câu:
"Đề nghị dùng thuốc này cho các ca bệnh nặng nhất. Bảo đảm 100% sẽ không có tử vong". Bác sĩ Hưởng đã xóa bỏ đoạn "... Bảo đảm 100%...". Đọc báo thấy mất đoạn đó, tôi chạy ngay đến nhà bác Bộ trưởng. Tôi nói:
- Thưa bác, bác bỏ mất đoạn quan trọng nhất trong bài của cháu. Vì cháu nghĩ, vị chủ của bài thuốc nầy là con trùn, nên nó dễ gây ngại dùng. Bắt con trùn còn gớm, làm thuốc càng ớn hơn, vì vậy để câu đó, người ta tin chắc chắn nó sẽ cứu sống người bệnh, do đó người ta ráng không gớm, ráng bằng mọi giá làm thuốc để cứu bệnh nhân.
Bác Hưởng nói:
- Giả dụ người bệnh đến giờ phải chết, 5-10 phút nữa sẽ chết, mà thuốc của cháu lại cần đến 60 phút mới cứu sống. Vậy làm sao bảo đảm 100% được? Thận trọng vẫn hơn cháu à. Trong ngành y không nên nói câu đó.
- Thưa bác, nhưng kinh nghiệm thực tế của cháu đã cho thấy rõ, thuốc có uống khỏi cổ là đã chắc sẽ sống rồi.
Bác Hưởng không bằng lòng nên nói:
- Tôi nhắc lại, ngành y không cho phép nói bảo đảm cứu sống 100%.
Bác cháu tôi tranh luận như vậy. Nhưng vài tháng sau, đến Hội nghị tổng kết dịch sốt xuất huyết toàn miền Bắc, do Sở Y tế Hà Nội tổ chức, tôi nhận được thư mời của đồng chí Giám đốc Sở Y tế Hà Nội. Trong giấy mời đồng chí viết:
- Trong cuộc chống dịch sốt xuất huyết vừa qua, Bộ có sử dụng bốn bài thuốc Nam do nhân dân đóng góp. Nói chung, thuốc Nam trị bệnh này đạt hiệu quả rõ ràng và nhanh chóng hơn Tây y. Tuy nhiên, trong các bệnh nhân dùng ba bài thuốc kia, vẫn có những ca tử vong. Duy chỉ có bài "trùn đất" của đồng chí là cứu sống 100%, không có ca tử vong nào. Mặc dù bài thuốc đó đã dùng cho tất cả các bệnh nhân nặng nhất. Vì vậy, mời đồng chí dự hội nghị tổng kết. Đặc biệt mời đồng chí báo cáo với hội nghị một số vấn đề mà chúng tôi muốn biết. Ví dụ: tại sao đồng chí biết dùng năng lượng của dòng điện 12 von để gọi thức thần kinh trung ương của bệnh nhân hôn mê sâu. Mà lại nói được: sau khi nạp điện lần thứ năm thì bệnh nhân tỉnh dậy?
- Còn một số vấn đề khác, chúng tôi cũng xin đồng chí cho biết rõ hơn. Ví dụ vấn đề 63-65 phút, có trường hợp nào khác đi, kéo dài hơn không? Ngoài bệnh sốt xuất huyết, thuốc còn trị được các bệnh nào khác?
Cuộc họp đó có khoảng hơn 200 người đến dự, gồm Hội đồng Kỹ thuật của Bộ, các giám đốc bệnh viện quận và huyện ngoại thành, các lương y và sư sãi tham gia trị bệnh cứu người. Báo cáo của tôi trả lời các câu hỏi của đồng chí giám đốc sở cùng nhiều câu hỏi khác, đã được hội nghị vỗ tay hoan hô hồi lâu.
Sau hôi nghị đó, bác Hưởng mời tôi tới nhà bác và gợi ý:
- Tôi muốn đề nghị với Bộ Văn hóa biệt phái cháu về Viện Đông y trong thời gian 3-5 năm. Ỡ Viện, tôi sẽ cử cháu phụ trách một tổ nghiên cứu gồm nhiều phó tiến sĩ y dược. Cháu cùng các vị đó sẽ bào chế, biến bài thuốc của cháu thành thuốc chai để uống, sau đó tiến tới biến thuốc thành dạng nước trong cho vào ampoule để chích. Chế được thuốc tiêm, ta sẽ đưa đi điều trị cho bảy - tám chục bệnh nhân. Nếu thời gian chấm dứt các hiện tượng làm sáng tỏ vấn đề là 63-65 phút như thuốc thang, coi như ta thành công. Chừng đó bác sẽ cho sản xuất đại trà, bán rộng ra nước ngoài. Bác sẽ để tên thuốc là AV, ngầm hiểu là antivirus. Vì hiện nay trên thế giới người ta cho là "chưa có thuốc đặc hiệu trị siêu vi trùng", cho nên ta chưa dám đề rõ nguyên chữ antivirus. Khi nào thiên hạ dùng nhiều và xác định thuốc này diệt siêu vi trùng rất có kết quả, lúc đó tự họ sẽ cho thuốc của ta là antivirus.
Hồi đó tôi mới lấy xong bằng đại hoc nghệ thuật từ nước ngoài, mới về nước, nên còn mê công tác văn học nghệ thuật. Chưa biết say mê ngành y, cho nên đã từ chối lời mời của bác Bộ trưởng Bô Y tế, kiêm Viện trưởng Viện Đông y. Tôi nói:
- Thưa bác, cháu làm tổ trưởng tổ nghiên cứu thì làm sao các vị phó tiến sĩ y dược nghe theo lời cháu. Đã lập một tổ chức gồm toàn các vị có chuyên môn cao, sao bác không ra lệnh cho các vị chịu trách nhiệm bào chế cho thành công? Làm như vậy có phải tốt hơn không?
- Cháu ơi, vấn đề phức tạp lắm. Phải nói thật, mặc dù Đảng bảo phải coi trọng Đông y, nhưng những người có học vị cao, đã có mấy người thật sự tin tưởng Đông y! Hơn nữa, bài thuốc của cháu gồm bốn vị, thì con trùn đất dễ bị người ta gớm. Còn ba vị kia: đậu đen, đậu xanh, rau bù ngót, rất dễ làm cho người ta coi thường. Do hai đặc điểm đó nên bài thuốc của cháu có thể khiến người ta thiếu quyết tâm nghiên cứu thật đến nơi đến chốn. Chỉ có cháu, người đã có kinh nghiệm thực tế, đã từng cứu sống hàng trăm người, giành giật họ lại từ tay thần chết, thì cháu mới có đủ quyết tâm và lòng tin, để đưa cuộc nghiên cứu đến thành công. Bác tin cháu, cử cháu làm, bác phải có trách nhiệm theo dõi sát và buộc mọi người phải làm đúng theo lời cháu. Với bài thuốc đó, bác tin là thời gian hoàn thành công trình sẽ rất ngắn. Bởi vì, đặc điểm 65 phút của nó rất đặc biệt. Nó xác định xác bước nghiên cứu của ta bằng cách xem giờ. Bác tin rằng có thể chỉ một năm, ta sẽ hoàn thành công trình này.
Bác Bộ trưởng rất tin ở bài thuốc, tin ở tôi, từng lời bác mang nhiều ý nghĩa khích lệ, động viên tôi dũng cảm nhận trách nhiệm lớn. Tuy nhiên, tôi vẫn ngại, cái lo ngại tự nhiên của một người mặc dù có kinh nghiệm thực tế không phải ít, có đọc sách trình độ cao, nhưng chưa được học có hệ thống lý luận nghiệp vụ chính quy trường lớp.
(còn tiếp)

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2008

THÔNG BÁO

THÔNG BÁO MỜI GẶP MẶT THƯỜNG NIÊN

Ban Liên lạc khóa 3 ( Khu vực TP HCM )Trừơng TSQ Nguyễn Văn Trỗi đã họp trù bị vào tối thứ 3, ngày 22 tháng 7 năm 2008 và ra quyết nghị:
- Tổ chức họp mặt thường niên toàn thể các bạn khóa 3 vào trưa chủ nhật, ngày 10 tháng 8 năm 2008.
- Địa điểm Nhà hàng Cây đa, đường Đào Duy Anh, quận Phú Nhuận ( đường vào Đoàn Nghệ thuật quân khu 7 )
- Nội dung: Mừng kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ. Báo cáo tình hình họat động năm vừa qua, đóng góp ý kiến và bàn phương hướng hoạt động tiếp theo. Công khai tài chính hoạt động trong năm ). Quyên góp xây dưng nhà văn hóa xã An Mỹ - Đại Từ.
BLL đề nghị các bạn sắp xếp thời gian để có mặt dự đông đủ.

Thay mặt BLL : Nguyễn Khánh Tường

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2008

Nhóm bạn K3 của tôi.

Chiều (21/07), Bình ngọng gọi điện hẹn hết giờ ra Jodee! Cũng không có gì lạ, hội K3 (toàn quốc) hiện nay còn khoảng hơn chục tên đang còn đương chức nhưng chỉ hết năm nay hoặc cùng lắm năm sau là về vườn hết, vậy nên có dịp là kêu nhau tụ tập. Chúng tôi là một nhóm sống hoặc làm việc ở vùng đất xưa kia là Gia Định (Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình...) . Cũng đúng thôi, vì chúng tôi đều là bộ đội, một số ở Viện KTQS có người thì ở QK7 hoặc các nhà máy QP lớn như z751. Hôm nay tôi đến trễ nhất nên không rõ lý do buổi nhậu. Tuy nhiên cũng tranh thủ cơ hội để giới thiệu thêm về các bạn K3 của tôi.
Nhóm bạn vùng Gia Định, thiếu mất vài chiến sỹ - Tạ Chiến, nguyên giám đốc xí nghiệp súng pháo 751 vừa nhận quyết định hưu là nhảy ra làm phó giám đốc hãng Bê tông tươi (không phải Beer tươi) Mekong - có lẽ do sợ không đủ công trình cho pháo của mình bắn! TS Tuấn Linh ra Hà nội lo tang lễ mẹ, về đến SG lại vô 175 điều trị. Kỳ Nghĩa mẹ cũng mới mất không tới được. Khánh Tường vì đang đương chức nên chỉ nhậu trong giờ LV!Võ Duy Kiên ba mới mất, nhưng đó không phải lí do chính vì bình thường ra đ/c này hầu như không tới những buổi nhậu như vầy - K9 - sếp của DK chỉ ủng hộ tenis không khuyến khích RB!
Mạnh Đức và Quốc Dũng - Những dịp như thế này, Q Dũng là người chủ chi - các Tổng giám đốc thường có đủ điều kiện thỏa mãn các niềm vui của AE! M Đức thì các bạn đều đã biết - có nhà mặt tiền nhưng không thích tiền mặt! chỉ thú cây cá kiểng và làm truyện tranh cho các teen (đôi khi cả ba mẹ các teen, dạng như tk8...). Quốc Dũng lại khác nha, đây là VIP đúng nghĩa - chỉ lo lương cho công nhân viên không thôi cũng hàng tỷ mỗi tháng. Có được như hôm nay, đ/c TGD cũng phải từng lăn lộn ở biên giới Tây Nam rồi biên giới Phía Bắc với nhiều hồi ức và suy ngẫm mà có lẽ khi nào thôi công tác mới kể được. Nói như các bạn, QD cũng là người điển hình có "Tính Trỗi" vì kiên định bám thành phố mang tên Bác không chịu lên  chức để ra TW theo đề nghị của các quan anh.

Xem hình này là biết ngay ai đang đương chức, tên nào đã về vườn!


Cheer! chúc sức khỏe! Minh Chính tuy chuyển ngành đã lâu nhưng vẫn yêu tấm áo màu xanh. Nhân vật này các bạn cũng đã biết : Ông bố của tình hữu nghị Việt-Trung!  MC tốt nghiệp sỹ quan kỹ thuật pháo binh Penza , do quen biết bác cục trưởng cục cán bộ nên khi tốt nghiệp về nước được vô Hải Quân, ra đảo. Sau này ra làm giám đốc công ty Thiết bị trường học của bộ Giáo dục và Đào tạo.

Còn lại hai nhân vật quen thuộc từ những phóng sự ảnh trước của tôi. Gã  đầu bạn thứ 3 của K3: Dũng Cố đạo. Là doanh nhân cỡ bự (hay ít ra cũng là ông anh của doanh nhân cỡ bự - điều này các bạn K6 biết rõ hơn tôi). Dũng tốt nghiệp khoa Vũ khí - ĐHKTQS (cái này thì tôi lại không rành bằng bác Chí anh vì tôi không học ở Học viện). Đã từng là vua lúa gạo của Miền Tậy thời kỳ đổi mới. Và cuối cùng là Bình ngọng mà lẽ ra, nếu như tôi trở thành blogger bantroi sớm một năm thì tôi đã phải giới thiệu nhân vật này ngay từ đầu (cho dù QD vẫn chủ chi) vì khi đó Bình ngọng còn đương chức trưởng ban Liên lạc K3 HCM.Nhưng không sao, cho đến thời điểm này, Bình ngọng vẫn luôn là người chủ trì những buổi như thế này. Đoàn Bình là một nhân vật rất đặc biệt của khóa 3. Trong SRTKL-1 bác Chí anh đã có 1 bài đánh giá K3 có nhiều cái nhất ở trường ta, nhưng trong khóa 3 thì Đoàn Bình lại là một trong những điển hình (theo những tiêu chí đánh giá của bác Chí : tích cực - tiêu cực!). Các bạn sẽ sớm biết được câu chuyện của Bình ngọng, tôi chỉ xin tóm tắt: Đi bộ đội từ thời chúng tôi còn mài đũng quần ở Quế Lâm, 10 lần nhận danh hiệu dũng sỹ diệt Mỹ, ra bắc học chỉ huy phòng không, trở lại chiến trường chiến đấu, hết chiến tranh làm ở phòng Phòng không QK7, về hưu sớm - trở thành doanh nhân khi ở ta mới chỉ bắt đầu hình thành kinh tế thị trường. Là một người cá tính mạnh nhưng cũng rất tình cảm với bạn bè, chiến hữu. Còn gã đầu bạc thứ 4 của k3 là tui đây, cũng có mặt ở hình trên cùng - do em nhân viên nhà hàng Jodee chụp. Trông em thế nào ư? xin xem hình dưới đây.

 
Hình chộp không đúng trọng tâm lắm, muốn rõ hơn hãy tới Jodee - tầng trệt!

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2008

Thần dược cứu mệnh

Năm 1997 thầy Đinh Khắc Tư có photo cho tôi một bài báo, đăng trên Báo Long An tháng 4 năm 1997, nhan đề là "Thần dược cứu mệnh". Tác giả là Lương y Nguyễn An Định, địa chỉ 40/10 Hậu Lân - Bà Điểm Hóc Môn TP HCM, điện thoại 8914379 (đây là đc và đt từ năm 1997). Bài báo đã được photo nhiều lần nên hơi mờ, nếu Scan lần nữa thì không rõ nên tôi quyết định chép lại và gửi lên blog cho mọi người tham khảo, vì theo như tác giả thì bài thuốc này có thể chữa được rất nhiều bệnh hiểm nghèo, mà vị thuốc cũng không khó tìm lắm.

THẦN DƯỢC CỨU MỆNH
( Bài đăng trên báo Long An - thứ năm từ 21-4 đến 24-4 1997,
năm thứ ba mưoi bốn, số 29/97 (1509)
LTS: Ông Nguyễn An Định, cộng tác viên của Báo Long An, hiện nghỉ hưu tại TP.HCM. Với tấm lòng thiết tha với vốn quý y học cổ truyền, lại thêm mối cảm tình với nghề y trong gia tộc (ông là trưởng nam của nhà ái quốc Nguyễn An Ninh), từng có lúc hành nghề y dược. Vừa qua ông có bài viết sau đây; chúng tôi xin giới thiệu, như một tư liệu để bạn đọc tham khảo. Tác giả và tòa soạn báo rất mong nhận được ý kiến đánh giá của các nhà chuyên môn về nội dung y dược học nêu trong bài viết.
THẦN DƯỢC CỨU MỆNH
Có quyển sách thuốc Nam, in đầu thế kỷ 20 mang tên "Thần dược cứu mệnh", giới thiệu một bài thuốc thần "cứu người sau bốn khắc". Trong quyển "Hai trăm bài thuốc quý" của ông Lê Văn Tĩnh, Sa Đéc, in khoảng năm 1940, cũng có một bài giống y như vậy, đề là "chủ trị lâm ban, ôn dịch và các bệnh nan y, công hiệu như thần, bệnh lui sau 60 phút".
Quyển "Thần dược cứu mệnh" mở đầu bằng câu "Con người dẫm lên thuốc thần mà không biết, nên vẫn chết". Vị thuốc thần đó chính là vị thuốc có tên "Địa long" - con rồng trong đất. Ở Trung Quốc và Việt Nam, vị Địa long có mặt trong nhiều thang thuốc trị bệnh hiểm nghèo hoặc để cấp cứu người sắp chết. Nhân dân Hàn Quốc có thói quen ăn cháo Địa long trứơc khi ngủ, để tẩm bổ và để trị bá bệnh. Đêm đêm, cháo Địa long có bán tại các thị trấn và ngay cả ở thủ đô. Gần đây trong thời gian Thế vận hội Olempic Seoul, vì ngại người nước ngoài không hiểu vị thuốc quý mà coi thường nhân dân Nam Hàn, nên Chính phủ đã cấm bán cháo Đia long trong thời gian Thế vận hội. Vậy "Địa long" là gì? Nó chính là con trùn đất, loại có màu sẫm đen, ánh xanh ở cổ, to bằng đầu đũa hoặc to hơn, khi đào trúng nó, nó không giãy giụa, co thành một nùi tròn nằm im.
"Thần dược cứu mệnh" phân tích tính dược của trùn đất, cho rằng nó có khả năng: làm dai mạch máu và dây thần kinh, nối liền các chỗ dây thần kinh bị dứt, các mạch mạu bị nứt rách, hồi phục sự sống cho các tế bào đã bị hoại tử, tách ra và đào thải các tế bào đã chết thối, hết phương phục hồi, vực dậy vô cùng nhanh chóng sức chống trả bệnh tật của con người ( ngày nay gọi là vực dậy sức miễn dịch của cơ thể). Cho nên, chỉ sau sáu mươi phút bệnh phải lui, mọi hiện tượng lâm sàng đều biến mất. Do đó Địa long được dùng và công hiệu rất nhanh chóng trong các trường hợp: cửu khiếu xuất huyết, não bộ xuất huyết, ngũ tạng, lục phủ xuất huyết, phù thận, phù gan, phù toàn thân, phù tim, đột ngột phát điên không rõ nguyên do có sốt hoặc không có sốt, bí đại tiểu tiện, bí trung tiện, bụng báng trướng nước, "mắc đằng dưới" (bạch đới nặng, ngày đêm đáy quần ướt sũng hôi hám, người ốm tong, xanh xao...)
Ở hai quyển sách, hai bài thuốc giống nhau, có một nét đặc biệt nổi bật "bênh lui sáu mươi phút sau khi uống thuốc", mà lại chuyên trị những ca rất khó trị. Ví vậy nói "thần dược cứu mệnh" thật không ngoa chút nào.
Lúc nhỏ tôi rất mê nganh y dược. Các sách chữ Pháp dành cho các y bác sĩ nghiên cứu kỹ về nhi khoa, sản khoa, đa khoa, giải phẫu... đọc rất khó hiểu và rất đắt tiền, tôi cũng ráng mua để nghiên cứu. Hai quyển sách thuốc : "thần dược cứu mệnh" và "200 bài thuốc quý" tôi coi như vàng ngọc. Đi kháng chiến, hai quyển đó nằm dưới đáy ba lô tôi, theo tôi suốt chín năm, giúp tôi trị bệnh cứu người. Chỉ riêng năm 1953 và nửa đầu năm 1954, tôi đã cứu gần trăm người, coi như giật lại từ tay thần chết.
Trong cuộc giành giật đó, có lần tôi đã chạm trán cả với một vị danh y, mà trước đó các nhà điền chủ lớn ở Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu thường đưa xe hơi hoặc ghe máy đến tận nhà để rước ông. Năm đó ở vùng Giáp bốn tỉnh này có một đợt dịch bệnh, phần lớn là các cháu nhỏ từ 9 -10 tuổi đến 15 -17 tuổi, đa số là gái, các cháu trai và người lớn ít bị hơn. Hiện tượng là xuất huyết nội tạng, xuất huyết cửu khiếu, xuất huyết dưới da (nổi vệt đỏ bầm tím, xanh đen khắp người) hôn mê bất tỉnh nằm im như xác chết suốt bảy ngày, có khi lâu hơn, mạch đã lạc không bắt được, hơi thở rật yếu khó nhận thấy, da tái xanh, tay chân lạnh ngắt (nhưng vẫn còn mềm dịu, nếu cứng đơ thì đã bị đem chôn rồi)
Lần đó cháu gái hôn mê đã 8 ngày, mình đầy các vệt tím. Gia đình đã rước được vị danh y nổi tiếng nói trên, nhưng ông đến xong lại từ chối không trị bệnh cho cháu, chỉ vì trong số 30-40 vệt bầm đen trên da cháu, có một vệt đen kịt to bằng đầu ngón tay, nằm đúng giữa hai đầu lông mày. Ông cho đó là điềm báo không thể cứu sống. Sợ mất uy tín thầy, nên ông không hốt thuốc.
Tình cờ tôi đến, thấy má cháu đang quỳ lạy van xin ông cứu cháu, mà ông một mực chối từ. Nghe mạch tại tim, thấy còn tiếng thoi thóp rất yếu, tôi nói:
- Thưa thầy, thầy quyết bỏ, thì con xin phép thầy cho con cứu cháu.
- Em mà cứu được hả? Có thấy vệt đen ngay huyệt Tam tinh không mà em liều mạng vậy? Tôi hỏi em, sau khi em đổ thuốc thì bao lâu cháu tỉnh lại? Em nói được, tôi sẽ để cho em đổ thuốc.
- Thưa thầy bài thuốc của con, cháu uống xong chỉ độ 63-65 phút sau cháu sẽ mở mắt.
Thầy trợn tròn mắt, đỏ mặt tía tai, lườm tôi rồi quát:
- Chủ nhà đâu, đem cho tôi cái đồng hồ bàn.
Ông dằn mạnh đồng hồ lên bàn, nói:
- Được rồi! Có đồng hồ đó. Tôi ở lại coi cháu nhỏ tỉnh dậy.
Có kinh nghiệm cả trăm lần rồi, tôi rất tin ở bài thuốc. Tôi đi nấu rồi cạy răng đổ cho cháu uống. Quả nhiên tới phút 63 cháu mở mắt, đến phút thư 65 cháu đòi đỡ ngồi dậy, đòi uống nước ăn cháo, đòi cho đi tiêu tiểu. Tiếng cháu rất yếu, hai mắt cháu toàn tròng trắng, không thấy tí tròng đen nào. Nhưng tay chân cháu đã ấm, da hết tái xanh. Rõ ràng cháu đã sống lại.
Ông thầy thuốc với hai tay lên đầu, lột khăn đóng xuống chắp tay trước ngực nói:
- Lúc nãy em kêu tôi bằng thầy, bây giờ tôi phải lạy em ba lạy mà kêu em bằng thầy. Xin thầy thông cảm cho, vì thầy trẻ quá, nhỏ hơn con tôi nhiều, do đó tôi không quỳ lạy sợ tổn thọ cho thầy. Tôi chỉ xin xá đủ ba xá thay cho ba lạy.
Nói xong ông trịnh trọng xá tôi ba xá, đầu cúi sâu thật nghiêm túc. Sau đó ông xin tôi bài thuốc.
Năm đó, ngoài các hiện tượng hôn mê sâu nhiều ngày, xuật huyết dưới da, xuất huyết cửu khiếu, xuất huyết nội tạng, xuất huyết não, còn có nhiều ca bệnh khác. Bà nọ phát điên đã 4-5 ngày. Phải vất vả lắm mới đổ được thuốc. Cũng hơn 60 phút bà khỏi hẳn. Ông kia hơn 90 tuổi, cảm gió nằm im sùi bọt mép, mắt trật thị, tay chân lạnh ngắt. Lấy móc tai đâm dưới móng mười ngón tay mút không ra tí máu, máu đã đông. Khi tôi cạy răng đổ thuốc, còn có người nhà nói sau lưng tôi:
- Thuốc hay thì trị được bệnh, chứ cãi làm sao được mệnh của trời. Ông đã trên chín mươi tuổi còn gì. Cứu sao được mà cứu?
Vậy mà sau khi đổ thuốc 65 phút, ông vẫn sống, cãi cả mệnh trời thật!
( Còn tiếp )

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2008

MỘT SỐ HIỂU BIẾT SƠ ĐẲNG VỀ KHÍ CÔNG

III. THỞ KHÍ CÔNG (ĐIỀU TỨC CÔNG)


Bình thường chúng ta quan niệm rằng, sự thở chỉ có hai thì là hít vào và thở ra bằng hai lá phổi. Với khí công, sự thở có một số điểm cần chú ý sau:
1) Hô hấp không chỉ đơn thuần xảy ra ở phổi. Ý nghĩa chính của của quá trình hô hấp bằng phổi chỉ là đưa dưỡng khí vào ở thì hít vào, còn ở thì thở ra là đẩy thán khí ở phổi ra. Với thở khí công, còn xảy ra quá trình đẩy thực khí trong dạ dày ra, thực khí này do thức ăn lên men mà tạo thành.
2) Nhiệt năng trong cơ thể phát sinh từ trái tim ( Tâm Hỏa Cung ), nhiệt năng này cần giáng hạ xuống Đan điền (vùng bụng dưới) để chưng cất tinh khí. Chính việc hít sâu xuống bụng dưới là để thực hiện quá trình Hạ tâm hỏa này.
3) Sự thở khí công được thực hiện qua 4 thì: Hít vào - Nén lại - Thở ra - Ngưng thở. Sự thở này bảo đảm cho hiệu suất hô hấp cao hơn, nhịp thở chậm hơn nên nhịp sinh học giảm xuống do vậy mà kéo dài được tuổi thọ. Ngoài ra, sự thở 4 thì còn đảm bảo cho chu trình khí hóa trong cơ thể, đó là: Hít vào - thu giáng khí; Nén lại - tụ khí ở Đan điền; Thở ra - dẫn khí; Ngưng thở - bình, xả khí.
4) Trong thở khí công khí chỉ đi qua đường mũi, miệng ngậm, đầu lưỡi đặt lên hàm trên. Cách thực hiện như vậy có tác dụng như sau:
- Miệng ngậm, đầu lưỡi đặt lên hàm trên để thông mạch Nhâm - Đốc.
- Thở bằng mũi để thực khí (hô khí) không làm nghịch mạch Nhâm, đồng thời lọc lại chân nhiệt cho cơ thể.
- Miệng ngậm để hãm nhịp hô hấp, để giúp thở sâu, đều và chậm.
5) Thở khí công là hít thật sâu xuống bụng dưới, hít hết cỡ rồi nén lại ở đó. Khi nén đủ rồi cố một chút, rồi thở ra bằng mũi. Khi thở ra hết rồi thì ngưng thở một ít rồi hô hấp trở lại. Điều cốt yếu là làm sao sâu, chậm, đều, các "thì" càng cân bằng càng tốt và chỉ nên cố gắng kéo dài mỗi ngày một chút. Cần chú ý "thì" nén ngưng.
Dưới đây là các bước luyện Điều tức công. Người luyện cần tập đúng từng bước như hướng dẫn trong bài thì rất mau đạt tới kết quả tốt.
BƯỚC 1 : THỞ 2 THÌ
- Ý nghĩa: Luyện thở Sâu - Đều - Chậm. Thanh lọc nhiệt, độc trong hệ Phế, Vị. Đưa khí thường và chân nhiệt xuống được tới Đan điền.
- Thực hiện: Người ngồi ở tư thế thư giãn, bế ngũ quan (mắt nhắm, tai không nghe, miệng ngậm), điều hòa hô hấp, tập trung theo đường thở. Từ từ hít sâu xuống bụng dưới (Đan điền), sau đó từ từ thở ra bằng miệng.
- Lưu ý: Có thể thực hiện bất kỳ lúc nào. Mỗi lần tập ít nhất 10 lượt thở. Khi hít vào cố hơn khả năng bình thường một chút ( không cố gắng quá ). Khi thở ra từ từ chậm lại một chút và dần kéo dài thời gian thở thêm. Thời gian đầu nâng cơ ngực, phình cơ bụng để tăng lượng khí vào. Sau đó nên để bình thường. Cuối cùng là ép thành cơ bụng để tụ khí, nhiệt vào Đan điền.
+ Các chứng bệnh Tâm, Phế thì chú trọng hít vào nhiều hơn.
+ Các chứng bệnh Tì, Can, Thận thì chú trọng thở ra nhiều hơn.
Trong khi tập thở có thể kết hợp với các động tác thể dục sau: Khi đưa tay lên thì thở ra, khi đưa tay xuống thì hít vào, khi đưa tay vào thì hít vào, khi đưa tay ra thì thở ra.
+ Khi thở đã tương đối nhuần thì lúc hít vào quán tưởng theo mạch Nhâm ( đường chính giữa chạy từ đỉnh đầu xuống mặt, ngực, bụng ) theo chiều từ trên xuống. Khi thở ra quán tưởng theo mạch Đốc ( đừơng chính giữa cột sống ) theo chiều từ dưới lên.
BƯỚC 2 : THỞ 3 THÌ
- Ý nghĩa: Nâng cao hiệu suất của sự thở, nén nhiệt tại Đan điền đề đốt tinh thành khí, vận hành chân khí trong mạch Nhâm - Đốc. ( ở dạng vô thức ).
- Thực hiện: Người ngồi ở tư thế thư giãn, bế ngũ quan, điều hòa hô hấp, ổn định nhịp tim, tập trung ý nghĩ tư tưởng theo đường thở. Từ từ hít thẳng xuống bụng dứơi, sau đó ngưng thở, nén khí tại bụng dứơi, cuối cùng từ từ thở ra bằng mũi, điều hòa trở lại sự hô hấp.
- Lưu ý: có thể tập bất cứ lúc nào, mỗi lần tập ít nhất 10 lượt. Khi hít vào đến bụng nên nén thành bụng lại để nén khí tại Đan điền. Khi trong bụng có thực nhiệt thì thở ra bằng miệng hoặc bằng mũi.
Để tự chữa bệnh, tỷ lệ thời gian của các thì thở như sau:
- Khi bị bệnh Tâm (tim), Phế (phổi) - Hít vào lâu hơn.
- Khi bị bệnh Tỳ (lá lách), Vị (dạ dày) - Nén lại lâu hơn.
- Khi bị bệnh Can (gan), Thận - Thở ra lâu hơn.
Khi thở đã tương đối nhuần nhuyễn thì luyện thêm: Khi hít vào quán tưởng theo mạch nhâm từ trên xuống. Khi nén lại tập trung ý tại Đan điền. Khi thở ra quán tưởng theo mạch Đốc đi từ dưới lên.
BƯỚC 3 : THỞ 4 THÌ
- Ý nghĩa: Nâng cao hiệu suất của sự thở, kích thích Đan điền, phối hợp đồng bộ khí thở với Chân khí trong mạch Nhâm - Đốc ( dạng vô thức ).
- Thực hiện: Ngồi ở tư thế thư giãn, bế ngũ quan, điều hòa hô hấp, ổn định nhịp tim, tập trung theo đường thở. Từ từ hít thẳng xuống bụng dứơi, sau đó ngưng thở, nén lại ở bụng dưới (Đan điền). Sau đó từ từ thở ra bằng mũi. Cuối cùng, khi thở hết ra thì ngưng thở một lúc. Tiếp theo, điều hòa hô hấp trở lại.
- Lưu ý : Ở thì hít vào cần hít làm 2 lần, lần đầu hít vào ít, lần 2 hít vào nhiều hơn để tránh biến loạn khí. Khi hít lần đầu tập trung ý vào Tim (hỏa cung), lần 2 quán tưởng khí đi theo mạch Nhâm xuống Đan điền. Thở ra quán tưởng theo mạch Đốc từ dưới lên. Khi ngưng thở, quán tưởng ý ở Ấn đường (giữa trán).
Để tự chữa bệnh, tỉ lệ thời gian của các thì thở như sau:
- Bênh Tâm, Phế : Tăng thời gian lần hít 1, giảm thời gian nén.
- Bệnh Tỳ : Tăng thời gian nén, giảm lần hít 1 và thở ra.
- Bệnh Can, Thận : Tăng thời gian thở ra, giảm lần hít 1 và nén.
Khi đã luyện thành thục và có sức khỏe tốt, thời gian của 4 thì bằng nhau, càng thuần thục càng kéo dài thời gian của các thì ra và vẫn giữ đều thời gian 4 thì thở.

Trên đây tôi đã ghi lại một số kiến thức cơ bản và sơ đẳng của khí công dưỡng sinh. Trong này có bài tập thở rất quan trọng và rất có ích. Bản thân tôi đã từng bị cắt mất một thùy phổi phải, nhưng nhờ có tập thở và luyện khí công, tôi vẫn có thể tham gia tập luyện thể thao thường xuyên.
Chúc các bạn sức khỏe.

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2008

ĐÁNH HỤT!

              Nhân dịp 40 năm quân ngũ,bài viết của HXN - ký ức về những ngày đầu làm người lính.-(Hình chỉ có tính minh họa) AMK3

(Nhân 1/8/1968-1/8/2008)
Trỗi khóa III (cả nam lẫn nữ), sau ngày nhập ngũ ( 1/8/1968) cùng hơn ba tháng rèn luyện tân binh tại Trường Quân chính Quân khu Tả Ngạn, đều viết đơn tình nguyện đi chiến trường và nhận bất cứ nhiệm vụ gì được phân công. Tuy vậy, tất cả được nghỉ phép về tết sau hai năm không ăn tết với gia đình (tết năm 1967/1968 ở Quế Lâm). Hết phép vào tháng 1/1969, cùng với khoảng hơn hai mươi bạn, tôi được điều về Sư đoàn phòng không 363 (F363) đang làm nhiệm vụ bảo vệ vùng Đông Bắc mà trọng điểm là Hải Phòng-Hòn Gai và đường 5 (Hà Nội-Hải Phòng). Sau vài ngày học về truyền thống và các bài học khác tại Sở chỉ huy F đóng ở ven Hải Phòng , hơn mười đứa chúng tôi về trung đoàn (E) đang đảm nhiệm bảo vệ trục đường 5, số còn lại về trung đoàn khác. Thêm vài ngày học ở cấp trung đoàn, là thời gian cả bọn được cùng nhau tiêu những đồng tiền cuối cùng tại các hàng nước chè chén rất hiếm hoi lúc bấy giờ ở gần Ga (tàu hỏa) Tiền Trung nằm cách sở chỉ huy E khỏang (3-4)km. Ngày làm lính thực thụ đến, Bế Minh Ngọc-Phạm Quốc Bửu và tôi được phân công về Đại đội pháo (C) cao xạ 57mm có nhiệm vụ bảo vệ hai cầu Phú Luơng và Lai Vu. Ba thằng đi nhận nhiệm vụ. Lúc này cả C (pháo và khí tài) đang nằm trải dài cả trên mặt đê phía Hải Phòng ngay bên chân cầu Lai Vu và mọi nòng pháo đều chĩa về khoảng trời trên hai cây cầu và thị xã Hải Dương, lán trại để ở nằm dưới chân đê. Phía sau đơn vị, cách chân đê gần 1 km là nghĩa trang liệt sỹ thời chống Pháp. Quả là một biểu hiện của lòng quyết tử vì theo lý thuyết thì pháo và khí tài phải có ụ (đất hoặc vật liệu nào đấy) bao quanh để bảo vệ. Dù mỗi thằng về một khẩu đội nhưng cả ba đều được làm pháo thủ (đứng, ngồi) trên mâm pháo chứ không phải làm chân 'lon ton' đi khuân đạn ở dưới đất hoặc làm anh nuôi . Tôi là thằng trông "đô" con nhất nên được chỉ định làm pháo thủ số 5, còn Bế Ngọc số 3 và Quốc Bửu số 4. Bắt đầu những ngày đêm rèn luyện kỹ năng pháo thủ (khi không có báo động), căng thẳng chờ địch (khi có báo động) và ngồi chầu mấy tiếng liền trên mâm pháo (khi làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu). Ngày qua ngày, nắng và mưa, cũng có cả đói và rét ; sự hào hứng buổi ban đầu nhạt dần vì mọi cái cứ lặp đi lặp lại , trận đánh thật đầu tiên thì chưa bắt đầu mà lại phải bắt đầu rèn luyện tính lỳ của lính.
Rồi một buổi giữa trưa : Báo động ! Vào cấp một ! Máy bay địch đang bay thẳng vào từ hướng cửa sông Thái Bình ! Góc tà..., phương vị...., cự ly! Nạp đạn! ... Cả trận địa căng lên vì đạn đã nạp vào nòng và cự ly ngày một gần.
Tôi hồi hộp thật sự ,vì những lần báo động trước máy bay địch thường bay ven biển trong không phận do F quản lý hoặc bay theo hướng vào nhưng sau đó chuyển hướng bay ra nên chưa lần nào phải vào cấp một và nạp đạn (nhiệm vụ của số 5). Lần nay chắc đánh thật rồi !
Khẩu lệnh vẫn phát ra liên tục từ Đại đội trưởng và được nhắc lại bởi tất cả các khẩu đội trưởng. Mọi nòng pháo đều hướng về phía cửa sông Thái Bình và quay dần về hướng các mục tiêu cần bảo vệ. Lúc này, tôi chỉ còn nhớ đến việc của mình là tay phải cầm chắc cần gạt khóa nòng, tay trái đẩy mạnh hai băng đạn 08 viên, mắt nhìn cắm vào băng dẫn đạn để khi phát hoả lúc thấy viên thứ nhất của băng hai đã vào nòng thì phải quay ngay người lấy băng ba đẩy ngay lên băng dẫn và cứ như vậy...(Số 5 là thế! Vì nếu không nạp đạn liên tục thì khóa nòng sẽ tự đóng và thao tác mở lại khóa nòng là điều không được phép xảy ra trong chiến đấu). Tai tôi nghe thấy đã đến gần cự ly bắn ! Rồi nghe đến cự ly bắn ! Rồi không nghe thấy lệnh bắn (!?) Rồi nghe thấy cự ly xa dần (?). Tôi ngửng nhìn lên thì thấy nòng pháo đã quay về hướng huyện Nam Sách, ngược với hướng bay vào, có nghĩa là máy bay địch đã bay qua trận địa và bay về hướng Hòn Gai. Phút căng thẳng qua đi, toàn C nhận lệnh chuyển cấp và được thông báo chính thức mục tiêu là máy bay do thám không người lái (bay ở độ cao mà pháo 57mm không bắn tới được). Lính cũ được dịp hỏi trêu ba thằng lính mới có sợ phát "tè" (?), còn ba thằng thì thẳng thắn thừa nhận là có hồi hộp thật nhưng chỉ sau khi pháo lớn bị hụt, chuyển cấp xong, ba khẩu "pháo con " hãy còn "jin" mới phát hỏa đàng hoàng ở đúng nơi quy định ngay dưới chân đê.
Vài ngày sau, đại đội chúng tôi chuyển sang đóng ở cánh đồng thuộc làng Nhị Châu (nằm bên phải cầu Phú Lương, tính theo hướng Hà Nội - Hải Phòng), lúc này thì đàng hoàng hơn vì pháo và khí tài đã có ụ đất bảo vệ . Và rồi có tiếp những lần báo động khác nhưng đều ở cấp thấp hơn nên cái cảm giác bị đánh trận hụt không lặp lại, thế rồi cả ba chúng tôi chưa được qua một trận đánh thật nào trong tư cách vinh dự là lính phòng không của một sư đoàn phòng không anh hùng. Vì một lẽ : cuối tháng 4/1969 tất cả Trỗi khóa III, ở mọi đơn vị, được gọi về tập trung để nhận nhiệm vụ mới là đi học.

HỒ XUÂN NAM

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2008

MỘT SỐ HIỂU BIẾT SƠ ĐẲNG VỀ KHÍ CÔNG

II.KHÍ CÔNG LÀ GÌ

Hiện nay chúng ta đã quen thuộc với các thuật ngữ Khí công và Các phương pháp khí công khác nhau. Tuy nhiên, để hiểu đúng đắn khí công là gì thì hoàn toàn không đơn giản.
Vậy khí công là gi?
Khí công là phương pháp luyện tập để làm chủ khí trong cơ thể. Tức là luyện làm chủ quá trình phát sinh, vận hành và biến đổi khí thành một dạng tinh vi hữu ích hơn ( biến vi hoạt dụng khí ). Việc đó được diễn ra theo một trình tự hợp lý, thuận tự nhiên, thông qua đó mà phục hồi, ổn định và nâng khả năng hoạt động của các cơ quan và hệ thống tâm sinh lý trong cơ thể, để có thể tự chữa bệnh, dưỡng sinh và nâng cao khả năng tồn tại của con người. Nói tóm lại, khí công là một hệ thống các bài luyện để làm chủ khí trong cơ thể.
Khí trong cơ thể là gì?
Khí trong cơ thể không thuần túy là khí của sự hô hấp mà còn là một dạng vật chất vi tế, tức là vô cùng nhỏ bé và tinh tế, hoạt động trong nội tạng và kinh mạch của cơ thể người. Theo vật lý hiện đại, khí có thể chia làm hai loại:
- Dạng hơi, còn gọi là khí hậu thiên, đây chính là khí hô hấp.
- Dạng thứ hai là bức xạ vật chất, còn gọi là khí tiên thiên, đây chính là chân khí hay nguyên khí trong con người.
Trong con người chúng ta quý nhất là Tam bảo (Tinh - Khí - Thần). Quá trình luyện khí là " Luyện tinh sinh khí, luyện khí hóa thần". Như vậy, cơ sở của khí là tinh - dạng vật chất đồn trú tại tuyến thượng thận.
Vậy tinh làm sao mà sinh được thành khí ?
Tinh sinh ra do quá trình sinh học mà các nhà khí công gọi là : hạ tâm hỏa, góp tốn phong. Nhờ hơi thở đưa hỏa từ tim xuống để đốt tinh thành khí. Tâm hỏa là nhiệt tâm hỏa, nhờ hô hấp (tốn phong) đưa xuống Đan điền (vùng bụng dưới) để đốt (kích chủng) tinh thành khí. Khí mới này được sinh ra từ Đan điền được vận hành theo mạch Nhâm ( âm giáng xuống) và mạch Đốc ( dương thăng lên) để trở thành Chân khí.
Chân khí đi vào ngũ tạng để phát sinh ra Ngũ khí, bao gồm: Tâm (tim) - Hỏa khí; Can (gan) - Phong khí; Tì ( lá lách) - Thấp khí; Phế (phổi) - Táo khí; Thận - Hàn khí, để tham gia vào các quá trình cơ bản của sự sống trong cơ thể. Chân khí và Ngũ khí phát sinh, vận hành theo hệ kinh lạc và nội tạng, thoát ra ngoài qua da, lông thông qua các huyệt đạo để thực hiện các cơ năng và chức năng của khí.
Vậy chức năng của khí trong cơ thể là gì?
Trong Tam bảo: Tinh - Khí - Thần, thì "Khí" chính là "Cơ sở vật chất" (có thật) của "Thần". Thần là thần thái tri giác ở con người, được tạo ra nhờ khí đã biến hóa thành vô cùng nhỏ bé (biến vi) xâm nhập trong tủy sống, não bộ và hệ thần kinh. Nếu Huyết (máu) là vật chất nuôi dưỡng cơ thể thì "Khí" chính là năng lượng của cơ thể.
Khí được chia thành hai cấp độ là : Năng lượng vật chất (ở dạng khí) và năng lượng thông tin (ở dạng thần). Ngoài ra còn có một cấp độ trung gian trong quá trình chuyển hóa từ năng lượng "vật chất" sang "thông tin" mà thường được gọi là dạng "thực" và "thanh" của khí. Khí còn có chức năng hóa dịch, phục vụ cho các hoạt động sinh học của cơ thể.
Sự gắn bó về khí giữa con người và không gian xung quanh: Lớp khí quyển chúng ta đang thở là sự giao hòa giữa "Hậu thiên khí" (dạng hơi) của Trời và Đất tạo thành môi trường khí hậu, thời tiết. Còn khí "Tiên thiên"(bức xạ vật chất) bao bọc quanh con người lại chia ra thành "Bức xạ không gian" (bầu trời) và "Bức xạ Trái đất". Các bức xạ này tương tác mật thiết với "Tiên thiên Chân khí"trong con người . Ngoài ra bao quanh mỗi ngừơi còn có một quả cầu khí do chính con người phát ra được gọi là "Hào quang của con người"
Nội khí trong con người do khiếm khuyết bẩm sinh, do hoàn cảnh sống và do cách sống của mình mà luôn ở dạng suy loạn, nghịch ( suy yếu, vận hành lộn xộn, thậm chí chạy ngược đường), từ đó dẫn đến bệnh tật và chết trước sự kết thúc tự nhiên. Do đó con người phải có một cách sống, một cách suy nghĩ đúng đắn thì mới phục hồi và ổn định được nội khí. Bằng phương pháp luyện khí công, chúng ta thu được ngoại khí rồi biến thành nội khí từ đó chúng ta có khả năng tự dưỡng sinh chữa bệnh và khai mở khả năng kỳ diệu của chính bản thân mình còn tiềm ẩn lâu nay.
Như trên đã nói, quá trình luyện khí phải đi theo sự tuần tự: Nhập - Khai - Thu - Tụ - Hành - Xả - Phát.
Nhập là phân bố nền hào quang khí xung quanh xung quanh để từ đó phân bố lại nội khí và hòa nhập vào không gian ngoại khí bên ngoài.
Khai là khai mở, tức là vận hành các vị trí đặc biệt có khả năng hoạt động khí cao ( tức là các điểm có thể thu ngoại khí và phát nội khí tốt nhất )
Thu là nhờ hô hấp thu ngoại khí cố hạ chân hỏa xuống Đan điền.
Tụ là cố thu ngoại khí trợ chân hỏa để kích thích chưng tinh thành khí ở Đan điền ( ngoại khí có thu vào được mà không tụ lại ở Đan điền để biến thành chân khí thì không có ý nghĩa ).
Hành là vận hành khí đã sinh ra đi theo các con đường (kinh mạch) mà dẫn tới các khu vực cần thanh hóa, phục hồi để đẩy các hư khí bệnh lý ra ngoài.
Xả là xả các hư khí trong cơ thể ra ngoài.
Phát là trạng thái phát khí thực hành công phu khí công ( chữa bệnh cho người khác ). Tức là thu ngoại khí vào, biến sinh thành chân khí rồi phát ra ngoài bởi các môn công phu khí công là "Chỉ công" ( thu phát khí qua đầu ngón tay ), "Chưởng công" ( thu phát khí từ lòng bàn tay ), "Miêu công" ( thu phát khí từ ấn đường và nhãn thần ) và "Thần công" ( thu phát khí từ Bách hội ).
Quá trình luyện khí công là quá trình làm chủ khí, mà bắt đầu bằng sự "Khí cảm" (tức là cảm giác khí). Cảm giác này được thể hiện bằng bốn hiệu ứng khí là "Nhiệt"- cảm giác nóng, lạnh; "Áp suất" - cảm giác căng, tức, nặng, nhẹ; "Lan truyền" - cảm giác tê, chạy như điện; "Nhu động" - cảm giác có sự chuyển động bên trong nội tạng, cấu trúc các cơ quan, tế bào. Thoạt đầu là cảm giác khí ở đâu đó, sau đó là các đường kinh mạch hệ thống theo đường vận, cuối cùng là làm chủ hòan toàn trong quá trình khí hóa : Nhập - Khai - Thu - Tụ - Hành - Xả - Phát.
Ta có lợi ích và khả năng gì khi luyện khí công?
Trước hết, nhờ biết làm chủ khí, con người có thể sử dụng khí công để phục hồi, ổn định, thanh hóa khí trong cơ thể. Đây là con đường thực hành tự chữa bệnh, giải tỏa các triệu chứng rối loạn gây bệnh, do vậy mà tự dưỡng sinh kéo dài được tuổi thọ, nâng cao khả năng sống cho bản thân.
Ngoài ra, nhờ có khí công, ta có khả năng phát khí để chữa bệnh cho người khác, thậm chí qua các bài luyện chuyên biệt, nhà khí công có khả năng tự nội soi ( nhìn vào bên trong cơ thể mình ) và ngoại soi ( nhìn vào trong cơ thể người khác ), các nội tạng có thể hiện rõ trước mắt nhà khí công vì vậy có thể chẩn đoán bệnh và trị bệnh chính xác và hoàn hảo với các công phu tương ứng.
Ngoài ra, khí công còn giúp cho con người khai mở những khả năng kỳ diệu của bản thân.

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2008

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÍ CÔNG

Sau khi đăng bài "Phụ họa bài của AM", một số bạn muốn tổ chức một câu lạc bộ về chữa bệnh bằng nhân điện. Nếu bạn nào có điều kiện đứng ra tổ chức chúng tôi sẽ hết lòng ủng hộ. Còn tôi, vì điều kiện thời gian chưa cho phép nên không thể đứng ra tổ chức được. Tuy nhiên, để các bạn có một số thông tin ban đầu về các phương pháp tự chữa bệnh theo truyền thống Phương Đông, tôi mạnh dạn ghi lại một số kiến thức tôi đã học được ở thầy Hoàng Vũ Thăng để các bạn tham khảo.

QUAN NIỆM VỀ BỆNH TẬT THEO PHƯƠNG ĐÔNG

1/ Bệnh là gì? Theo y học Phương Đông, bệnh là một vùng rối loạn trong cơ thể. Khi xuất hiện vùng rối loạn trong cơ thể, vùng đó có thể đau hoặc không gây đau. Tuy nhiên, nếu vùng rối loạn đã gây đau thì lúc đó bệnh đã nặng, bởi vì theo quan điểm y học Phương Đông, bệnh nhập vào cơ thể theo đường da, lông vào tôn lạc, rồi đi đến các kinh mạch, tới các tạng phủ, vào cốt tủy và cuối cùng là nhập vào đến tam bảo ( tinh, khí, thần ).
- Khi bệnh còn ở da, lông, tôn, lạc, gọi là biến.
- Khi bệnh vào đến kinh mạch gọi là loạn.
- Khi bệnh vào đến tạng phủ gọi là bệnh.
- Khi vào đến cốt tủy gọi là tật.
- Khi bệnh ở tam bảo thì cái chết chẳng còn xa.
Như vậy, vùng bệnh là vùng đau, vùng rối loạn, vùng suy yếu, vùng kém chức năng, vùng chưa khai mở.

2/ Nguyên tắc chữa bệnh theo khí công là:
- Đối với vùng đau thì thông xả.
- Đối với vùng rối loạn thì hiệu chỉnh, cân bằng.
- Đối với vùng suy yếu thì bồi bổ.
- Đối với vùng kém chức năng thì kích thích.
- Đối với vùng không khai mở thì luyện tập khai mở.

3/ Thế nào là tự chữa bệnh?
Theo quan điểm của môn " Tĩnh khí công Hoàng Vũ Thăng " thì tự chữa bệnh là người bệnh dùng (vận) khí của bản thân mình để điều hòa, cân bằng, làm tiêu hủy các chứng bệnh đã và đang tồn tại trong cơ thể.

4/ Phương pháp chữa bệnh của NQT Hoàng Vũ Thăng ( Nhật Quang Tử HVT): là phương pháp luyện phục hồi, ổn định và nâng cao khí trong cơ thể, thông qua đó phục hồi, ổn định và nâng cao hoạt động của các cơ quan, hệ thống và các quá trình sinh học trong cơ thể với mục đích chữa bệnh dưỡng sinh, nâng cao sức khỏe con người.
Nền tảng của phương pháp này là tĩnh công với sự phối hợp giữa hô hấp, quán khí tạo nên quá trình vận khí; bên cạnh đó có thể kết hợp với động công theo trình tự Tĩnh ý thức - Tĩnh vô thức -Động vô thức - Động ý thức.
Quá trình luyện khí cơ bản là : Luyện tinh sinh khí, luyện khí hóa thần, từ đó luyện vào tính khí, nguồn khí, đường khí và sự biến vi hoạt dụng của khí trong cơ thể để khí trong cơ thể sinh ra đầy đủ, đi đúng đường, hành đúng hướng, biến vi hoạt dụng trọn vẹn các cơ năng và chức năng trong cơ thể. Đó là khí tiên thiên của con người được khởi phát và vận hành đồng bộ với khí hậu thiên (khí hô hấp).
Phương pháp này thông qua hô hấp để cảm nhận khí với sự phát công trợ giúp của các nhà khí công giúp cho người bệnh làm chủ được khí trong cơ thể, thông qua đó mà tự chữa bệnh - dưỡng sinh.
Khí trong cơ thể do bẩm sinh không hoàn thiện, do thời khí biến động, do hoàn cảnh chi phối nên hư yếu rồi loạn mà sinh bệnh. Vì vậy, luyện khí công là thu năng lượng khí tinh hoa bên ngoài vào thành chân khí của bản thân để nâng cao một mức độ đủ để dưỡng sinh và chữa bệnh với quá trình đơn luyện là Nhập - Khai - Thu - Tụ - Hành - Xả. Đó là, thu ngoại khí vào tụ ở đan điền để biến sinh chân khí rồi vận hành trong cơ thể đến các vùng bệnh và xả hư khí trong cơ thể ra ngoài.

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

TIN BUỒN

BLL khóa 3 phía Nam xin thông báo: Cụ bà LÊ NĂM KIM, mẹ của Trần Kỳ Nghĩa đã từ trần. Tang lễ sẽ tổ chức viếng từ 08 đến 10 giờ ngày 17 tháng 7 năm 2007, tại Nhà tang lễ Hà Nội, 125 Phùng Hưng. An táng tại Nghĩa trang Văn Điển cùng ngày.
BLL cũng xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến Kỳ Nghĩa và gia đình.

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2008

Xe đạp điện (eBikes).

  
     Tuổi thơ của chúng ta, ai mà chẳng từng mơ ước có một cái xe đạp con để chạy trong sân, ngoài phố, ra oai với bạn bè. Với thế hệ cha mẹ chúng ta, thậm chí hầu hết chúng ta khi mới vào đời cũng đều dùng xe đạp như phương tiện lưu thông chủ yếu.Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh Hà nội những năm 60s cho tới tận thời kỳ sau 75 đường phố tấp nập dòng xe đạp xen lẫn tiếng leng keng của tàu điện, bụi trần, tối tăm nhưng không ô nhiễm. Nói chuyện này là vì từ mấy tháng nay tôi chỉ dùng xe đạp để đi lại . Về mặt hiệu quả, tôi thấy không kém so với đi xe gắn máy nếu không nói là có những điểm còn hơn, nhất là trong tình trạng giao thông thành phố hiện nay. Từ nhà tới công ty tôi ở Q3 khoảng 5 km, chạy xe đạp ( có trợ lực) cũng bằng thời gian chạy honda mà không lo kẹt xe vì luôn có thể dắt, chạy tắt, chạy trên hè.....Tuy nhiên, hiệu quả lớn nhất theo tôi lại chính ở chỗ nó buộc ta phải vận động. Sau 3 tháng chạy xe đạp tôi bớt được ~ 4kg , điều mà trước đây làm cách gì cũng không thể đạt được. Quan trọng nhất là không mất thêm thời gian và không tốn kém. Khía cạnh hấp dẫn khác của xe đạp làm tôi ban đầu thấy thích thú, sau trở nên say mê lại chính là tính công nghệ. Như tiêu đề của bài này - Xe đạp điện! mà thế giới gọi là eBike ( phân biệt với motorbike chạy bằng xăng và nổ bịch bịch) hiện nay đang là một hiện tượng ngày càng phổ biến và có thể sẽ trở thành một trào lưu toàn cầu. Nhiều bạn trỗi có dịp về thăm Quế Lâm đều chứng kiến xe đạp điện được dùng rộng rãi ở Trung Quốc ra sao. Riêng Trung quốc chỉ trong năm 2006 đã xuất xưởng 19 triệu xe đạp điện. Con số này có ý nghĩa về kinh tế nhiều hơn là công nghệ. Tôi lại muốn nói về khía cạnh công nghệ, thậm chí là hitech! Chắc các bạn sẽ cười tôi là lạm dụng thuật ngữ. iPhone 3G là hitech - đương nhiên rồi! Còn eBike? Vâng, xe đạp kể từ khi được phát minh cách nay hơn 100 năm hầu như không thay đổi về mặt cấu trúc, vẫn từng đó thành phần : khung sườn, giò dĩa, xích líp, thắng, trục, căm...Phần công nghệ cao mới được đưa vào gần đây chính là phần trợ giúp cho động lực bằng cơ bắp của người lái. Đến đây, tôi xin nói thêm một chút cho rõ về chủng loại của xe đạp điện. Tôi đoán rằng phần lớn các bạn hiểu xe đạp điện là xe đạp được cơ giới hóa bằng động cơ điện, chạy bằng bình điện và người dùng chỉ cần kéo tay ga và vù. Trên thị trường hiện nay, thậm chí còn có nhiều xe gọi là đạp điện nhưng trông giống xe máy chạy đông cơ điện. Loại xe này phổ biến ở nước ta, và khi nói đến xe đạp điện, người ta thường nghĩ đến loại xe này. Tôi lại muốn nói đến loại xe đạp điện thực sự, đúng nghĩa ban đầu của nó là loại xe đạp chạy theo nguyên lý trợ lực từ động cơ điện. Ebikes được chế tạo thực chất để giúp người ta đạp xe khi muốn: với sự lựa chọn dùng động cơ khi cần leo dốc một cách dễ dàng hoặc cần trợ lực thêm khi không muốn quá sức, mồ hôi mồ kê nhễ nhại khi tới cơ quan mà vẩn hưởng được cái thú chạy xe miễn phí.
  
Vậy – chính xác eBike là gì?
eBike về bản chất cũng như xe đạp thông thường  với sự khác biệt là có một đông cơ “đùm” ( hub motor ) (gắn trực tiếp vào đùm bánh xe) để cung cấp thêm trợ giúp bổ sung như đã nói trên. Phần lớn các bình điện cho hub motor thậm chí có thể tự xạc khi ta đạp pedal. Ưu thế của thiết kế này là không cần có hệ thống truyền động bổ sung và điều này đã tăng thêm tính hiệu quả của hệ thống lái xe. Hệ thống lái xe ở đây là cái motor nhỏ nhất có thể, đủ để tăng tốc và chạy xe với một tốc độ nhất định , và xác định lực phanh cần thiết để dừng xe trong một khoảng thời gian chấp nhận được.

 
eBike là một xe đạp thông thường có gắn hub motor chạy bằng điện
  
Các chế độ hoạt động của eBike có thể được chọn trên mặt điều khiển gắn trên gi-đông. Xe cũng được trang bị công tơ met điện tử đo tốc độ, quãng đường và thời gian
  
Hub Motor được gắn trực tiếp vào bánh xe, stator của động cơ chính là đùm xe. Khi ta đạp pedal, motor sẽ được khởi động và đẩy xe đi.
  
Bình điện có thể sử dụng ac qui chì khô (SLA), Pin sạc NiCad, pin sạc NiMH hoặc Lithium-Ion.
  
Chúng ta cùng xem một một số ưu và khuyết của e-bikes:
Ưu
  • Thân thiện với môi trường
  • Chúng chạy êm, không ồn ào
  • Nếu chọn giữa ebike và xe gắn máy: Bớt một xe gắn máy trên đường = bớt ô nhiễm
  • Thời gian chạy xe trên cùng quãng đường của ebike nhanh hơn xe đạp 20- 30%
  • Ebike tiết kiệm tiền xăng cho bạn, đặc biệt là trong tình hình giá xăng leo thang như ngày nay.
  • Sau khi phải trả chi phí ban đầu, sử dụng ebike còn rẻ hơn dùng các phương tiện công cộng…
  • Không bắt buộc phải đội nón bảo hiểm ! (tôi vẫn đội :)
Nhược điểm
  • Do hầu như không gây tiến động khi chạy nên đôi khi bất lợi, nhất là trong tình trạng giao thông như hiện nay tại TP HCM.
  • Theo quan niệm của dân ta, đi xe đạp không được trọng thể cho lắm.;)

  eBike - hitech?
       Cuối cùng, tôi xin được giải thích lý do vì sao tôi cho cái eBike seconhand của tôi là hitech. Thứ nhất, chỉ khi tôi đạp pedal thì hub motor mới hoạt động và trợ lựccho xe. Khi thả xe chạy theo trớn, motor nghỉ. Thứ hai, khi thả dốc, motor tự động chuyển sang chế độ xạc điện cho bình điện, đồng thời tác động hãm bớt tốc độ xe. Thứ ba, khi không đạp, xe chạy theo trớn tốc độ cao hoặc xuôi gió motor cũng tự tranh thủ xạc bình điện. Khi tôi bóp thắng (phanh) sau, motor cũng chuyển sang chế độ máy phát để giúp quá trình thắng được hiệu quả hơn, đỡ hao má thắng!. Ngoài chế độ sử dụng như một chiếc xe đạp bình thường (khi bình hết điện hoặc không sử dụng) Chiếc eBike của tôi có 3 chế độ hoạt động. Chế độ tự động("Auto" ): xe sẽ ứng xử như trên. Chế độ "Manual" motor sẽ luôn trong chế độ trợ lực cho xe. Cuối cùng là chế độ sạc điện("charge") -Khi chạy chế độ này, motor sẽ dùng sức đạp xe của tôi để sạc cho bình điện - chế độ này chắc chỉ phù hợp cho uttroi, tôi đã thành cụ nên khi cần thiết tôi cắm bộ sạc vào ổ điện trên tường :D
      Túm lại, eBike là xe đạp ( có trợ lực) là một trong những phương tiện giúp chúng ta đi lại, luyện tập và trên hết là công cụ giải trí thư giãn tuyệt vời.

TIN BUỒN


Cụ Nguyễn Thị Mai Tâm ( mẹ của Nguyễn Tuấn Linh ) đã từ trần hồi 09g33 ngày 10 tháng 7 năm 2008. Lẽ viếng từ 12g00 đến 14g00 ngày thứ 2, 14 tháng 7 năm 2008, tại Nhà tang lễ Hà Nội, 135 Phùng Hưng, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm. An táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ từ 15g00 đến 17g00 cùng ngày. Ban Liên lạc khóa 3 phía Nam xin thông báo để các bạn chia buồn với TL.