Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Cảm xúc khi đọc SRTKL

Đọc xong cuốn SRTKL tập 3, tôi ngẫm nghĩ : mỗi tập mang lại cho mình một cảm xúc khác nhau.

Tập 1 : Có được cuốn SRTKL tập 1 trên tay sau mấy chục năm không có tin tức gì về các bạn Trỗi, tôi ngấu nghiến đọc như một thằng vớ được ly nước lã sau chặng đường vượt sa mạc khô cằn. Lời văn mộc mạc, những câu chuyện bình thường thời trẻ con gợi nhớ lại cả một đoạn cuộc đời nhiều hơn, nhiều hơn rất nhiều những gì có trong sách mà có những lúc tôi đã tưởng như không còn tồn tại. Vậy mà giờ đây nó được viết thành sách! Dù chỉ là cuốn sách nội bộ cho anh em mình.

Tập 2 : Một cuốn sách hoành tráng, trông như 1 tác phẩm văn học (chỉ trông như thôi). Tôi ôm nó, đọc một lèo thâu đêm suốt sáng, rồi lại nghiền ngẫm thêm 1 ngày nữa. Đóng sách lại, nhìn hình anh Lê Minh Tân ở trang bìa, người tôi nôn nao … Trỗi, lính Trỗi là thế đấy! Tôi vừa được thưởng thức 1 ly bia mát lạnh, ly bia của tình bạn được ấp ủ, lên men trong mấy chục năm cho dù thời gian pha chế không dài (5 năm).

Tập 3 : Nếu 2 tập trước là ly nước lã sau khi vượt sa mạc và ly bia mát lạnh lúc đang khát thì tập này là 1 bữa nhậu đàng hoàng. Bữa nhậu có đầy đủ đồ mồi thịt cá, rau cỏ được chế biến tại nhà hàng, bia ngon đủ loại, lựa chọn thoải mái. Hầu hết bài, ảnh, tin tức trong tập này đều đã được đăng trên các blog bantroi và đã được trao đổi, mổ xẻ kỹ càng trong các lần trà dư tửu hậu mà gần như tuần nào anh em Trỗi cũng gặp nhau. Một bữa nhậu như mọi bữa hàng tuần vẫn nhậu và được bạn nhậu chăm chút, soi mói từng cọng hành, từng mùi vị … cho tới miếng ớt hiểm cũng phải được để nguyên trái chớ không chịu xắc ra! Tôi đã nghiền ngẫm nó tới 2 tuần mà vẫn chưa “thuộc” hết các chi tiết.

Vậy đó, nếu có tập 4 ắt phải là cao lương mỹ vị với rượu xịn tại nhà hàng 5 sao! Mà lúc này thì khó đây. Già hết rồi, người uống nhiều, người nhâm nhi. kẻ ăn thịt, kẻ ăn rau và chắc có đứa chỉ muốn … húp cháo? Nếu tập 4 không phải là 1 tác phẩm văn học thực thụ hấp dẫn thì chắc chẳng ai xem, hay có xem cũng là “để coi nó dở đến cỡ nào?”.

A hà! Bạn Trỗi bây giờ không chỉ cần nhớ lại những kỷ niệm mà cần 1 cuốn sách “để đời” cho con cháu mai sau (để làm gì thì chỉ có chúng nó biết!).

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

20/11 - Chúc mừng Các Thầy và Các Bạn làm Thầy



Những hạt phấn trắng
                            Sáng tác: Nguyễn Duy Trung





Hạt bụi phấn nào đã đong đầy trong khoảnh khắc cuộc đời , khoảnh khắc cuộc đời Thầy dắt con qua.

Hạt bụi phấn nào rơi vào từng bài trong trẻo giọng Thầy , ấm áp lòng Thầy như hạt nắng ban mai.

Những hạt phấn đã rơi hôm qua và hôm nay , có hạt nào rơi từ mái tóc của Thầy.
Những hạt phấn vẽ nên tương lai và yêu thương , ấm tình Thầy thiết tha không bao giờ con quên

Bụi phấn bay, 

    bụi phấn vẫn bay,
            nét chữ Thầy đã thôi tròn đầy theo thời gian , theo thời gian từng lớp trẻ đi qua

Bụi phấn bay,

    bụi phấn vẫn bay, 
           có hạt nào đã rơi đọng lại theo thời gian ,theo thời gian chỉ còn Thầy lặng thầm tô trắng cuộc đời bằng dòng phấn rơi rơi.



Bụi phấn bay,
    bụi phấn vẫn bay, 
           có hạt nào đã rơi đọng lại theo thời gian ,theo thời gian chỉ còn Thầy lặng thầm tô trắng cuộc đời bằng dòng phấn rơi rơi.
          Ai như hạt phấn rơi . ơi những hạt phấn rơi ...

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

Sự sợ hãi và lòng thành thật nguyên thuỷ




Câu trả lời hay nhất 

08/11/2008 20:36 
     Trong vòng phỏng vấn cuối ở một công ty, tôi nhận được câu hỏi: “Thành tựu lớn nhất mà bạn đạt được trong cuộc sống là gì?”. Trong một phút ngắn ngủi, tôi nghĩ đến những thành tích học tập, những danh hiệu mà tôi đã nhận... Và rồi dừng lại ở một câu trả lời thành thật nhất, tôi nói với người phỏng vấn rằng thành tựu lớn nhất mà tôi đạt được là vượt qua nỗi sợ hãi say xe của bản thân.
     Tôi là người bị chứng say xe kinh niên. Say xe là nỗi ám ảnh lớn nhất trong cuộc sống của tôi qua các giai đoạn tiểu học, trung học và cả đại học. Nỗi sợ hãi say xe khiến những chuyến đi xa bớt vui, khiến tôi thất vọng hoàn toàn về sự mạnh mẽ của bản thân và sự tự tin về những điều mình làm được ngày càng giảm sút thê thảm. Rồi đến lúc nỗi sợ hãi không chỉ gói gọn trong những chuyến đi chơi xa nữa. Tôi tốt nghiệp đại học và những công việc phía trước đang chờ đợi mình. Tôi đã nộp đơn vào một công ty là niềm mơ ước của tất cả sinh viên mới ra trường. Trong hồ sơ dự tuyển có câu hỏi: “Bạn có sẵn sàng đi công tác xa hay không?”. Tôi đánh vào mức sẵn sàng tuyệt đối vì trong thâm tâm, đó là một mong ước có thực. Nhưng tôi lại lo sợ và nghi vấn: có phải tôi đã không thành thật? Liệu tôi sẽ vượt qua được chính mình chứ?
     Mọi việc rồi cũng ổn. Trong một chuyến đi xa trước ngày phỏng vấn, tôi đã làm được việc lớn nhất trong cuộc đời mình, đó là không say xe trong suốt cả một cuộc hành trình dài 600 km.
    Tuy lần phỏng vấn đó không thành công nhưng tôi tự hào vì câu trả lời của mình. Tôi tin mình đã có một câu trả lời hay nhất. Bởi vì khi đã vượt qua nỗi sợ hãi nguyên thủy của bản thân thì không còn việc gì phía trước khiến tôi phải lo sợ nữa. Khi ấy, sự tự tin lại quay về và tôi có thể làm được tất cả mọi việc, dù việc đó khăn như thế nào mẫu số chung của những hành động, những suy nghĩ, niềm tin và cả sự đắn đo? Tình cảm, trong mọi hoàn cảnh, có lẽ là điều đúng đắn duy nhất để ta nương tựa và hành động. 
Lê Minh

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Lá thư của Vũ-Chí-Dũng để lại giữ rừng

Xin copy bài này (báo Tiền phong) để nhớ về một thời kì CM.

Xuân năm 1984, trong một chuyến khảo sát, đoàn cán bộ Nông trường Giải phóng tỉnh Sông Bé do anh Nhân – nguyên cán bộ Trung đoàn Bình Giã - dẫn đầu, ngược thượng nguồn sông Đồng Nai tới một vùng rừng nguyên sinh, đã bàng hoàng trước một cảnh tượng: Trên 3 chiếc võng dù cùng cột chung đầu vào một thân cây là ba bộ hài cốt. Cạnh mỗi bộ hài cốt là một khẩu AK và đôi dép cao su. Một bức thư gói trong ni lông cột ở đầu võng. Những dòng chữ run rẩy, nguệch ngoạc, nhưng với những ý tứ, câu từ sáng rõ, đã giới thiệu:

“Chúng tôi: 1. Lê Hoàng Vũ, quê Thái Bình; 2. Nguyễn Chí, quê Quảng Ngãi; 3. Trần Viết Dũng, quê thành phố Sài Gòn; chiến sĩ thuộc Tiểu đội 1, Trung đội “Ký Con”, Trung đoàn BG (Bình Giã), Quân giải phóng miền Nam …”.

Hồi đó, sau trận tập kích của Trung đoàn Bình Giã và một số đơn vị khác thuộc BTL Miền, diệt một lực lượng lớn quân Mỹ Ngụy ở Bông Trang – Nhà Đỏ (Thủ Dầu Một), tháng 2/1966, trên đường rút về hậu cứ, một tiểu đội, trong đó có các anh Vũ, Chí, Dũng, được phân công nghi binh đánh lạc hướng địch để trung đoàn trở về an toàn. Một tiểu đội 11 người đã làm tròn nhiệm vụ tạo dấu vết một trung đoàn hành quân. Sau mấy ngày băng rừng, hứng chịu hàng chục phi vụ rải thảm của B52, 8 người đã hy sinh. Vượt qua những ngày đói khát và trên mình đầy thương tích, 3 chiến sĩ còn lại đã tới cánh rừng này. Sức kiệt, máy thông tin hư, các anh chọn khu rừng này làm nơi an nghỉ cuối cùng. 3 chiến sỹ dồn sức còn lại viết về cuộc chiến đấu, sự hy sinh của đồng đội; tình cảm, niềm tin. Lần lượt Vũ, Chí ra đi. Người viết những dòng cuối cùng là Dũng.

“ ... Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn … Xin cho chúng tôi gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái chết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa. Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng”.

“Quyết định rồi chúng tôi tự thấy khoan khoái lạ thường. Sáng suốt hẳn lên …Dừng lại ở đây với một ít sức lực còn lại viết một tường trình cuộc chiến đấu gửi lại cho ai đó tìm được …Mỗi người đứng trước cái chết của mình cố gắng dùng một chút sức còn lại, quả thật rất ít ỏi, để thay nhau chấp bút. Chúng tôi đã chọn cây gỗ tơ còn sống lâu này làm trụ, giúp nhau mắc võng cho từng người, thống nhất nhau tư thế nằm trên võng, sắp xếp vài đồ vật còn lại … Chúng tôi sẽ chết ung dung thư thái như đã từng sống mãnh liệt mà thư thái với công việc chúng tôi đã làm”.

“Nhưng rồi các bạn giục kết thúc lá thư đi thôi. Thời gian không chờ chúng tôi nữa. Chúng tôi đã cảm thấy sắp đến giờ phải từ giã cõi đời này rồi. Trước khi ra đi, thư phải được bảo quản cẩn thận để tránh thời gian mưa nắng phũ phàng. Thư, Thư phải về tới tay những người đang sống”.

“Nếu lá thư này được về với đồng đội chúng tôi trong Trung đoàn BG quân giải phóng miền Nam hay một đơn vị bạn nào đó qua đây, xin chuyển lên giùm cấp trên. Tiểu đội Giải phóng quân chúng tôi trong Trung đội “Ký Con” đã hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa Xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn”.

“Còn như chúng tôi được phát hiện muộn hơn sau 5 năm, 10 năm tự do quý giá, thì xin cho chúng tôi gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó, trong một thời đại vinh quang, lời biết ơn sâu sắc vì các bạn đang làm cho cái chết của chúng tôi giữ được đầy đủ ý nghĩa. Các bạn đang lao động quên mình cũng như chúng tôi đã chiến đấu quên mình cho đất nước ta ngày nay tươi đẹp, cho dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, cho xã hội ta ngày càng dân chủ công bằng”.

“Hay trong trường hợp đến 50 - 100 năm sau, thư này mới tới những người, có thể gọi là thế hệ mai sau, thì cho phép chúng tôi gửi lời chào xã hội chủ nghĩa, cho phép chúng tôi bày tỏ vui mừng tuyệt diệu vì hạnh phúc và hòa bình đang tràn ngập hành tinh chúng ta mà chúng tôi trở thành những hạt bụi có ích – và hơn thế nữa nếu được, cho chúng tôi gửi lời chào niềm nở nhất đến những con người ở những vì sao xa xôi, những người bạn mới giữa các hành tinh”.

“Mùa Xuân giữa rừng miền Đông Nam Bộ.
Vũ-Chí-Dũng”

Hình: "gặp nhau trên đường ra trận"

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Bạn khóa 3 tại Hội trường Hà Nội.


Ngày hội trường là dịp tốt để bạn bè gặp nhau. Hà Nội thủ đô của cà nước tất nhiên là nơi tập trung đông đào nhất các bạn trỗi. Hội trường 16/10 hứa hẹn sẽ thu hút được các bạn và thày cô từ các vùng miến khác nhau. Chỉ riêng trong cái CB con con của nhóm mấy thằng K3 chúng tôi do Bình ngọng làm bí thư cũng đã có hầu hết anh em dự kiến sẽ ra dự hội trường. Mục đích đầu tiên tất nhiên là để gặp lại anh em chiến hữu cùng C ngày ở trường NVT, gặp lại thày cô của mình. Mong muốn là vậy, nhưng nhiều khi, mà nhất là ở tuổi này không phải cứ muốn là được nên có 2 ĐV dù đã quyết tâm, đã mua vé nhưng đến giờ chót phải bỏ cuộc, chỉ còn TLinh, T Công, X Nam và tôi (amk3) tham dự được ngày hội trường ở HN. Nhiều bạn K3 ở Phía Nam cũng không có điều kiện tới được ngày hội trường này nên tôi xin đưa lên đây hình ảnh các bạn K3 tại sự kiện này. Mong muốn của tôi chỉ là để các bạn ở xa có thể thấy lại các bạn của mình. Bản thân tôi cũng không nhớ tên một vài bạn K3 do lâu ngày quá nên cũng không thề chú thích tên từng người. Mời các bạn xem và nếu được, hãy gọi tên bạn mình.



Vì clip làm ở dạng HD, bạn có thể xem toàn màn hình bằng cách nhấn vào ô phóng to màn hình như dưới đây.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Tin buồn


Ban liên lạc Trường Nguyễn Văn Trỗi, BLL K8, BLL B6 K8 và BLL C11 vô cùng thương tiếc báo tin:
Bà Nguyễn Thị Yến, là mẹ bạn Nguyễn Kim Hậu, B6 K8 C11, sau một thời gian lâm bệnh đã từ trần hồi 4 giờ chiều hôm qua (ngày 19 tháng 10 năm 2010), hưởng thọ 87 tuổi.
Lễ viếng và lễ truy điệu sẽ được cử hành tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Lê Thánh Tông từ 10 giờ đến 12 giờ 30, an táng tại nghĩa trang Tứ Liên, Hà Nội.
K8 sẽ tập trung viếng Bà vào lúc 11 giờ.

Hà Nội trong mắt tôi - Bài 6


Xa lông, điếu cầy


Ngày Tết, người ta được hưởng cái thú đi bộ. Thành phố vắng vẻ, tinh tươm, chả pháo nổ hay kẹt xe tắc đường. “Ô sin”, thợ thuyền về quê. Nhà trọ sinh viên vắng tanh. Thế rồi bật ra câu hỏi: “Thật sự thì chen chúc trong Thủ đô mình ngày thường có tới chục triệu người không?”.
Lần đi xe ôm, biết ông lái người Xuân Trường Nam Định tôi nói bừa “Dân Xuân Phú à?”, ai ngờ ông ấy hỏi lại “Anh xóm nào?”. Người xã ông lên đây chạy xe có đến một tiểu đoàn. Gần nhà tôi có chị hàng xôi trông hay hay, hỏi chuyện ra chồng bán nước ghi đề bơm xe đầu phố, con học trường phường, còn cái ông tối tối ép nước mía cách mấy dãy nhà là bố đẻ, đều từ Thái Nguyên xuống. “Em còn bà nội trên ấy. Làng đi vãn, cụ chỉ sợ chết không ai biết, có biết thì đám ma không ai đi”.
Ngoài Chương Dương Hàm Tử có những “xóm” Hưng Yên, “xóm” Thái Bình, ngày gánh mướn đội thuê, quét dọn, rửa bát thuê ngoài phố, đêm về kềnh trong vòng tay người làng, giá hai ba nghìn mỗi đêm ngủ, tất nhiên cả tắm giặt. Đa phần phụ nữ, dai sức không thể tả và rất tiết kiệm, về quê đạp xe từ nửa đêm. Trước họ về cả vụ cấy, nhưng giờ đã “khoán” cả ruộng cho họ hàng, “tập trung vào chuyên môn” trên này. Thiếu họ, những lao động đơn giản, và thiếu đội quân “ô sin”, thành phố hẳn sẽ cuống lên.
Hà Nội, như thế, đã thở cùng một “nhịp” với vùng nông thôn vĩ đại xung quanh mình. Và hẳn là xem xét Hà Nội mà không tính đến những vấn đề của Bắc Bộ (tạm thu hẹp thế thôi), có lẽ giống đặt nồi lên bếp mà chưa biết củi lửa mắm muối đủ chưa. Vậy thì cái nông thôn ấy đang như thế nào, quan hệ với Hà Nội ra sao?
Điều tích cực thì chúng ta đã nói đến nhiều: cung cấp thóc gạo, thực phẩm, đất đai, nhân lực, nguyên vật liệu... Người tài người đẹp từ Quảng Bình Thanh Hoá ra, Lạng Sơn xuống, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xó xỉnh chợ búa đâu đâu cũng gặp... Đến đây với khát vọng đổi đời, chả mấy kẻ uể oải, đa phần đều năng nổ, bổ sung phần cần cù mạnh bạo vào cái nhịp yếm thế của người phố. “Hội tụ - Kết tinh - Lan toả”, bổ sung sinh lực, tóm lại là có rất nhiều điều hay để nói về họ. Một nhận xét khác: “mỏ” nhân tài cho Thăng Long xưa nay lớn nhất là Nghệ Tĩnh và xứ Quảng, có lẽ còn mầu mỡ hơn cả Kinh Bắc, Đông, Đoài, bởi người Nghệ người Quảng cạnh tài năng còn là ý chí vô song.
Nhưng lại cũng có cái dở, mà chả hề ít. Sự phát triển làm khoảng cách địa lý giữa thành thị với nông thôn gần lại, nhưng cái hố sâu về mức sống, văn hoá, tập quán... lại toang hoác ra. Những chú phụ nề hơn chục tuổi từ Bắc Giang xuống hay nghêu ngao câu hát về một tình yêu dang dở. Chưa hề thất tình, hẳn thế. Nhưng có lẽ trong vô thức, hàng ngày thấy cả lũ “em Chã” bằng tuổi, chú chả thể bằng lòng về phận mình. Và chú cũng có những ước mơ chứ, có điều chả hướng về ngôi nhà trên đồi có mẹ già cằn cỗi. Nông thôn đang không giữ đợc người. Cái êm ả sau luỹ tre chỉ có nghĩa là ăn đã đủ, mặc không bị rét nữa thôi. Nhưng thế chưa đủ. Đất đai ít, bởi người đẻ mãi ra, trồng cấy sinh lợi ít. Một sào ruộng chịu nhiều khoản: thủy lợi, khuyến nông, phân hoá học, thuốc sâu rầy..., mà trời không thương có khi mất cả. Một “suất đinh” chịu đóng góp các thứ quỹ xóa đói giảm nghèo, tiếp khách, bảo tồn di tích, khuyến học, người cao tuổi, cựu chiến binh, văn nghệ... của xã, thôn, của họ tộc. Thế là phát canh lấy thóc cho bố mẹ ăn, còn mình “ra đi vào chốn đô hội”, chả biết làm nghề gì khác ngoài sức vóc. Cũng không ít đàn bà, với “vốn tự có”. Cái sự ra đi ấy có thể quy cho là bần cùng hóa?
Làng xóm nhiều nơi, vùng xa là chính, đàn ông, thanh niên vãn cả, còn lại là ông già bà lão và những anh dốt nát chả có tài cán gan góc càng không. Nhà văn Dạ Ngân “miêu tả” bằng chữ “trống toang”. Ra đồng tinh đàn bà, tuy đã có đôi ủng cao su buộc cạp lên quá gối lội bùn tiện hơn, nhưng cái việc xấp mặt xuống cấy thì không thể trốn. Tệ hơn là cái nạn cường hào mới. Người giỏi giang ra tỉnh học nghề rồi ở lại, bằng không cứ lao động đơn giản cũng kiếm bằng mấy chân quê. Tết đến, ít hào đem về lại đóng tiền xây nhà thờ họ, mộ tổ, cùng bao thứ quỹ chỉ ở xó xỉnh mới có. Mấy chú đánh giầy bán báo qua bao lần “bắt cóc bỏ đĩa”, nghĩa là những đợt “làm sạch phố phường”, lại nhẩy phắt ra phố. Chúng ưa thích cái “vị” tự do (dù đầy cạm bẫy) hơn tôn ty trong luỹ tre chăng? Và thanh niên ăm ắp khát vọng với tài năng, còn chỗ nào có thể đem lại học vấn, cơ hội đổi đời hơn thành phố? Chả lẽ học xong rồi về quê, nơi lắm khi sự êm đềm lại như một tấm lưới trói chặt cá tính, nghĩ gì nói gì cũng không thể trái lời ông trưởng họ...
Vùng nông thôn gần thì sao? Không thể không nhận thấy là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thay đổi nhiều làng quê cũ kỹ. Giao thông phát triển, những khu công nghiệp mọc lên đem lại bộ mặt mới mẻ, hiện đại. Các dự án đem lại công ăn việc làm. Nhiều làng nghề đang suy sụp hồi sinh. Thanh niên rành vi tính, kỹ thuật mới, hay có thể tậu con xe tải chạy pành pành.
Nhưng cạnh phần được đó, lại là bao cái đáng tiếc. Tiếc mà không níu được, có lẽ là những di sản gắn với đời sống nông nghiệp. Nhiều nơi đập cổng làng, xén đất đình cho ô tô đi. Cái hình ảnh một làng quê xấu đi là rõ nhất: đố thấy còn nhà tranh, nhưng “kiến trúc” mới chả có quy hoạch quy chuẩn nào, cứ xây chằn chặn xìn xịt mà cái nọ chửi bố cái kia. Vườn tược cây cối ao chuôm biến mất khiến nước thải chẳng còn chỗ chảy, vừa đem theo cái vẻ êm đềm thanh mát vừa khiến hàng xóm to tiếng.
Dù sao cái phong cảnh “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” đó còn xa xỉ chán, chỉ mấy lão thi sĩ tiếc quắt ruột. Đáng ngại, là hậu quả của việc mất đất canh tác cho các dự án. Vèo cái, qua một đêm, người nông dân gần đô thị có cục tiền cả đời mơ không thấy. Nhưng vẫn là cái anh chỉ biết cấy cầy mà không còn đất, họ đâm thất nghiệp. Tiền dự án đền bù cho sẽ xoay ra làm gì, càng nhiều có khi càng xảy sự, con cái tranh giành, họ tộc đòi góp. Nhà lên được, xe đã mua, có dễ con thành hỏng. Đất đã sụt dưới chân, mà chuyển nghề chạy chợ thì cụt vốn có khi, bởi “quê ta thuần nông, có mả làm thương nghiệp đâu”. Đó là những con tính nát óc bao ông chủ gia đình. Một điều tra của Đại học Kinh tế Quốc dân trên địa bàn Hà Nội vừa cho biết 57% nông dân dùng tiền đền bù đất đai để xây nhà, chỉ có 1% đầu tư cho nghề mới và 3% cho học nghề. Sự thay đổi là cần thiết với đất nước, thủ đô, làng xã, nhưng xa xôi quá, với họ thì lại nhanh và nghiệt ngã khiến trở tay không kịp.
Và ngay ở phạm vi đất nước, cái đất nước xuất khẩu gạo vào loại ác chiến trên thế giới bỗng dưng lại đối mặt với vấn đề an ninh lương thực, thì hẳn là phải có chuyện trong đường hướng phát triển rồi. Giá đắt chừng nào trời nào mà đong!
Dầu sao, cảnh khó của làng quê gần còn là ước mơ của bao xó xỉnh xa xôi. Và lại dầu sao “giầu nhà quê không bằng ngồi lê kẻ chợ”, nên chi “Làng ơi, chào nhé”, nên chi “Cô dì chú bác ở lại, cháu ngược”.
*
Mấy chục vạn, hay mấy triệu người kéo lên Hà Nội, chả biết. Lên theo thời vụ hay thành hẳn “người phố” là mấy phần, chả hay. Chỉ biết cái nội thành cho triệu người là vừa giờ san sát, cựa cái đã chạm nhau. Diện tích mở rộng, đường xá thêm ra, nhà cao tầng rộng lên cho tiết kiệm đất, bao nhiêu cũng không đủ. Thủ đô như cái đầu máy phải gánh phải kéo vùng nông thôn, thở hồng hộc, lem nhem, kém thanh lịch đi. Cũng phải, vì tiền xây cất là còn do thuế từ nông thôn chứ. Và thành phố đâu phải chỉ của người ở đã lâu, ai cấm ai vào được.
Người nông thôn mang vô vàn sức lao động đến, kèm theo cách sống của họ. Tư duy tuỳ tiện, áp dụng lệ làng, xây cất cơi nới, đi đứng hồn nhiên, phạm luật mà không biết. Đa phần lao động đơn giản, họ thành công cụ cho người chủ, có thể bị bóc lột, làm nạn nhân, cũng có khi phá đám lại chút ít. Thành phố cần họ và hiển nhiên, “xếp” họ vào đẳng cấp dươi dưới. Với cái “dươi dưới” ấy, và với tâm lý đi ở tạm “hàng xóm”, liệu họ có yêu quý, lo cho cái cộng đồng chung bằng cho làng nước mình? Từ đấy đến chỗ vứt con chuột ra đường, đái một bãi “mặc bố thằng nào ngửi” rất mỏng.
Nhưng có những con người có chí tiến thủ, học hành đầy đủ, chiếm được những vị trí cao, đủ quyền lực định đoạt việc lớn. Sự tác động của họ vào đời sống đô thị có hay dở của nó, chỉ xin nêu ra ở đây cái phía không tích cực.
Từ nơi khác đến lập nghiệp, cái tâm lý không tự tin và cũng chả tin người rất dễ có. “Cơ chế” cục bộ, co cụm để bảo vệ nhau xuất hiện. Những “tập” người hình thành xung quanh vị “gia trưởng” mới để “chào cờ xã ta”. Người huyện người họ kéo ra, dùng người tài theo kiểu hẹp hòi... ác nghiệt nhất là những ông tiểu nông ấy mà càng quyền cao chức trọng học hàm học vị xum xuê với cả cán bộ đảng viên nữa thì càng “Thôi rồi Hà Nội ơi!”. Nhiều yếu tố khiến cơ cấu dân cư thành phố vỡ một cách “tinh tế”, công tác tổ chức, cán bộ bị ảnh hưởng. Cái tâm lý “chín bỏ làm mười” thâm căn cố đế chiếm dụng, lấn át tư duy duy lý - nhất là trong khoa học, khiến nhiều khảo sát, điều tra, giải quyết vấn đề không được đẩy đến cùng. Và còn những biến thái nhỏ li ti nữa không thể không nghĩ tới. Như là liệu không gắn bó, yêu quý Hà Nội, người ta có chỉ tính tới những giải pháp ngắn hạn, “có tính chất nhiệm kỳ” cho nó? Như là một thành phố không có những dòng họ trí thức lớn như Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hồ Đắc, Hà Thúc ở Huế, hay “Hà Tĩnh họ Phan Nghệ An họ Hồ”, thì liệu có mất mát không? Nói thế thật ra không chính xác lắm, vì Hà Nội chi chít làng xóm, dòng tộc khoa bảng. Nhưng sao đã ngót nghìn năm theo Nho giáo, trí thức đô thị nhiều người huỷ tiết tháo đi, hành xử cứ hay khép lại, không nói ra cái điều họ nghĩ? Có một nỗi ám ảnh thường trực nào chăng?
Thành phố của chúng ta đa sắc thật. Những mảng mầu. Những tập người. Những thời khắc... Hệt như cái kính vạn hoa, chỉ nghiêng đi một tý đã thấy khác.

Trần Chiến

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Hình K3 tại Hội trường NVT 45 - Hà Nội.


Bên ngoài hội trường - Cung văn hóa hữu nghị VX.
Trông không khác mấy so với hơn 30 năm trước

Hà mèo cũng đang lọ mọ kiếm tư liệu cho clips tiếp theo của mình.

Lý nhím từ Nha Trang và dân bản địa - chú Phi...Nhìn dáng chụp hình biết ngay là còn teen chán.

Bác Trần Đào - tay còm sắc bén nhất Blog K3.

 TL (không phải Thùy Linh) Đ. tá đương chức...của hiếm trong AE k3 đấy. 
Hai bác chấp hành khuyến cáo về trang phục dự Hội của BLL trường nghiêm túc nhất K3.

Hai L, Khắc L Và Tuấn L đều là đại biểu xa về dự hội trường.

Các bạn SG còn nhớ ai với ai hông??? Tui nhớ hết, trừ đ/c áo màu trứng sáo đứng cạnh chú Phi.

Đấy nữa, đứng cạnh Bắc cóc, trước H Bằng hình như không phải K3, nom trẻ quá.

Nhà báo Hồ Bắc - Quốc Quân

Thắng Lợi và Q Giới

Có hình tui ở đây! ủa mà đây là Quân Ali mà...đâu có phải B cóc đâu?

Ở đây có thêm nhà báo TC, Chí Đỉnh và cạnh hắn là ai nhỉ? tui không nhớ.

Cùng ông bạn DTL. 

Một vài hình ảnh K3 ở bên ngoài hội trường. Mới chỉ có một vài khuôn mặt bạn K3. Sẽ có nhiều hơn nữa khi ta vô trong hội trường. Giống như Hội Trường ở HCMC, các khóa được phân công ngồi tập trung thành từng khu riêng nên rất tiện điểm danh, chụp hình. Tuy nhiên tại đây bạn cũng đừng hy vọng thấy lại tất cả K3. Chỉ khi  ngồi vào bàn nhậu thì ai cũng sẽ có mặt cả! . Lượng hình chụp được cũng tăng nhanh chóng ở phần Lễ và đặc biệt ở phần Hội. Xin mời các bạn xem tiếp ở bài sau.

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Cứu hộ 33 thợ mỏ Chi lê dưới góc nhìn của một "lính" Dù

Sự khó khăn, nguy hiểm, tính phức tạp về kỹ thuật trong việc cứu hộ 33 công nhân kẹt trong lòng đất dưới độ sâu 700 m ở Chi lê đã được báo chí đăng tải. Ở đây, dưới góc độ của một kẻ chơi Dù, tôi xin nói về mặt tâm sinh lý khi con người bị “leo” (chuyển động lên cao).

Trong vụ cứu hộ, để đưa công nhân lên mặt đất, họ nhốt anh ta trong cabin chật như chiếc quan tài. Tất cả tối đen. Cô đơn. Anh ta không biết gì và bị mất phương hướng (hiểu theo nghĩa đen). Khủng khiếp. Cabin “leo” với vận tốc 1m/s làm anh ta nôn nao muốn ói, hay tệ hơn, muốn xỉu, hay tệ hơn nữa, hoảng loạn.

Con người có khả năng kiểm soát, cảm nhận sự di chuyển trên mặt đất (ngang dọc). Khi lái xe hơi, anh ta thoải mái, và hăng lên, có thể “kéo” trên 200 km/h (ở xa lộ EU) mà vẫn bình thường. Nhưng với chuyển động lên và xuống, anh ta lại không dễ dầu thích nghi, bởi con người là loại động vật sợ độ cao. Anh ta hồi hộp khi “rớt” xuống, nhưng hồi hộp hơn là lúc “leo” (kể cả vận động viên Dù có hàng ngàn lượt nhảy hay hàng trăm giờ bay).

Tốc độ “leo”:
Tốc độ 1m/s (3,6 km/h) chỉ là tốc độ dạo phố, nhưng BỊ “leo” với tốc độ hơn 1/ms có thể làm cho người ta lạnh xương sống, có kẻ tim bị ngừng đập một vài giây, nhất là khi anh ta thấy mình đang ở trong điều kiện không an toàn. Một lần tôi bay dù lượn vào vùng khí thăng hơi mạnh, tôi bị “leo” hơi nhanh (hơn 1 m/s thôi), dù “phực phực” giật giật, bỗng dưng cảm thấy … lạnh, đành kéo cho dù trượt ra khỏi vùng thăng. Nhưng ngược lại, “rơi” với tốc độ 1 m/s thì quá êm, phải cỡ 10 m/s (36 km/h) đổ lên mới thấy “hay”, còn nếu đi mô tô (không leo, không rơi) thì phải lối 28 m/s (100 km/h).

Không nhìn thấy đích:
Ban ngày, khi VĐV rơi khỏi máy bay, anh ta hoàn toàn bình tâm vì đất trời minh bạch, nhưng chỉ cần bay đêm hay đơn giản hơn là chui vào đám mây mù là … khác ngay. Tôi một lần bị trôi vào mây mù. Không thấy trời, không thấy đất và đích đến, mất phương hướng, một nỗi sờ sợ kì lạ như bị mất giác quan. Một VĐV bơi qua eo biến Manche (cự li 22 dặm) và đã bỏ cuộc khi chỉ còn cách bờ nửa dặm, mặc cho HLV cam đoan rằng “chỉ còn nửa dặm thôi!”. Cũng chỉ vì lúc đó trời mù nên VĐV không nhìn thấy đích – một nỗi lo sợ vô cớ của loài động vật có tư duy. 3 tháng sau, VĐV này đã bơi qua eo Manche một cách mĩ mãn “vì đã trông thấy đích”.

Sự chế ngự nỗi sợ: Tính chuyên nghiệp của đội cứu hộ và việc tập huấn cho 33 thợ mỏ là rất quan trọng, nhưng phải nói đám thợ mỏ này (trừ 1 người) đều là dân kì cựu – họ có bản lãnh và tự tin.

Số liệu không liên quan (chỉ để xem chơi):
Định luật rơi tự do nói, vận tốc của vật rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của nó.
Nhưng nó chỉ chính xác hoàn toàn khi không xét tới sức cản không khí.
Theo đúc kết của hội Dù thế giới, trên thực tế, với độ cao dưới 4.000 m, tốc độ rơi tự do của VĐV nhảy Dù (không phụ thuộc trọng lượng VĐV và phụ kiện) như sau:
Thời gian rơi (s) \ Tốc độ rơi (m/s):
1\9.8 – 2\19 – 3\27 – 4\33.5 – 5\45.5 – 6\47.5 – 7\49 – 8\49.5 – 9\50 (đã rơi được 287 m) – 10\50 – 11\50.5 – 12\50.5 – 13\50.5 – 14\50 - 15\50(...nt...) – 30\50 (đã rơi được 1.330 m).

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

K3 mời bạn giao lưu -Tin nhắn Thái Chi. 13/10/2010, 8:11

Toàn văn như sau :


TM BLL K3 Kính mời Bạn và nhờ bạn THÔNG BÁO đến toàn khoá k3 Tham dự buổi giao lưu Toàn quốc. KHOÁ 3 Hà Nội Đón tiếp Các Bạn K3 Sài gòn,Đà Nẵng,Huế,Hải phòng,Thanh Hoá Thái nguyên về Hanoi. thời gian 11g 30 ngày 15 th10 tại Bia Hải xồm số 23 Nguyễn Đình Chiểu HN,Tại buổi giao lưu xin gửi Giấy mời cho Bạn Chưa nhận và Phổ biến Nội dung k3 Hưởng ứng toàn diện lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Trường Cám ơn.
   Thái Chi.

Vài suy nghĩ về cuốn SRTKL3


Gần đây thấy mấy “pác” bình phẩm cuốn SRTKL3 nhiều quá làm tôi “ngứa ngáy” cũng muốn “sổ” ra theo.
Trước hết xin nói : tôi cũng là một “nạn nhân” trong cuốn SRTKL3. Một số bài của tôi được mang tên người khác, một số bài được sửa chữa, thậm chí biên tập lại mang ý nghĩa khác hẳn ban đầu. Tất nhiên là chẳng thích thú gì với chuyện đó. Song nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại.
Từ ngay sau khi tập 2 ra đời, tôi đã trực tiếp cũng như gián tiếp nghe nhiều bạn Trỗi (xin miễn nhắc tên ra đây) nói : Sách đ. gì chỉ có vài thằng viết mà cũng gọi là trường Trỗi. Tại sao không có bài của khóa này, khóa kia, của thằng này, thằng kia viết rất hay …. Và tôi được biết, ngay ở tập 2 đã có một số bài mang tên không đúng của tác giả, song không có ai thắc mắc gì. Hay là vì hồi đó chưa có blog, nên cũng chẳng ai biết, ngoài tác giả và BBT. Hay là vì các tác giả này cũng suy nghĩ như tôi thế này :
Như đã một lần giãi bày cùng AE trong bài “Tôi viết bài cho blog Trỗi” đã đăng cũng lâu rồi (không nhớ chính xác thời gian) : tôi chẳng biết viết văn (hồi Trỗi vốn là học sinh dốt toàn diện mà!), nhưng vì bức xúc với những kỷ niệm xưa, kỷ niệm với những người bạn ba bốn chục năm trước mà nay vẫn là bạn (chứ đời nay, bạn bè người ta tính theo tuần là quá lâu rồi) nên mới viết ra những gì mình nghĩ mà chia sẻ với bạn bè. Tất nhiên văn nói (như tán gái) thì dễ, nhưng văn viết thì không dễ chút nào, mà văn trên blog chắc cũng không thể như văn trên sách (hay là vì tôi dốt nên mới nghĩ thế?). Bởi vậy nếu “người ta” đưa “văn mình” lên sách chắc chắn phải “tút” lại thì mới thành “vợ người” được chớ. Âu cũng là chuyện thường.
Với cái thằng dốt như tôi được nhìn thấy văn của mình in thành sách thì đã là tự hào lắm rồi dù cho đó chỉ là sách nội bộ AE mình nên dẫu có “bị” hay “được” sửa thế nào thì cũng thấy “đã” lắm chứ không phải như mấy “pác” văn nghệ sỹ “pro” có đủ “trình” để làm “cần câu cơm”. À, mà các “pác” muốn “câu cơm” thì cứ “câu” đi chứ sao lại phải đăng “nháp” lên blog để AE góp ý cho hoàn chỉnh rồi mới “câu”. Vậy “cái cần câu” của “pác” có bản quyền đứng tên ai? Theo luật là tên tập thể đó. Vậy khi “câu” nhớ xin phép tập thể nha(?). Mà có một số bài khi đăng lên, thấy có người bình : hay quá, xin được đưa bài vào tập 3 – Chẳng thấy tác giả nào trả lời. hay là theo thuyết “im lặng là đồng tình”?
Thôi lại nói bậy rồi. Xin quay lại chuyện AE mình. Tôi đang đặt địa vị mình vào vị trí người biên soạn cái tập 3 này (tất nhiên chỉ là tưởng tượng vì tôi không có đủ khả năng và trên hết là không đủ nhiệt tình để làm “chùa” như vậy). Trước hết tôi kêu gọi AE viết bài để biên soạn. Kêu gọi mãi, chẳng thằng đ. nào gửi bài mà chỉ toàn bình phẩm, nhận xét cái cuốn sách mà lúc đó thậm chí còn chưa được “thụ thai”! Vậy là “xù”? Nhưng mở mấy cài blog “bán trời” thấy có quá nhiều bài hay, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện trời, chuyện đất … chẳng thiếu gì, mà toàn theo đúng giọng “bán trời” tụi mình cả! Hỏi thăm lại, thì số AE xem blog chưa tới 100 người. Vậy còn khoảng 1000 nữa không biết. Ô là là! Chuyện Trỗi, văn Trỗi mà lính Trỗi không biết! Làm nhiều khi đi nhậu, nói dóc chuyện blog chẳng ai biết. Chán thật!
Rồi lên blog thì … ôi, cả ngàn bài, hoa mắt! Thế là đành mò mẫm 6 trang blog từ mấy năm nay đến giờ rồi chọn lọc. Bài này chọn- bài này bỏ - Chọn – Bỏ - Chọn … Xong! Đọc lướt lại khoảng năm sáu trăm bài để lấy ra 300 bài cho đủ khoảng 1000 trang (vì tính tương đương T2 mà!). Đang đọc mới nhớ : mẹ, có bài giống thế này mà còn hay hơn, nhưng mà ở blog nào nhỉ? Vậy là lật lại tìm hết 6 blog trong 3 năm mới sực ra : bài này thằng kia gửi mail cho mình chớ đâu có đăng blog…. Xong! Nhưng thế đêk nào, mấy trăm bài cũng chỉ loanh quanh vài chục thằng. Bỏ mẹ! Lại có chuyện “sách riêng của mấy người!”. Thế là đổi tên, gắn tên,… tùm lum cả. Gọi điện cho thằng này, nhắn tin cho thằng kia, rồi lại gọi điện lại, rồi… chết mẹ lại quên thằng này,…. Trong khi “đại lễ 45 năm” đã đến gần, mà còn xin phép, in ấn, ứng tiền, xin tài trợ, tinh toán số lượng, vận chuyển …thượng vàng hạ cám. Nhờ thằng HM thì : em đ. biết! Nhờ thằng XYZ thì : mày cứ làm đi! Rối cả lên, nhầm lẫn lung tung mà chẳng có ai kiểm tra lại cho. Vậy là đành tặc lưỡi : thôi thì AE mình cả. Nó chửi thì mình nghe. Sori! Vậy là sori liên tục ….
Vậy đó, cứ tưởng tượng ra chuyện đó là thấy ngán rồi. Ai làm thì làm, chớ em xin lỗi : ai làm em xem, em vỗ tay … và nếu “ngứa mồm”, em “góp ý” vài lời nếu có sai thì là “tại thiên tai”, mà lỡ đúng “là nhờ thiên tài …” của em! Ha ha!!!

   HMk6