Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Đi đảo Lý Sơn



- Mạng cho biết LS là huyện đảo của Quảng Ngãi, rộng 9 km2, có 2 vạn dân thuộc 3 xã. Ba đặc sản nổi tiếng là tỏi, nghề lặn hải sâm và Hải đội Hoàng Sa lập thời Nguyễn. Hàng năm hải đội này làm lễ “Khao lề thế lính”, tức là được tế sống trước khi ra HS vớt đồ tàu đắm, lấy đồi mồi, hải sâm. Anh nào còn sống đem về Huế lĩnh thưởng.
- Từ cảng Sa Kỳ ra LS 40 km, chạy tàu khách cao tốc chừng 80 phút. Bến ngoài đảo là bến tạm, chủ yếu tàu cá trốn bão, có hai cây xăng. Áp phích “Không xâm phạm lãnh hải khác” và tuyên truyền bầu cử. Trong đảo nhiều chỗ bán xăng lẻ 25k/l (trên đất 21,4k/l). Đang có đám cưới, chú rể giáo viên trên đảo câu cô dâu từ đất về, cũng giáo viên, “chưa có chỗ dạy nhưng cứ cưới cái đã”. Trời nóng, đội hình hai nhà côm lê côm táo cài hoa đẫm mồ hôi. Sau biết là ngày tốt, còn 3 đám nữa.
- Cây cối thì có bàng vuông, phong ba, mít, cau, dừa. Hành tía ngâm dấm ngon, nhưng tỏi thì cả vị và mùi đều không được gắt như tỏi bắc. Dưa hấu quả nhỏ, thấy bảo rất ngọt. Đang hạn nặng, cái đập thủy lợi trên núi Chình chắc hết công suất rồi. Người ta “múc” cát biển lên đổ vào ruộng tỏi, đâu như làm hỏng thềm biển, gây xâm thực nặng. Nhưng ko làm vậy thì sống bằng gì.
- PCT huyện Phạm Thị Hương: 3000 người đi biển với 409 tàu thuyền (120 chiếc đánh bắt xa bờ kiểu Phi Hùng, Trung “lột”). 1 trường cấp 3, ba xã mỗi nơi một cấp 2, một cấp 1, một mầm non. Thi đại học cộng 1,5 điểm. Quy hoạch khá xôm, du lịch, làm kè chống sạt lở, khu đóng tàu, sơ chế hải sản, cấp dầu, nước đá. Ngư dân bị tàu TQ bắt không thể tìm nghề khác, mà tàu thuyền không còn. “Dân rất lỳ, tàu nó đuổi ném quả nổ (?) là thôi. Hoặc đang làm chủ giờ mất tàu vẫn làm bạn, tức là thủy thủ được thuê, đi tiếp. Cũng có cho vay vốn khôi phục làm ăn, cấp 3 tháng x 15 kg gạo / người trong gia đình người “mất tích” (thực chất là không còn)”. Chị Hương cho mượn chiếc xe công gây ấn tượng bằng con Lada trên đất, ko mũ bảo hiểm ko bị bắt, khi về quẳng lại bến, có người ra lấy. Quý như vàng!
- Bảo tàng về Hải đội HS có hình thuyền câu, tàu đi xa ngày xưa, tư liệu HS “của ta”. Ấn tượng nhất là chiếc chiếu, bộ nẹp, dây song, anh nào ngóm bó lại thả xuống nước, may dạt vào bờ nhận được tên khắc trên thẻ tre. HS trời nước mênh mông / người đi thì có mà không thấy về / HS mây nước bốn bề / Tháng 2 khao lề thế lính HS.
- Lặn hải sâm phải ở vùng nước trên 20 sải tay, nghề cực kỳ nguy hiểm. Làm hớp nước mắm, ngụp xuống, con hải sâm chừng một ký, được một tạ bỗng nhiên thành tỉ phú. Nhưng có thể lên là liệt cả đời. “Dân LS giờ khôn lắm, ít lặn, toàn thuê người Thái Bình, Nghệ Tĩnh vào, rủi chết bù trăm triệu”, chủ quán Thủy Tiên kể. Quán này trưa có bún, mực rất tươi, uống rượu gạo mồ hôi chảy rầm rầm.
- Bờ đảo chi chít miếu, am, đình, đền, nhà thờ họ nhà thờ tổ, chùa chiền. Cá Ông (voi) giạt vào đâu làm lăng chỗ đó. Phật giáo (cả Tiểu và Đại Thừa), Cao Đài, Gia Tô, Tin Lành cùng chung sống. Có nhà vợ theo đằng này chồng đằng kia. Dưới bóng cây bàng lực lưỡng là miếu thờ bà Thiên Yana Hộ quốc an dân, thực chất là thần Chăm Pônaga được người Việt “chuyển hóa” thành “của mình” khi Nam tiến. Vì “mượn” đất Chăm nên nhiều nơi còn tục cúng thần đất (của họ) hàng năm, gọi “tá thổ”. Nghĩ đến chữ “tá điền”, “tá túc”, chắc là mượn đất mượn chỗ ở.
- Ông Võ Hiển Đạt, sinh 1932: cả thôn có 24 tòa lăng miếu “chính thức”, còn các gia tộc, chi nhánh, phe giáp có 40 – 50 cái “riêng”. “Mùa biển được thì cúng vài triệu làm miếu là thường”. “Không có khoa bảng, đỗ đạt cao, nhưng thầy Nghệ thầy Quảng dạy chữ Nho nhiều lắm”. “Có nghề có chữ vào đất, anh nào ngu mới đánh cá”.
Nghĩ bụng: nghề biển bất trắc, phải cúng kĩ kiêng nhiều, thần phật chúa thờ hết, càng nhiều thần “độ” càng đỡ rủi ro. Tâm lý thế chăng? Và các thầy đồ dạt ra đây chắc cũng lắm thân phận kì bí lắm.
- Lê Minh Tân, sinh 1962, đi HS lấy rau chân vịt cùng 5 thủy thủ, qua Tết con mèo rồi ko về, giờ là tấm ảnh trên bàn thờ. Con gái là Thanh: “Nhà con 5 người giờ còn 4”. Tân theo Cơ Đốc, cha đạo không làm lễ “vì có xác mới cầu hồn”. Sau tết đảo thêm 6 mộ gió, bên dưới là hình người bằng đất sét, trên có bia, đám tang có cúng, đưa tiễn, khóc than như có xác thật. Một nghi lễ cho người sống an tâm là đã đưa thật chăng? Nếu không làm thế mà còn trông chờ hoặc làm tạm bợ, chắc sẽ khắc khoải mãi, chắc thế.
Anh vợ Tân kể TQ giờ không thu tàu, không đánh đập, hút dầu nữa, mà cắt dây hơi của thợ lặn. Thế là phải về, mất tong trăm triệu.
- Bùi Văn Hải, 21 tuổi, tóc đỏ rực, lực lưỡng. Vợ rất xinh, trắng trẻo, làm mướn trong SG được 1,5 triệu / tháng đã trừ ăn. Tàu Hải đang ở HS, cách 170 lý thì hai tàu nó áp hai bên, dắt vào. Đấm đá đạp, ăn đói, món thừa. 40 ngày thì thả, nhưng nó lấy hết đồ nghề, máy hỏng, lấy chăn làm buồm, trôi, gặp tàu TQ khác dắt vào biển ta, báo cho tàu ta dắt vào Dung Quất. “Bị lần thứ hai đấy. Giờ chỉ đi Trường Sa thôi, nhưng tàu hư chưa biết đi thế nào”.
Báo chí đưa quá nhiều về “sói biển” Mai Phụng Lưu, TQ “bắt hoài vẫn đi, nó ngán quá”. Mình không đến đấy vì sợ “đụng hàng”. Hóa ra Hải là con rể ông Lưu. Lưu không còn tàu không đi xa bờ được nữa, giờ chỉ đi ghe trong lộng, sáng ra chiều về; tức thị “đẳng cấp” phương tiện chuyển từ “taxi” xuống “xe đạp ôm” rồi.
- Đi biển tắm nước mặn thì thoải mái, xong lấy khăn nhúng nước ngọt lau cho đỡ rít, chừng một lít là sang lắm rồi. Bị thương lấy tỏi đập dập dịt vào.
- Nghe người đi trước bảo nhà khách huyện lắm rệp, bèn ra ngủ nhờ huyện đội. Điện có từ 17 – 23 giờ, sau đó cách gì cũng phải chợp mắt, vì 4 giờ đã sáng trưng. Đang tuần trăng, nằm trong màn “đấu tranh”, ở lại thì nhặt được nhiều tư liệu làm nghề quý lắm, nhưng ngủ thế này thì quá cực. Và không có hàng cơm. Được mời là sợ, vì chỉ có uống, bia thì ít, đá là chính. Đấu tranh cho đến khi chả biết mình đang làm gì nữa.
 (Hình ảnh từ daolyson.com)

TC - K3  

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Dương Thanh - Giới thiệu Bài hát thời Xô viết






Dương Thanh
TRƯỜNG TSQ NGUYỄN VĂN TRỖI    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
       BAN LIÊN LẠC - K3                        Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
                                                   Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2011

THÔNG BÁO số 4
Về tổ chức lễ gặp mặt khóa 3
Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi năm 2011

Kính gửi : Các thầy cô giáo,Các đồng đội khóa 3
            Trưởng ban liên lạc các khóa 1 đến 8 Trường TSQ NguyễnVăn 
                        Trỗi .

       Theo truyền thống hàng năm cứ đến Chủ nhật đầu tiên tháng tám, khóa3 tổ chức Lễ gặp mặt. Ngày 9 tháng 7 năm 2011, Ban LL khóa 3 đã họp bàn để xem xét những điều kiện  thuận lợi, khó khăn và khả năng cũng như nguyện vọng nên tổ chức lễ gặp mặt sao cho phù hợp với tuổi tác hoàn cảnh hiện nay… Sau khi  thảo luận và cân nhắc các ủy viên BLL tham gia  đã đi tới thống nhất như sau:
1.  Tổ chức lễ gặp mặt truyền thống khóa 3 vào chủ nhật đầu tiên tháng 8 là ngày 7 tháng 8 năm 2011 tại khu “ Nhà nghỉ bạn bè - Cối Xay Gió” trên bán Đảo thuộc lòng Hồ Sông Đà-Tỉnh Hòa Bình, thay bằng tổ chức tại Hà Nội.
2. Thành phần tham dự: Toàn thể thầy cô giáo, Các Đồng đội là học viên là người nhà thuộc K3, Các đại diện các ban liên lạc các khóa Trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi.
  Đồng chí Trưởng ban thay mặt Khóa 3 ra văn bản chính thức thông báo đến toàn thể các đồng đội khóa 3, thay giấy mời, để Các đồng đội  sớm nắm được chủ trương tinh thần cùng tham gia (sớm đăng ký) giúp BLL triển khai thực hiện lễ gặp mặt K3  được trọn vẹn”.
 Ban liên lạc K3 kính mời đại diện các giáo viện và BLL các khóa Trường TSQ Nguyễn Văn Trỗi  nhiệt tình tham gia vào buổi lễ gặp mặt của K3 và sớm đăng ký để BLL K3 triển khai thực hiện  Lễ gặp mặt được trọn vẹn.
3.Chương trình cụ thể:
-  Thời gian: tổ chức Lễ gặp mặt - một ngày,
-  Xuất phát rời Hà Nội đi Hòa Bình 7giờ sáng chủ nhật ngày 7 tháng 8 năm 2011. Sau  khoảng 2 giờ  hành trình, qua quãng đương 92 km, đến cảng  Thung Nai -Hồ Sông Đà,(giai lao giữa đường do từng xe quy định)
 Ban tổ chức có 2 xe . Một xe 15 chỗ đón các đồng đội tại Binh đoàn 11-Nam Đồng do đ/c Cao long Tỉnh thụ trách ( số dđ 0903224247). Một xe dự kiến 30 chỗ đỗ tại ngõ 30 Lý Nam Đế, do đ/c Nguyễn Thắng phụ trách, số ĐT 0903420283.
( Kính mời các thầy cô giáo, đại diện các khóa và đồng đội khóa 3 đăng ký xin tập kết tại Nam Đồng hay ngõ 30 phố Lý Nam Đế Hà Nội để lên xe).
Rất hoan nghênh với các Bạn, các đồng đội, đại diện có xe riêng tự đi và xin các bạn đăng kí trước để BLL K3 nắm rõ số lượng và bảo đảm có mặt tại cảng Thung Nai -Lòng Hồ Sông Đà, không chậm hơn 9giờ 30.
- 9giờ đến 9giờ 30 Tổ chức  điểm danh. Tập trung đủ số anh chi em đi xe của Ban Tổ chức và tự đi bằng các xe cá nhân. Xuống thuyền ra đảo- đến nhà nghỉ  “cối xay gió”.
-10giờ 30’ đến 13 giờ 30’ (3 tiếng)  Tuyên bố khai mạc lễ gặp mặt k3, giao lưu, liên hoan, theo chương trình. Với tinh thần” Đồng đội luôn có nhau”
-14giờ đến 16giờ30, rời đảo lên thuyền thăm quan lòng hồ Sông Đà, khám phá, thượng ngoạn cảnh quan mặt hồ và ghé bờ lên chùa cầu an.  Cập bến lên xe về Hà Nội. Kết thúc - 18 giờ 30 tại Ha nội ( nơi xuất phát).
(* Những bạn có nguyện vọng muốn lên trước, hoặc ở lại về sau, hoặc đi bằng xe riêng - Hoặc chưa rõ Đường đi và các thông tin liên quan đến nhà nghỉ, nếu có nhu cầu xin lien hệ đăng ký trước hoặc xác định lại thông tin về cách đi, ăn ở … gọi cho Ban tổ chức - đc Lữ Thái 0913212595.  Kinh phí, dự kiến một ngày đêm , trên dưới 300.000 vnđ- ăn, nghỉ và đi tham quan.)
4. Thông báo này xin thay giấy mời trực tiếp. Ban liên lạc khóa 3 mong miễn cho mọi lễ nghi, chỉ căn cứ vào thông báo này và tin nhắn gửi trực tiếp đến các ban, các thây cô, các khóa  với sự kính trọng, và trân trọng nhất, mong các đồng đội thông báo cho nhau để đăng ký với Ban tổ chức k3, gồm; Thái Chi-0923008888 hoặc 0904142176; Nguyễn Thắng 0903420283, Lữ Thái 0913212595 (từ nay đến trước ngày 3 tháng 8 năm 2011).
5. Lễ gặp mặt K3 lần này  mang ý nghĩa “Đồng đội luôn có nhau” khi đã và đang bước vào U-60, gần 100% đã và đang về hưu..Do dó từ  chương trình nội dung, chọn vị trí,  cách mời, lễ tân, hậu cần, xin được đơn giản hóa mọi cuộc vui đêu có những ưu va nhược K3 xin thay vào đó là sự trân trọng, đầm ấm và thực long. Trong lễ gặp mặt sẽ nặng về giao lưu, không băng rôn khẩu hiệu, không quân nhạc, văn nghệ khai thác tại chỗ-địa phương, của K3 và các khóa, thay phát biểu bằng những tâm sự với sư mở rộng gạp gỡ sau nhiều năm không thấy nhau- anh chi em cùng  vãn cảnh trên bờ và du cảnh trên thuyền, với cái nóng của đô thị nay được thay bắng miền mới lạ hùng vĩ bởi không giang thoáng đáng hài hòa, mát mẻ trên mặt nước lòng hồ  bao la in hình các đảo được tạo ra do núi đồi nửa nổi nửa chìm tại đó có sản phẩm  made in long hồ Sông đà phong phú. Trên đảo ta tổ chức lễ gặp mặt là khu  nhà nghỉ bạn bè  mang tên ”Cối xay gió”-rất lãng mạn, ở đây luôn nở hoa, vào mùa này- hàng cây phượng tím lạ lẫm được mang từ Nam phi về trồng, rất sẵn cá tươi, cá xông khói, nếp nương và gà nuôi chay quanh đảo, đặc biệt giàn tiếp tân với trang phục và cách tiếp đón, chúc rượu rất mộc mạc theo văn hóa Mường sẽ cho bạn sự tự nhiên đầy ấm áp, và khó quên…Tất cả đó là tình cảm là mong muốn của Khóa3 với tấm lòng  thiết thực muốn thể hiện gửi tới với toàn thể cái mộc mạc không khách sáo để khi mọi người ra về ghi nhận hình ảnh “Trỗi”- luôn gắn bó, có nhau Dù ở tuổi nào, dù cương vị nào.
      6. Về kinh phí, Khóa 3 may mắn có được sự tự nguyện tài trợ tiền mặt và một phần kinh phí (Bữa ăn trưa và cơ sở tổ chức lễ gặp mặt lần này).  Nhân đây xin thay mặt toàn thể anh chị em khóa 3  Chân thành cảm ơn sự đóng góp rất vô tư đó.
       BLL vẫn huy động đóng góp thường niên theo tự nguyện không bắt buộc cho quĩ lớp để chi cho công việc cần thiết của khóa.
    BLL Khóa 3 mong muốn đồng đội trong khóa thông tin và  thông báo ngay cho nhau để đăng ký tham dự lễ gặp mặt năm nay được đông đủ và nhân dịp này mong K3 thể hiện sự hiếu khách với các thầy cô giáo và đồng đội Trỗi  là anh chị em  đến với K3. Dù ít hay nhiều không quan trọng bởi lúc này do hoàn cảnh tuổi tác và trạng thái đến với từng người khác nhau co vui có buồn và quan trọng  chúng ta có nhau …chỉ có thế; khóa3  xin cảm ơn trước và xin thứ lỗi nếu có gí xơ sẩy ngoài ý muốn…K3 sẽ thực hiện chu đáo chương trình này.
Đây là kế hoạch tổng thể, có thể còn điều chỉnh và xử lý cho phù hợp thực tế, mong sự đóng góp của các đồng đội (xin gọi hay nhắn tin trực tiếp cho Trưởng ban -Thái Chi 0904142176- 0923008888).

Chân thành cảm ơn.
Thay mặt BLLk3-Thái Chi.

Thông báo của ban liên lạc K3 phía Bắc



Nhấp chuột vào bản thông báo xem cho rõ.

Về bài thơ "hoa xuyên tuyết" của thi sĩ Trần Xuân Lăng - K3

Lần ấy , cũng như mọi lần , vào khoảng cuối năm 1967 ở trường mới Quế lâm , đại đội 10 chúng tôi lại đi hành quân rèn luyện bắt đầu từ khoảng 3 giờ sáng. Đêm mùa khô ở vùng chí tuyến Bắc quả là mát mẻ , nó cứ giông giống như đêm thu ở Đại từ vậy. Nền trời đêm đang bạc dần trong rạng đông vẫn không làm mất ánh lấp lánh diệu kỳ của các nàng sao lấp ló trong màn sương thu nhẹ. Dù mải mốt cùng đoàn quân vượt đồi xuôi dốc, miệng rì rầm hòa theo nhịp khúc quân hành, vai nặng trĩu ba lô gạch cùng khẩu k50 băng tròn của B trưởng Trịnh Tường, tôi vẫn mường tượng được trong đầu cả một vùng đồi sim mua cằn khô ung ủng một màu đất gan gà như ở nhà ta thường gọi là vùng "chó ăn đá gà ăn sỏi" dưới gót giầy của những đôi chân chưa từng biết mỏi đang lầm lũi trong rạng đông thu này.
Chúng tôi được lệnh giải lao trước khi quay về cũng là lúc chân trời phía đông đang dần trắng hồng ánh dương quang. Vừa kịp gác ba lô, súng đạn, phanh ngực áo đón làn gió sớm nơi chân đồi , tôi chợt nghe tiếng hát của Hoài Nam lảnh lót lan xuống từ trên sườn đồi "… Hoa… Là hoa ơi ! Hoa nở thắm như lửa cháy, hoa đẹp tươi như tình bạn… của chúng ta…" (bài ca về loài hoa xuyên tuyết trong phim Khách từ núi băng tới). Nói như thuở ấy, tôi cũng chợt lịm baga theo từng tiếng hát nhè nhẹ mơn man trên những cánh hoa mua còn đọng sương đêm và tôi cũng chợt nghe được tiếng dòng suối nhỏ chảy róc rách khe khẽ dưới chân đồi hòa cùng tiếng hót lảnh lót véo von của lũ sơn ca chào đón mặt trời lên. Đến bây giờ, khi đã ở cái tuổi ngoài sáu mươi xuân rồi (may mà còn sống sót), tôi mới có thể xác định được trạng thái tâm hồn của mình lúc đó bằng hai từ: tiếng lòng chứ bấy giờ nào đã biết gì đâu, chỉ cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời của nó mà thôi!
Mấy hôm sau, vào một buổi chiều tà, cơm nước xong xuôi , tôi đang thả bước thong giong nhìn ngắm nền trời hoàng hôn thu đỏ lửa trên bãi cỏ ngoài khu nhà ở , gặp Xuân Lăng vẫy lại: "Tao vừa xong bài thơ, mày nghe thử coi!". Hai thằng ngồi xuống bãi cỏ và Xuân Lăng thong thả đọc cho tôi nghe từ đầu đến cuối
Lúc ấy, bài thơ chưa có tựa đề, tôi cứ để cho Lăng tự mình đặt lấy và chỉ biết lặng yên thả hồn mình theo từng vần thơ trong cái giọng đọc lơ lớ miền Trung sôi nổi ngọt ngào của hắn. Tôi kịp nhận ra rằng: Xuân Lăng là một tâm hồn thơ diệu kỳ mà trăm năm cuộc đời mới có được! Xin được chép bài thơ của Trần Xuân Lăng ra đây để mọi người cùng được thưởng thức.

…Đang nghỉ giữa đồi cao
Anh lại nghe em hát
Không hiểu vì sao lòng anh dào dạt
Nghe tiếng hát em tha thiết yêu đời

Em có biết không lúc đó mặt trời
Cũng đỏ dần theo những lời em đấy !
Em có nghe chăng suối reo , nhạc dậy
Muôn cánh hoa rừng gió đẩy , khoe hương

Tiếng hát của em chan chứa tình thương
Như nhắc nhở anh nhớ người bạn cũ
Nhớ những ngày chung vui dưới mái trường
Nhớ những đêm ân hận không ngủ …

Hát nữa đi em , hát sao cho đủ…
Những bài ca của tuổi trẻ chúng ta…
… ơi cánh hoa rừng đẹp tươi quyến rũ
Hiểu thấu lòng ai : những đứa nhớ nhà .

Hoa ơi ! Sao hoa đỏ như lửa cháy
Hoa tượng trưng cho tình bạn trắng trong …
Tiếng hát em sao mà như suối chảy
Đọng mãi trong anh, tha thiết nỗi lòng .

Mà Đọng mãi thật, Xuân Lăng ơi! Thơ anh cứ sống mãi trong tôi! Dẫu cho năm tháng cứ phai phôi cuộc sống vô vàn quí giá của chúng ta thì vẫn còn hồn thơ anh trong tôi đến ngày ta gặp lại để chén tạc chén thù xướng họa, bình thơ… ghi dấu kỷ hà như hồi nào ta thâu dêm tri âm, tri kỷ vậy!

Hà nội , 25 tháng 6 năm 2011
Hoàng Giang kính bút!

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

BA CỦA BẠN



"...
Anh Ba Hải bảo tôi tôi đến báo cáo miệng theo tinh thần này với đồng chí Tư Trường, chính ủy phân khu kiêm Bí thư phân khu ủy...Anh ở trong chiếc lán dựng tạm giống một gian bầu nhỏ phủ lá cây tươi vừa ngụy trang vừa tránh nắng. Bốn bề trống trơn. Trong lán không có vật gì ngoài chiếc võng anh đang ngồi chăm chú đọc tài liệu.

Nghe động anh ngẩng lên thấy tôi đứng dậy, một tay bắt tay tôi, tay kia ôm choàng qua qua người tôi với giọng cười vui vẻ :"Nỹ đấy à! Mình nghe nói về cậu. Nào ngồi xuống đây". Anh kéo tôi cùng ngồi trên chiếc võng với anh. Tôi lúng túng ngượng ngùng xin phép được đứng bên anh báo cáo. Anh ghì chặt tôi xuống ngồi sát bên anh. Anh nói :"Đừng câu nệ, đây ở tạm không bàn ghế gì. Cậu cứ ngồi đây với mình". Tôi thật không ngờ, thái độ ân cần vồn vã của anh, một cấp cao lại đối với tôi như thế. Theo lời anh Ba Hải chắc chắn anh Tư Trường có chân trong Trung ương Cục Miền nam và Quân ủy miền. Còn tôi chỉ một cán bộ quân sự tầm tầm. Anh xem tôi , kẻ cộng tác dưới quyền anh, đầu tiên mới gặp như người thân tình bạn đồng tranh lứa với anh.

Tôi báo cáo tình hình không lệ thuộc vào trang giấy đặc kín chữ trong tay. Anh chăm chú nghe không một lần ngắt lời. Sau đó anh hỏi để tôi báo rõ thêm đôi ba chi tiết...Anh hài lòng được nghe tổng hợp tình hình chung giúp anh lượng thông tin cần thiết cho cuộc họp Phân khu ủy sắp đến. Anh với tay lấy chiếc biđông rót ra một chén trà đặc :"Nào anh em mình cùng uống nhé. Chỉ có thế này thôi Nỹ ạ! Thắng Mỹ rồi ta uống lade thoải mái". Anh nói giọng Bắc nhưng đã pha trộn tiếng Nam. Nụ cười của anh hiền hậu dễ mến...Sau này tôi biết tên thật của anh : Phạm Đức Sơn.

Tiếc thay, với anh và Tư lệnh Ba Đình (Trần Đình Xu), mỗi anh tôi chỉ gặp một lần. Thời gian ngắn sau đó cả hai anh đã hy sinh cùng một ngày vì mìn Mỹ sát hại trên đường đi trong chuyến công tác về dự hội nghị ở R (1969)"

(Lược trích từ hồi ký "HOA LỬA ĐƯỜNG VỀ" - Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2008 - của Đại tá Nguyễn Văn Nỹ, nguyên Trưởng ban tác chiến Phân khu I thuộc mặt trận Sài Gòn-Gia Định những năm 1967-1970).

Cách nay mấy tháng, tôi có kể cho Phạm Nguyễn nghe về đoạn hồi ký này, hôm nay chép lại cho các bạn cùng xem để biết thêm về một phụ huynh của bạn và nhớ thêm về bạn.

XN.K3

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

Tiễn đưa Phạm Nguyễn


Lửa thiêng

Ngọn lửa hỡi,
  chớ vội bùng lên dữ dội.
 Chậm lại chút thôi
     Để bạn ta châm điếu thuốc cuối cùng,
 Ly rượu dở dang, một đời bạn chưa uống hết,
                  Nhỏ giọt lệ xót thương,
                                   Xin bạn ,
                                           cạn hết lần này.

  Con tuấn mã hý vang thảm thiết,
   Vó ngựa chồn chân,dừng trước bến biệt ly.
   Thì xin bạn, hãy đừng thêm một lần tư lự,
   Gian nan này ,ta trả lại về
                              nơi cũ,chốn hồng hoang.

Lửa thiêng  
Hãy cháy sáng lên,
      sáng chói lên,hơn như là có thể.
Nhanh đưa bạn ta sang sông,
                                 về cõi hư vô.
Ở nơi ấy,sẽ không còn đau đớn,   
     Tĩnh lặng mặt hồ,trong vắt hình hài.
      Và tinh khôi,và thơ ngây
                      Thấp thoáng lại về trong ánh mắt,
      Như lúc được mẹ sinh ra trên cõi  trần ai. 

Rồi sẽ tới ngày,
        Trên trời xanh lộng gió
               Vọng tiếng acmonica
                       “Hát mãi khúc quân hành”
Ấy là lúc,đồng thanh chúng tôi cùng cất tiếng :
     “Chào anh,Phạm Nguyễn,chào anh!”


Tuấn Linh.09/07/2011

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

K3 Viếng bạn Phạm Nguyễn


Sáng ngày 7/7 các bạn Trỗi K3 tại thành phố HCM đã tập trung đến viếng bạn Nguyễn tại nhà riêng 342 Nguyễn Chí Thanh. Có hai bạn K3 từ xa đến là Quang Hưng (Nha Trang) và Chí Điền (LB Nga). K9 có Minh và Oanh. Sau đây là một số hình ảnh lễ viếng












Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Bạn tôi


 Một vài hình ảnh của bạn tôi, giờ này đã ở một nơi thật xa...!

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Tin buồn




    Thông báo :
    K3 tập trung tại 342 NCT để viếng bạn Nguyễn vào lúc 10g30 ngày 07/07/2011. 
Mong các bạn có mặt đông đủ và đúng giờ
  TM BLL
 Khánh Tường 


Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Tìm hiểu


Chuyện Thời M Cõi
Chí Thọ (K3)

Trên mạng K3 vừa rồi có mấy bài bàn về thời “mở cõi” của nước ta (nhân nhắc chuyện các nàng công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa…). Tôi xem hơi muộn, nhưng thấy đây là một đề tài hay, nên cũng xin “nói leo” theo vài lời (cũng là cho vui thôi).
Chuyện mở cõi, hay Nam tiến, của ta chủ yếu liên quan đến hai xứ Chiêm Thành và Chân Lạp. Nó kéo dài hơn một nghìn năm và khá khốc liệt.
Thời nước ta còn bị Bắc thuộc (gọi là Giao Chỉ, Giao Châu…) thì Chiêm Thành đã là một vương quốc mạnh (còn gọi là Tượng Lâm, Lâm Ấp, Hoàn Vương quốc…) Họ thường xuyên đánh phá Giao Châu và ít ra cũng đã hai lần chiếm được vùng Nhật Nam, Cửu Chân (Thanh – Nghệ bây giờ). Thậm chí vua Chiêm còn đòi Trung Quốc phải giao cả nước ta cho họ cai quản (thời Dương Mại), coi như một chốn không người…
Sau khi giành được độc lập (thế kỷ 10), các triều đình Đại Việt vì luôn phải đối phó với giặc phương Bắc, nên đã cố giữ hòa hiếu với Chiêm Thành đề tránh bị ép cả hai đầu. Nhưng mọi cố gắng ấy đều không thành. Giặc Chiêm vẫn luôn là một tai họa, nên cuối cùng thời nào ta cũng phải dùng đến binh đao. Trong hàng trăm trận giao tranh ác liệt Việt – Chiêm thời ấy, có vài cột mốc chính đánh dấu sự mở cõi của nước ta :
- Năm 1069, nhà Lý thu ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chánh (Quảng Bình và một phần Quảng Trị)
- Năm 1306, vua Chiêm dâng 2 châu Ô và Ri ( Quàng Trị - Thừa Thiên) để xin cưới Huyền Trân công chúa. Sau đó là hàng chục trận giao tranh đẫm máu.
- Năm 1402 , nhà Hồ chiếm Chiêm Động (Quảng Nam), Cổ Lũy (Quảng Ngãi), vài năm sau lại mất.
- Năm 1470, Lê Thánh Tôn thân chinh dẫn 20 vạn quân tiến chiếm Chiêm Động, Cổ Lũy, đánh qua Đồ Bàn (Bình Định)… Lập đạo Quảng Nam. Ông đã chia nhỏ Chiêm Thành làm 3 nước rồi khắc lên Thạch Bi Sơn lời nguyền :
“Chiêm Thành quá thử binh bại tướng vong,
An Nam quá thử quân thua tướng chết”.
Tưởng thế là yên. Nhưng nạn binh đao vẫn không hề dứt. Nhà Nguyễn sau này, khi biết không thể quay lại đất Bắc, đành phải bước qua “lời nguyền”.
- Năm 1653, chúa Nguyễn cử tướng Hùng Lộc đem binh đánh đến sông Phan Lang, lập phủ Thái Ninh (Khánh Hòa).
- Năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh chiếm nốt Phan Rang và Phan Rí, lập ra Thuận Thành phủ (tức Bình Thuận).
Đến đây dứt hẳn Chiêm Thành.