Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

HN đón Xuân

Năm nay thời tiết thật kỳ lạ. Vào ngày ông Táo lên trời thì khí trời nóng ấm. Tôi lượn ra bờ hồ Hoàn Kiếm coi không khí chuẩn bị tết của thủ đô. Năm nay có lẽ do thời tiết mà mọi người có vẻ uể oải, trước cửa Bách hóa Tràng Tiền cũ, các đồ trang trí vẫn ngổn ngang chờ được sắp xếp. Xung quanh Hồ Gươm, các cô công nhân công ty công viên cây xanh vẫn đang xếp các chậu hoa thành các mảng trang trí chào xuân.

Mưa rồi nắng, đào HN nở tung từ 23,24 tết!

Hoa lốc....luôn xua về những ký ức HN xưa, khi còn trẻ...lúc trẻ thơ

Tranh cổ động và Hà Nội! may mắn là hôm nay vẫn còn thấy được, dù chỉ còn tại vị trí này.

Các chậu hoa đang được sắp xếp, bày quanh bờ Hồ.

Chỉ những bông hoa tươi mới hàm ý xuân trong cảnh này.

1000 năm Tháp Rùa!

Ông vua khai sinh Thăng Long - Hà Nội

Sắc xuân sớm.

Những cây đỗ quyên này có nhập từ Trung Quốc? 
Các thùng các tông in tuyền chữ tàu và bên trong gói báo Tàu.
Cúc vàng gợi nhớ tết phương Nam.

Họa sỹ đường phố và người mẫu (khách hàng)

Đền Ngọc Sơn.

Cầu Thê Húc
Và các Teen thủ đô đang dự đoán tương lai qua những lá bài.....

Ngay dưới chân Tháp Bút!
Màn hình ở Bờ Hồ thông báo còn 245 ngày nữa là đến Đại Lễ hội Ngàn năm Thăng Long.

  Do máy bay bị trễ nên chẳng kịp tham gia tất niên vui vẻ tại Vườn Treo cùng các bạn trỗi (xấu, tốt, cũ mới....), tôi góp phóng sự ảnh này như một món quà xuân nhỏ tặng cộng đồng.

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010





















CHÀO MỪNG 8O NĂM
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH

TẾT NĂM 1968

Nhân dịp xuân tới, X Nam chia sẻ với ACE câu chuyện tết cuối cùng của K3 ở QL liên quan một người bạn mới xa chúng ta chưa lâu.



Đó là cái tết cuối cùng của khóa 3 ở Quế Lâm. Theo yêu cầu của Ban chỉ huy đại đội, mỗi trung đội phải có ít nhất một tiết mục tự biên tự diễn để tham gia vào buổi liên hoan đón tết toàn đại đội và chọn tiết mục hay tham gia đêm văn nghệ đón tết của toàn trường. Tôi ở trung đội 4, trung đội trưởng là Việt Hùng, phân công thế nào không biết mà một hôm Xuân Lăng gặp tôi bảo đi tập kịch. Tôi phản ứng và từ chối ngay nhưng X.Lăng thanh minh không phải V.Hùng phân công mà do chính hắn chọn tôi vì vở kịch là do hắn tự biên, hắn muốn tự diễn nhưng chẳng thằng nào trong trung đội chịu diễn cùng, bí quá hắn chọn tôi vì hai thằng thân nhau. Giận dữ và chửi thề, hắn chịu và nghe hết, rồi động viên cả vở kịch chỉ có ba nhân vật, tôi đóng thằng cảnh sát nói hai ba câu thôi và chỉ còn tôi mới chịu giúp hắn. Hết nước, thôi liều vì bạn !
Nội dung vở kịch đại khái là "Sài Gòn ; Một Việt Cộng (VC) đang đem trong người tài liệu đến điểm hẹn ; Gặp lúc một thằng cảnh sát đi khám xét ;VC giác ngộ và đưa tài liệu cho chú bé đánh giày giữ giùm ; chú bé đánh giày đấu trí với thằng cảnh sát ; Thằng cảnh sát bỏ đi ; VC quay lại lấy tài liệu và cảm ơn chú bé đánh giày. ". Cuối cùng X.Lăng đóng chú bé đánh giày (vai khó nhất), hình như Cao Quốc Bảo đóng VC (vai khó nhì), còn tôi là thằng cảnh sát. Kịch của nó lại viết theo thể nhạc kịch, tôi chỉ còn nhớ chú bé đánh giày có đoạn hát thế này : "Đánh giày, đánh giày đi ! Tôi là chú bé đánh giày đây, sống lâu ngày ở nơi đô thành ! Giày trắng tôi đánh xi trắng, còn giày màu tôi dùng xi màu ! Nắng không phai, mưa không mờ ! Đánh giày, đánh giày đi!". Vai tôi đúng là chỉ có hai ba câu quát tháo, nhưng nó cũng bắt tập đi tập lại sao cho mặt mày dữ dằn, tiếng nói như cha người ta.
Diễn ở liên hoan đại đội, được chọn diễn đêm văn nghệ toàn trường. Thấy bạn mình sướng vì là "kịch tác gia" thì vui lây cho nó, chứ bản thân thì chán bỏ bà!
Mấy chục năm sau, gặp lại nhau ở Vũng Tàu, "kịch tác gia" của năm 1968 khoe ngay đã có những tác phẩm kịch ngắn được VTV3 dàn dựng và một số đang gửi dự thi. Lúc đó mới hiểu Thằng Bạn của mình đúng là có năng khiếu thật.

Xuân 2010 - HXNam K3

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

"Phát triển" dưới con mắt một Trỗi con

T. T. Chiến mời mọi người xem cái này. 
"Con gái mình vốn là lính của Đặng Kim Sơn, Trỗi dưới. Nó đang làm thạc sĩ bên Úc, xã hội học gì đó (mình chả hề muốn nó dính vào xã hội), gửi chú Sơn và nhân thể cho mình luôn. Mình không biết những tiếng Anh trong này, nhưng thấy cái nhìn của cháu lạ lạ…"

Cháu chào chú ạ,

Cháu Hà lớn bên CAP đây. Chú dạo này có khỏe không ạ? Cháu nghe mọi người kể chú thỉnh thoảng có ghé qua Trung tâm hỏi thăm Toilet paper nên cháu viết thư báo cáo tình hình cho chú đây. Cháu đang học Development Practice ở University of Queensland . Cháu thấy học nhiều cái rất hay, bây giờ có thời gian ngẫm lại những cái mình ở nhà vẫn cho nghiễm nhiên là đúng, mới thấy mình hồi xưa ngây thơ. (Bây giờ chắc cũng chỉ khá hơn một chút). Cháu có một vài suy nghĩ về phương hướng phát triển ở Việt Nam muốn chia sẻ với chú, chỉ cần chú đọc thôi, không cần hồi âm cũng được.

Từ trước đến nay chúng ta vẫn hô hào "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" để đất nước "phát triển". Vậy "phát triển" là gì? Có vẻ như cách hiểu thông thường nhất vẫn là tiến lên cho bằng các nước phương Tây, tức là chúng ta giả định có một con đường tiến từ thấp lên cao, trong đó Việt Nam đang ở thấp và Tây ở cao. Để "phát triển" thì phải công nghiệp hóa, và theo như lập luận về Tam Nông của chú thì công nghiệp hóa trước hết phải đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Như vậy "phát triển" ở đây đồng nghĩa với phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng. Kèm theo đó có thể có một số chỉ tiêu về giáo dục, y tế, v.v.

Nhưng trên thế giới có bao nhiêu dân tộc, mỗi dân tộc có một lịch sử khác nhau, văn hóa khác nhau, tại sao tất cả lại cần hướng tới một cái đích giống nhau? Những người làm trong ngành 'phát triển' chúng ta vào ngành với một lý tưởng rất cao thượng là giúp những người nghèo khổ, nhưng một câu hỏi chúng ta cần đặt ra là tại sao chúng ta lại nghĩ họ cần giúp đỡ? Vậy trước khi có chúng ta, họ sống trong đau khổ ư? Chúng ta tự giải thích cho sự can thiệp của chúng ta vào đời sống của họ bằng cách nhìn vào nửa vơi của cốc của họ: thu nhập họ kém hơn, họ không được đi học, họ không được ăn cơm ngon, không có dịch vụ y tế hiện đại, v.v. Nhưng chúng ta chưa bao giờ nhìn vào nửa đầy của cốc và tự hỏi: liệu có một cách 'phát triển' nào khác, ngoài cách 'phát triển' chúng ta thường hiểu không? Liệu xã hội truyền thống có cách hoạt động riêng của họ nằm ngoài cơ chế thị trường không? Liệu những phẩm chất như thật thà, đoàn kết, gắn bó cộng đồng có thể được giải thích bằng cái gì khác ngoài khái niệm "reciprocity" của kinh tế không?

Có một ví dụ vui như thế này: Có một quán nước ở Nhật, trong đó người đến mua trả tiền cho đồ mình gọi, nhưng lại nhận được đồ của người trước mua. Tức là nếu mình đến mua nước cam, mình sẽ trả tiền cho nước cam nhưng lại nhận được cốc sô cô la nong của người đến trước. Nếu theo đúng như lý thuyết về self-interest và rationality của kinh tế thì ai cũng chỉ gọi một cốc nước lọc để trả tiền ít nhất. Nhưng trên thực tế không ai làm thế, rất nhiều người gọi đồ uống đắt tiền để người sau, người hoàn toàn xa lạ với mình, được thưởng thức. Rõ ràng cần có một cái nhìn nhân tính hơn về con người, chứ không thể coi những phẩm chất đạo đức là cái gì đó quá lãng mạn trong nền kinh tế thị trường.

Cháu thấy sự tập trung vào phát triển kinh tế hiện tại rất nguy hiểm vì nó bỏ qua các yếu tố khác cũng hết sức quan trọng với đời sống con người. Amatyr Sen có nói "economic development should not be viewed as an end in itself but a means to achieve a wider set of objectives". Chỉ nên tập trung phát triển kinh tế nếu nó mang lại hạnh phúc cho con người. Bản thân chúng ta thường nghĩ giàu có sẽ mang lại hạnh phúc, nhưng con người (nhất là người Kinh) thường suy nghĩ như thế này: “Tôi phải làm việc chăm chỉ để đạt được thu nhập X, để mua được nhiều thứ hơn. Nhưng khi tôi đạt đến thu nhập X, tôi vẫn chưa thỏa mãn, rõ rang tôi phải cố hơn nữa để đạt được thu nhập Y”. Như vậy là sự thỏa mãn, sự hành phúc của con người không phải tỷ lệ thuận với phát triển kinh tế. Người giàu chưa chắc đã hạnh phúc hơn người nghèo. Vậy thì giàu lên để làm gì? Đây nghe có vẻ như một câu hỏi rất ngớ ngẩn, vì từ bé đến lớn chúng ta đều được dạy là lớn lên phải đi học, phải vào đại học, phải đi làm, phải giàu lên, nhưng chúng ta không bao giờ tự thách thức những giả định mà chúng ta coi là nghiêm nhiên này.

Cháu lấy ví dụ về người dân tộc thiểu số mà chúng ta thường coi là lạc hâu, nghèo đói, tự ti, lười biếng và ỷ lại. Chúng ta dung chính sách để ‘nâng’ họ lên ngang tầm của chúng ta. Chúng ta sử dụng một loạt thước đo do chúng ta đặt ra (mà đúng hơn nữa là do ‘Tây’ đặt ra) để đo họ và rút ra kết luận là họ đang ‘thụt lùi’. Cháu thấy những thước đo này giống như thi Olympic: nước nào chủ nhà thì nước đó được chọn môn chơi và thường đạt nhiều huy chương vàng nhất. Chúng ta nghĩ ra thước đo, đương nhiên chúng ta sẽ thắng. Nhưng chưa ai nhìn vào điểm mạnh của người dân tộc thiểu số (tất nhiên là tùy từng dân tộc, không thể vơ đũa cả nắm được): đoàn kết, khả năng hưởng thụ cuộc sống, trung thực, tự do v.v. Nếu chúng ta lấy những ‘chỉ tiêu’ này làm thước đo, chắc chắn chúng ta mới là những người kém phát triển.

Năm ngoái cháu có đi Bình Thuận làm Participatory Poverty Assessment, có nói chuyện với bà con người Raglay, J’Rai, Chăm. Lúc đầu họ than phiền về hoàn cảnh, cũng tự ti, nhưng khi cháu hỏi về văn hóa, hỏi “ở đây có vui không?” thì họ đều nói rất vui. Đi làm xong sang nhà bà con hàng xóm nói chuyện, sống trong rừng thì tự do, thoáng mát. Họ cũng không cần làm nhiều, vì họ tự hài long với cuộc sống của mình (cái mà người Kinh gọi là lười biếng và thiếu ý chí vươn lên). Trong khi cháu hỏi nhóm người Kinh không nghèo thì họ đều nói cũng không vui lắm, cuộc sống bình thường. Bản thân những người ‘giàu’ chúng ta, có mấy ai tự nhận là hạnh phúc. Đi làm cả ngày, tối về ăn cơm qua bữa, rồi người nào vào phòng người nấy. ‘Phát triển’ như vậy liệu có cô đơn quá không?

Thực ra trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về phát triển, nhưng định nghĩa cuối cùng được chọn qua một quá trình giằng co về mặt chính trị. Người nào mạnh người đó có quyền định nghĩa phát triển, văn minh. Nếu xét về lịch sử ‘phát triển’ thì năm 1940 – 50, phát triển được coi là “phát triển kinh tế”, chỉ tiêu này do WB đặt ra. Sau đó cách định nghĩa này bị phê bình vì quá hạn hẹp, và UNDP đã phát triển thêm “Human Development Index” vào những năm 1980s. Đây là những ‘chỉ tiêu’ làm thước đo nhận loại. Nhưng ngoài những định nghĩa được công nhận này còn có một số cách định nghĩa khác như: “self-sustenance, self-esteem, and freedom” (Goulet) hoặc đối với cháu, “phát triển” có nghĩa là “khả năng mưu cầu hạnh phúc”. Vậy cháu nghĩ vấn đề phát triển hiện nay không phải là làm thế nào để kéo được những người ‘disadvantaged’ ra khỏi hoàn cảnh của họ, mà làm thế nào để họ được quyền định nghĩa ‘phát triển’ theo văn hóa, cách nhìn của họ. Đây là vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, chứ không nằm trong vòng kiểm soát của kinh tế nữa.

Cháu gửi kèm đây bài luận của cháu về Chương trình 135 giai đoạn, trong đó cháu lập luận là “nghèo đói” không phải là vấn đề cần giải quyết và chỉ tập trung vào nghèo đói có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua những chỉ tiêu khác mà bản thân cộng đồng, dân tộc đó coi trọng. Vô hình chung, xóa đói giảm nghèo đã khiến người dân tộc thiểu số chỉ nhìn vào nửa vơi của họ và trở nên tự ti, ỷ lại. Cháu đọc thấy Viện mình có quỹ phát triển miền cao, vùng sâu vùng xa, nên cháu thử gửi bài xem có đóng góp được gì không.

Cháu nhớ hồi trước chú có kể cho bố cháu là sau khi chú tốt nghiệp Đại học nông nghiệp xong, chú viết một lá thư liệt kê 10 điểm yếu của trường. Thôi thì coi như đây là lá thư liệt kê điểm yếu của ‘phát triển’ của cháu vậy.:-).

Cháu mong chú khỏe.

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

Off-line nữa.

Kể từ khi Blog K3 sôi động lại, các cuộc gặp mặt xuyên Việt của các bờ nốc giơ trở nên thường xuyên hơn. Công đầu phải kể tới TLinh. Thực sự thành MC của cuộc chơi như bác Trần Đào từng nhận xét.

Lần này cũng TLinh tổ chức. Quán Cây Sứ ( Tân Bình ) một sáng thứ bảy. Từ trái qua: TLinh, TTChiến - nhà HN học, LCông Nhà Sử học chỉ nói sự thật và trần văn tui.

Ca dao bộ đội


ANH ĐI – ANH VỀ
Anh đi em nắm cổ tay,
Anh về em nắm chỗ này chỗ kia...?
Anh đi bát đĩa cũng chia,
Anh về em dọn cả thìa lẫn môi.
Anh đi trống cả giường đôi,
Anh về giường vẫn trống nơi anh nằm.
Anh đi nhà vắng lặng câm,
Anh về ,giường chiếu reo ầm cả lên.
Anh đi khao khát không tên,
Anh về- vẫn khát, bắt đền, kệ anh.
Anh đi đêm chẳng trôi nhanh,
Anh về lại muốn ngày thành là đêm.
Anh đi chẳng biết ấm êm
Anh về sỏi đá cũng mềm trước em.
Anh đi ăn uống kiêng khem,
Anh về- no vẫn thòm thèm, không ngoa.
Anh đi bầu nụ đơm hoa,
Anh về bầu bí bò ra bò vào.
Anh đi cỏ mọc bờ ao,
Anh về cá đớp cả phao lẫn mồi.
Anh đi mong nhớ bồi hồi,
Anh về lại phải đứng ngồi ngóng trông...
Anh đi buộc phải nằm không,
Anh về, nếu bắt nằm không – không nằm!
...
Anh đi ngã bảy ngã năm,
Anh về, anh mệt, anh nằm ngã ba...!
T.L sưu tầm ,ca dao bộ đội PKKQ.

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2010

Điều giản dị

Nhạc và lời : Phú Quang, hát : Lê Dung
(Theo yêu cầu của Lê Tiến Dũng K3)

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2010

Con chúng ta

Cháu Lê Minh sinh 1986 là con trai của Lê Công (K3)-Thuý Hòa ,tốt nghiệp Đại học Sân khấu Điện ảnh tp.HCM 2007 , Đại học Kinh tế tp.HCM 2008. Bài viết đã đăng trên báo 'THANH NIÊN',04/10/2008.
Ảnh thờ của ông
Đó là quãng thời gian ông tôi sắp mất. Khi vừa đón cái Tết cuối cùng trong cuộc đời mình, sức khỏe của ông trượt dốc không phanh. Cả nhà tôi dù cố hết sức, dù luôn mang niềm tin ông sẽ khỏe lại, như cách ông đã đi bệnh viện rồi lại quay về, nhưng vẫn phải chấp nhận rằng có lẽ lần này ông sẽ không thể về nhà như mọi lần nữa.
Tôi không ở cùng ông từ bé, không lớn lên trong sự chăm sóc của ông. Tôi sống với ông vào quãng thời gian khi sức khỏe của ông bà không đủ để ông bà sống độc lập như trước nữa. Đôi lúc, tôi cũng tự cảm thấy những tình cảm mình dành cho ông bà cứ nhàn nhạt, không sâu đậm.
Rồi sức khỏe của ông ngày một đi xuống. Mọi người trong gia đình bắt đầu chuẩn bị hậu sự: mẹ gọi dì từ nước ngoài về, đặt may áo dài đen cho tất cả con cháu gái, cậu lo nơi an táng, dì lo giấu bà trước cú sốc phải mất ông... Tôi được giao nhiệm vụ làm ảnh thờ cho ông.
Không biết bao lần tôi đã tìm cách né tránh nhiệm vụ của mình. Khi ông vẫn đang khỏe mạnh, tôi đã lấy máy hình ngắm ảnh chân dung của ông với bộ áo trắng, chống gậy ba-ton. Nghĩ thế nào, tôi lại không bấm pô ảnh ấy. Khi ông nằm trong bệnh viện, tôi cầm hình thẻ của ông và mỗi khi đi ngang qua tiệm ảnh, tôi lại chạy qua thật nhanh. Trong sự lo sợ có niềm tin vô cớ rằng ông sẽ khỏe lại...
Rồi ông mất. Đúng sau cái ngày ông dường như tươi tỉnh lại mà tôi đã lấy nó làm điểm tựa để quên ngay ý định làm ảnh thờ. Tôi bối rối, hối hận. Ảnh thờ không có, gia đình sẽ nói thế nào với họ hàng, thân hữu? Tôi chạy đến tiệm ảnh trong tất cả sự ân hận. Thế rồi tấm ảnh thờ cũng có trong thời gian ngắn nhất. Cô thợ hình vừa tận tâm, vừa nhân ái đã khiến tôi an lòng.
Sau này, khi ngẫm nghĩ lại những việc mình đã làm, tôi vẫn không khỏi hối hận. Đâu là trách nhiệm, đâu là tình cảm của một người cháu dành cho ông mình? Giữa lý trí của tình cảm và tình cảm đơn thuần, tôi đã phân vân, đắn đo và tưởng chừng bế tắc. Mãi sau này, khi nhìn lên ảnh ông đang mỉm cười, tôi mới tìm ra một lời giải đáp cho mình: Có lẽ, trong mọi hoàn cảnh, tôi đã dành cho ông mình những tình cảm dù nhỏ bé và ẩn sâu nhất nhưng có thực. Đó phải chăng là mẫu số chung của những hành động, những suy nghĩ, niềm tin và cả sự đắn đo? Tình cảm, trong mọi hoàn cảnh, có lẽ là điều đúng đắn duy nhất để ta nương tựa và hành động.
Lê Minh

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2010

Luận bàn về “phát hiện lịch sử chấn động” của ông Lê Mạnh Thát


Bài do TTC gửi với lời nhắn: 'Mình gửi cái này quanh chuyện Lê Mạnh Thát. Khi lên blog, ông nhớ bảo tôi gửi ĐỂ THAM KHẢO nhé. Vì thực ra tôi ko nắm rõ lập luận của Hoà lắm. Nó làm bên báo Nhân dân. Bài đăng ở đâu mình cũng ko biết, chỉ biết đã đăng. Còn mấy lời của Công còm về ông Thát là có lý đấy'

   Mời các bạn quan tâm đọc ở đây: Luận bàn về "Phát hiện lịch sử chấn động" của ông Lê Mạnh Thát.

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010