Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Bạch tuộc Paul dự đoán kết quả World Cup


‘Bạch tuộc tiên tri’ phán TBN là đội vô địch
BAODATVIET.VN.
Cập nhật lúc :5:32 PM, 09/07/2010
“Paul đã không mất thời gian để chọn chiếc hộp có cờ Tây Ban Nha. Dường như đây sẽ là một chiến thắng dễ dàng cho đội bóng này”, Tanja Munzig, người phát ngôn của Viên hải dương học Oberhausen cho biết.
Trong khi đó, ở trận đấu tranh giải ba, Paul đã đặt niềm tin ở ĐT Đức. Lần này, mọi chuyện có vẻ phức tạp hơn. Lúc đầu, chú bạch tuộc này chọn chiếc hộp có quốc kỳ Đức rồi lại đảo sang chiếc hộp của Uruguay. Tuy nhiên, sau 15 phút "suy nghĩ" chú quyết định mở chiếc hộp của Đức và nhanh chóng chén hết thức ăn trong đó.
Nếu điều này trở thành hiện thực thì “Cỗ xe tăng” sẽ lần thứ hai liên tiếp giành huy chương đồng tại một kỳ World Cup.


Paul dự đoán trận chung kết. Video: Telegraph

Paul dự đoán trận Đức-Urugoay

Có cách khác xử lý Paul cho bõ ghét!

Kính mời các bác cổ động viên đội Đức ta cùng vô đây 'chén' bạch tuộc cho 'hạ hỏa' :

Vòi bạch tuộc ninh nhừ

Sa lát bạch tuộc

Món yeonpo-tang hay súp bạch tuộc non,Nhật

Lẩu bạch tuộc


Bạch tuộc xào cần tây

Bạch tuộc sốt ôliu kiểu Italy

Bạch tuộc rán

Bạch tuộc nướng

Bạch tuộc nấu theo kiểu Marseille,Pháp

Bạch tuộc nấu cari

Bạch tuộc luộc

Bạch tuộc hấp ăn với nước sốt mayone

( Nguồn : Xalộ.tintức)

Ôi,Paul ơi là Paul,đồng loại phải cứu chuộc cho mày thôi!







Bạch tuộc Paul dự đoán Tây Ban Nha đánh bại Đức
(Dân trí) - Cả nước Đức không khỏi lo lắng khi hôm nay (6/7), bạch tuộc Paul đã dự đoán đội tuyển Tây Ban Nha sẽ đánh bại Đức để góp mặt ở trận chung kết World Cup 2010...
Màn đoán kết quả trận Đức-Tây Ban Nha của bạch tuộc Paul ở viện hải dương học miền Tây nước Đức đã được truyền hình trực tiếp trên các kênh ngày hôm nay (6/7). Hai hộp nhựa, một chứa quốc kỳ Đức, một chứa quốc kỳ Tây Ban Nha (mỗi hộp đều có thức ăn) cùng bỏ vào bể kính.
Sau một thoáng chần chừ, cuối cùng chú bạch tuộc Paul đã chọn hộp có chứa quốc kỳ của Tây Ban Nha. Đây là điều khiến người Đức hoang mang về tương lai của đội nhà sau những gì bạch tuộc “tiên tri” đã suy đoán kể từ đầu giải.

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

Bài hát theo yêu cầu


Thương lắm tóc dài ơi
Sáng tác : Phú Quang ,hát : Lê Dung
( Tạ Việt Chiến K3 yêu cầu )




Thương lắm thương lắm tóc dài ơi
Một đời long đong long đong thân cò lặn lội
Thương lắm thương lắm tóc dài ơi
Một mình lênh đênh dòng đời đục trong
Mưa vẫn giăng đầy trên triền sông chiều đông giá buốt
Em vẫn âm thầm đi về đâu để ta thương lắm
Yếm rách còn ngăn được gió, tình em dang dở, yếm nào che
Thương lắm tóc dài ơi, cánh chim chiều đã mỏi
Ta hát cho em bỏng rát tiếng ca buồn


Chiều đông Matxcova
Sáng tác : Phú Quang, hát : Mỹ Linh
(Trịnh Thành Công K3 yêu cầu)






Từng bông tuyết nhẹ rơi


Một chiều đông giá trắng trong lòng tôi
Niềm cô đơn lẻ loi
Khi chiều chuông lên bóng em nhỏ nhoi
Về đâu hỡi người ơi, để hàng bạch dương xót xa chờ mong
Cánh chim chiều đông lặng lẽ âm thầm
Xin em, xin em, xin em thêm một lần nữa
Dù vẫn biết mai là giã từ
Mai đây khi trong xa xôi, trong niềm thương nhớ,
Còn đâu nữa những phút giây này

Xin em, xin em, xin em thêm một lần nữa
Dù vẫn biết mai là giã từ
Mai đây khi trong xa xôi, xin người hãy nhớ,
Dẫu tình yêu là những cơn mơ.

Bâng quơ
Sáng tác : Phú Quang , hát : Lê Dung

( Nguyễn Chí Nhân K3 yêu cầu )



Đôi khi ta nhớ một thoáng heo may
Đôi khi ta nhớ một sớm sương bay
Con đường mùa đông hàng cây lá đổ
Đôi khi ta thèm lang thang như gió
Đôi chân vô định về miền hư vô
Đôi khi em bỗng về giữa cơn mơ
Đôi khi ta hát lời hát nghêu ngao
Thương một vì sao giờ xa quá rồi
Đôi khi ta thèm nghe lời em nói
Dẫu biết bây giờ chỉ là xa xôi
Đôi khi mưa về ta thương em rừng xưa rũ lá
Đôi khi mưa về ta thương ta ngu ngơ bài ca
Đôi khi đêm dài ta thương con đường xưa xa mãi
Riêng
em đi về đôi chân bơ vơ trong chiều phai
Đôi khi cuộc tình ngỡ đã nhạt nhòa
Bỗng chợt về với xót xa.

Thứ Tư, 30 tháng 6, 2010

Khoảng cách trong Vũ trụ

TIN BUỒN

Lão thành cách mạng Hoàng Tùng (phụ huynh anh Trần Chiến Thắng k3, em Việt Hoa k7) vừa từ trần tại Quân y viện 108. Tang lễ tổ chức vào sáng thứ sáu, 2/7/2010, tại Nhà tang lễ Quốc gia, 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. 
Anh chị em có thể đi viếng cùng k3: có mặt lúc 10g. 
BLL k3 trân trọng thông báo!

Quân đội Mỹ trong chiến tranh VN (1965-1973)

VỀ TỔ CHỨC HÀNH QUÂN VÀ TÁC CHIẾN

Đơn vị cơ sở của các lực lượng hành quân và tác chiến là Trung đội (Platoon) có biên chế 41 lính dưới sự chỉ huy của một viên Trung úy( Lieutenant) cùng với hai lính hợp thành Ban chỉ huy Trung đội. Biên chế tổ chức của một trung đội bao gồm 3 tiểu đội (Rifle Squad) có 10 lính
do một viên Thiếu úy ( Second lieunant) chỉ huy , 1 tiểu đội hỏa lực(Weapons Squad) với 9 lính

+ Trên trung đội là Đại đội(Company) có một Ban chỉ huy đại đội dưới sự chỉ huy của một viên
Đại úy(Captain) cùng với 2 sĩ quan và 10 lính, trong biên chế có 3 trung đội+1 trung đội hỏa lực
+ Tiểu đoàn (Battalion) đặt dưới sự chỉ huy của một viên Trung tá ( Lieutenant-Colonel) bao gồm 1 đại đội chỉ huy+4 đại đội+ 1 đại đội hỗ trợ chiến đấu và hỏa lực(Combat Supp Company)
+ Lữ đoàn (Brigade) :3 tiểu đoàn do một một viên Đại tá( Full-Colonell) chỉ huy.

+Sư đoàn (Division) bao gồm 3 lữ đoàn dưới sự chỉ huy của một viên Thiếu tướng ( Major-Geneal)

QUÂN ĐỘI VIỄN CHINH MỸ ĐÃ TRIỂN KHAI TÁC CHIẾN Ở VN NHU THẾ NÀO ?

+LỤC QUÂN
Ngày 8.3.1965- Lữ đoàn 9 Thủy quân Lục chiến ( 9th Marine Expeditionary Brigade- 9MEB)
đổ bộ xuống bãi biển Nam Ô -Đà Nẵng mở đầu cuộc triển khai lực lượng lục quân Mỹ ở VN.
Trên chiến trường VN , Lục quân Mỹ được triển khai thành 4 vùng chiến thuật.
+Vùng 1 chiến thuật -ICTZ ( Combat Tatical Zon) do Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến có biệt danh Old Breed có Bộ chỉ huy đóng tại Chu Lai và Sư đoàn 3 Thủy quân Lục chiến có Bộ chỉ huy đóng tại Phú Bài trấn giữ, bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam- Đà Nẵng, Quảng Tín, Quảng Ngãi.
Vào tháng 4.1967 Westmorland đã cho ra đời Lực lượng đặc nhiệm Oregon (Army Task Force O) bao gôm 3 lữ đoàn , còn gọi là Sư đoàn Americanl đóng tại Chu Lai để thay thế cho Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến được điều chuyển ra trấn giữ Khe Sanh(Quảng Trị)

+Vùng 2 chiến thuật ( IICTZ) bao gồm các tỉnh duyên hải miền Trung như Bình Định, Phú Yên,Khánh Hòa,Ninh Thuận ,Bình Thuận và Cao nguyên Trung phần như Lâm Đồng ,Quảng Đức , Tuyên Đức ,Đăk Lăk, Phú Bổn ,Pleiku ,Kontum là vùng tác chiến của Lực lượng dã chiến số 2(IIField Force ) đóng ở Nha Trang .Ngày 21.9.1965 tại căn cứ An Khê trên đường 19 từ Quy Nhơn đi Pleiku đã xuất hiện Sư đoàn số 1 Kỵ binh bay(1 Cavalry -Division Airmobile), trận đụng độ đầu tiên với quân giải phóng diễn ra tại IaDrang-núi Chu Phong(Pleiku) trong chiến dịch "Lưỡi Lê bạc " (Silver Bayonet).
Tháng 4. 1966 Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn Bộ binh 25 có biệt danh Tia chớp nhiệt đới (Tropical Lighting) với nhiệm vụ bảo vệ Pleiku đã đụng dầu vơi quân giải phóng tại Đức Cơ-Pleime .

+Vùng 3 và 4 chiến thuật có Lực lượng dã chiến số 2 đóng ở căn cứ Long Bình .Tháng 10.1965 Sư đoàn số 1 Bộ binh nhiệt đới dã triển khai trấn giữ Bắc Sài Gòn vơi Lữ đoàn 3 ở Lai Khê
Lữ đoàn 2 ở Quản Lợi, Lữ đoàn 1 ở Dĩ An.

Phía Tây SG được bảo vệ bởi Sư đoàn 25 Bộ binh được điều chuyển từ Pleiku về đóng ở Củ Chi. Tháng 8.1966 để chuẩn bị cho các cuộc tấn công vào căn cứ của Trung ương Cục, Lữ đoàn 196
Khinh binh đã đến Tây Ninh. Tháng 9.1966 Lữ đoàn Kỵ binh vũ trang số 11 có biệt danh Ngựa đen ( Black Horse) trang bị xe tăng M48 và thiết vận xa M113 đến đóng tại Long Bình, cũng tại đây vào tháng 12 đã xuất hiện Lữ đoàn 199 Khinh binh, đồng thời Sư đoàn 9 Bộ binh triển khai ở Đồng bằng sông Cửu Long.


+ HẢI QUÂN : Với sự kiện vịnh Bắc Bộ, Hạm đội 7 đã áp sát vùng biển VN. Đầu 1965 các
Hàngkhông mẫu hạm USS Coral Sea và USS Hancock cũng đã đến vùng biển Bắc VN.
Hoạt động của Hạm đội 7 ở vùng biển VN được phân chia thành hai khu vực tương ứng với hai miền Bắc- Nam. Vùng biển phía Bắc vĩ tuyến 17 thuộc phạm vi hành động của trạm Yakee( Yakee Station).Nhiệm vụ chủ yếu của Yakee Station là tấn công Bắc VN bằng không quân từ 3 đến 5 tầu sân bay nằm cách bờ biển Bắc bộ 140 Km. Trong chiến dịch"Sấm rền"(Rolling Thunder) từ tháng 3.1965 đến tháng 11.1968 mỗi tầu sân bay hoạt động 12 giờ mỗi ngày.
Ở vùng biển phía Nam trạm Dixie( Dixie Station) hoạt động cách Nam Cam Ranh 85Km, có nhiệm vụ hỗ trợ cho lục quân khi các phi cảng quân sự chưa được hình thành.
Ngoài ra trên đất liền còn có Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ ở VN( Naval Force VN Commander) ở SG.

Lữ đoàn 3 công binh cơ động Hải quân( The 3rd Naval Mobile Construction Brigade) ở Đà Nẵng
Trung tâm hỗ trợ hoạt động Hải quân( Naval Support Acitivity) ở SG và ĐN

Ở khu vực duyên hải và sông ngòi, hình thành 3 lực lượng đặc nhiệm:

- Lực lượng đặc nhiệm 115 giám sát cận duyên( Task Force 115 Coastal Suveillance Force) đóng ở Cam Ranh.Nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chặn con đường Hồ Chí Minh trên biển, hải phận từ vĩ tuyến 17 đến Brevie Line trên Vịnh Thái Lan với 120.000 dặm vuông được chia thành 9 khu vực tuần tiễu, đã có 5 căn cứ giám sát được hình thành ở Vũng Tàu,Quy Nhơn,Nha Trang Đà Nẵng, An Thới.Vào 1966 lực lượng này có 100 khinh tốc đỉnh (Fast Patrol Craft), 30 tuần dương đỉnh ( Coast Guard Cuter) và 500 thuyền vũ trang

- Lực lượng dặc nhiêm 116 tuần tiễu sông ngòi (Task Force 116 River Patrol Force) đóng ở Bình Tuy - Lực lượng đặc nhiệm 117 , lực lượng cơ động ven sông ngòi đồng bằng sông Cửu Long ( Task Force 117- Mekong Delta Mobile Riverine Force), còn gọi là Hải quân nước nâu(Brow Water Navy), đóng ở Đồng Tâm, Mỹ Tho. Các lực lượng này có nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động giao thương trên sông rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long, kết hợp với Sư đoàn 9 Bộ binh ngăn chặn hoạt động của Quân giải phóng bằng tàu tuần và tàu lướt ( Hovercraft). Từ tháng 8.1966 đến tháng 11.1967 từ việc vét 17 triệu mét khối bùn , căn cứ Hải quân Đồng Tâm, Mỹ Tho đã ra đời.

+KHÔNG QUÂN: Bao gồm các lực lượng - Không quân của không lực Mỹ ( U.S Ai Force-USAF.

- Không quân của Hải quân ( Phù hiệu Navy trên áo phi công) -Không quân của Thủy quân lục chiến( Marine Wing).

Có thể nói phần lớn các căn cứ không quân của Mỹ trong chiến tranh VN đều không nằm trên lãnh thổ miền Nam VN. Căn cứ xuất phát của các phi vụ không tập có thể từ Hạm đội 7, đảo Guam hoặc từ các sân bay Utapao, Khorat , Udothani, Nakhon... trên đất Thái Lan.

THỜI HẠN CÔNG VỤ CỦA BINH LÍNH VÀ SĨ QUAN MỸ Ở VIỆT NAM.

Đối với mọi người lính trong mọi binh chủng thời hạn công vụ ( Tour of duty) là 12 tháng
- riêng Thủy quân Lục chiến là 13 tháng.
Đối với sĩ quan chỉ có 6 tháng cho một nhiệm okỳ ở VN, điều này được giải thích là do số
lượng sĩ quan hiện tại quá nhiều , tỉ lệ sĩ quan-binh sĩ từ chiến tranh Triều Tiên là 1/15, cho
đến chiến tranh VN là 1/6 , hơn nữa đều không có điều kiện tham gia chỉ huy chiến đấu, cho
nên phải chia nhỏ thời hạn công vụ trong chiến tranh VN. Hệ lụy nẩy sinh từ thực tế này là sĩ
quan chỉ huy luôn thiếu kinh nghiệm chiến trường, binh lính luôn bất mãn với chỉ huy vì những
ưu đãi về thời hạn thi hành công vụ dành cho họ.

+Lính Mỹ đến miền Nam VN theo con đường nào ?

Trước hết họ nhận được lệnh điều động đến Tiểu đoàn 22 với quân bưu chính APO96384, tập
trung ở một điểm thuộc bờ Tây nước Mỹ, trước khi bay đến VN bằng máy bay dân sự , ở các phi
cảng Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng,ở đây họ phải thực hiện đầy đủ các thủ tục hải quan và đổi dolla
xanh sang dolla đỏ( Military Payment Certificates-MPC).
Khi đã thực hiện được phân nửa thời hạn công vụ ,họ sẽ được hưởng tiêu chuẩn 5 ngày nghỉ ở
Hongkong, Thailan hoặc Singapore.
Tổng số người Mỹ đã tham gia trong chiến tranh VN- nhân viên quân sự và dân sự- khoảng
2.800.000 trong đó có 11.500 nữ từ 1965 đến 1975, trong số đó 58.191 người (8 nữ) đã không còn
có nhận DEROS ( Date Eligible to Returnfrom Oversea) - niên hạn hồi hương từ công tác hải ngoại.
LC (st)

Thứ Ba, 29 tháng 6, 2010

THÊM CHUYỆN CHO VUI

"NGHỊCH LÝ ĐÊM ĐEN

Với lý thuyết Big Bang, vũ trụ có một lịch sử...Vì tuổi của vũ trụ là 14 tỷ năm, nên chúng ta chỉ nhìn thấy những ngôi sao trong một mặt cầu bán kính 14 tỷ năm ánh sáng. Ánh sáng của các ngôi sao xa hơn không có đủ thời gian để đi đến chúng ta. Vì thế, lần sau khi bạn chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu dàng của màn đêm, bạn hãy tự nhủ rằng chính màn đêm này có chứa sự khởi đầu của vũ trụ.
....
CUỐN LỊCH VŨ TRỤ

Nhịp của lịch sử sự sống đã được gia tốc đáng kể vào thời kỳ cuối...Chúng ta có thể hiểu rõ hơn sự gia tốc theo hàm mũ này của lịch sử bằng cách tưởng tượng ra một cuốn lịch vũ trụ trong đó 14 tỷ năm của vũ trụ được nén vào chỉ trong một năm. Trong cuốn lịch này, mỗi một ngày tương đương 38,4 triệu năm (một năm là thời gian mà Trái đất phải mất để thực hiện trọn vẹn chuyến chu du quanh mặt trời), mỗi giờ tương đương với 1,6 triệu năm, mỗi phút tương đương 26.667 năm, và mỗi giây với 444 năm. Big Bang đã xảy ra ngày 01 tháng 01 và thời kỳ hiện nay tương ứng với đêm 31 tháng 12. Bức tranh khổng lồ về vũ trụ hiện ra như thế này :

Dải Ngân hà sinh ra ngày 21 tháng 2, nhưng Hệ Mặt trời cùng với bầu đoàn hành tinh của nó mãi đến ngày 03 tháng 9 mới xuất hiện, tức là sau khi ba phần tư của năm đã trôi qua. Những tế bào sống đầu tiên trên trái đất bước lên sân khấu vào ngày 23 tháng 9, các vi sinh vật sáng tạo ra giới tính ngày 26 tháng 10, các sinh vật đa bào chào đời ngày 14 tháng 11, và khí quyển của trái đất có thêm ôxy ngày 28 tháng 11. Sự phát triển của sinh vật xảy ra chủ yếu trong nửa sau của tháng cuối cùng của năm : sự bùng nổ kỷ Cambri, với sự ra đời của rất nhiều các loài, diễn ra ngày 16 tháng 12, cá và động vật có xương sống đầu tiên sinh ngày 18 tháng 12. Các đội quân xanh thực vật xâm chiếm các lục địa ngày 20 tháng 12. Ngày 21 tháng 12, những côn trùng đầu tiên xuất hiện và đến lượt chúng xâm chiếm các lục địa. Tiếp sau chúng là các động vật lưỡng cư ngày 22 tháng 12 , và bò sát ngày ngày 23 tháng 12. Khủng long bắt đầu sự thống trị của chúng trên Trái đất ngày 24 tháng 12, ngay trước Noel. Những động vật có vú đầu tiên đánh dấu sự hiện diện của chúng ngày 26 tháng 12 , và tiếng hót líu lo của những con chim đầu tiên trên Trái đất ngày 27 tháng 12. Trái đất trở thành một Hành tinh rực rỡ hoa trái, nhưng một Tiểu Hành tinh sát thủ đã đến va vào nó ngày 28 tháng 12, gây ra một thảm họa toàn cầu và làm cho loài Khủng long vĩnh viễn bước ra khỏi sân khấu. Những người anh em họ gần nhất của chúng ta, những loài linh trưởng, bước vào ngày 29 tháng 12. Sự phát triển của não và bước chuyển từ khỉ sang người diễn ra trong hai ngày cuối cùng của năm, ngày 30 và 31 tháng 12.
Còn về loài người, toàn bộ sự phát triển diễn ra vào tối ngày 31 tháng 12. Những con người đầu tiên bắt đầu bước đi vào lúc 21 giờ 49 phút. Với khả năng phát triển vê tư duy tượng trưng và trừu tượng hóa, Homo sapiens (Người tinh khôn) đã bắt đầu biết sáng tạo và sáng chế. Những sáng chế được nhân lên và lồng vào nhau để cải thiện đời sống vật chất của con người, và cũng để truyền lại tri thức và hiểu biết, làm tôn lên và soi sáng tinh thần. Nhiều điều xảy ra trong phút cuối của năm. Con người phát minh ra nông nghiệp lúc 23 giờ 59 phút 17 giây và chế tạo ra các công cụ bằng đá lúc 23 giờ 59 phút 26 giây. Ngành Thiên văn học ra đời lúc 23 giờ 59 phút 50 giây, ngay sau đó là bảng chữ cái lúc 23 giờ 59 phút 51 giây và luyện kim lúc 23 giờ 59 phút 54 giây. Các vĩ nhân đã xuất hiện để dẫn đường đồng loại của mình trong cuộc sống tâm linh : Đức Phật lúc 23 giờ 59 phút 55 giây, Chúa Giêsu lúc 23 giờ 59 phút 56 giây và Mahomet lúc 23 giờ 59 phút 57 giây. Thời Phục hưng và sự lên ngôi của khoa học thực nghiệm xuất hiện trong giây cuối cùng của năm, lúc 23 giờ 59 phút 59 giây.
Chúng ta hiện đang ở nửa đêm.
......"

(Trích từ "NGUỒN GỐC - Nỗi hoài niệm về những thưở ban đầu", tác giả Trịnh Xuân Thuận, dịch giả Phạm Văn Thiều - Ngô Vũ, Nhà Xuất bản trẻ - 2006).

XN.K3

Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2010

DẠYvà HỌC LỊCH SỬ: Một vài kiến nghị

Hội thảo khoa học-“Thực trạng- giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học Lịch sử trong trường phổ thông theo hướng đổi mới phương pháp dạy - học"


Lê Công

Nếu chỉ căn cứ vào kết quả của một kỳ thi cho dù là tuyển sinh Đại học để xem xét, đánh giá và phê phán việc dạy và học lịch sử trong tường phổ thông hiện nay,e rằng không thể tránh khỏi có phần chủ quan, phiến diện.Tuy nhiên cũng phải thừa nhận dư luận xã hội thông kênh báo chí cũng như các phương tiện thông tin đại chúng đã gióng lên một hồi chuông báo độngvề một hiện tượng có nhiều dấu hiệu bất bình thường.Trong lúc này hơn bao giờ hết cần phải hết sức bình tĩnh và tỉnh táo nhìn nhận, xem xét lại toàn bộ quy trình dạy và học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông từ nội dung chương trình,sách giáo khoa(SGK),cho đến việc dạy và học, ngõ hầu chỉ ra được nguyên nhân đích thực, cũng như bản chất của một vấn đề đã không còn chỉ dừng lại như những hiện tượng
Trong phạm vi của một tham luận của một cuộc Hội thảo, chúng tôi không dám có tham vọng làm một cuộc “cách mạng” để thay đổi về cơ bản hiện trạng của vấn đề trong tình hình hiện nay, nhưng cũng thử đề xuất một vài kiến giải với hy vọng góp một tiếng nói ngõ hầu góp phần cải thiện tình hình dạy và học bộ môn Lịch sử trong trường PTTH hiện nay
Có thể nói toàn bộ hệ thống chương trình cũng như những cấu trúc chủ yếu của SGK phổ thông hiện nay về cơ bản đã được xây dựng cách ngày nay trên dưới 40 năm, dù đã trải qua bao thăng trầm của các cuộc cải cách giáo dục, thay sách,v.vv...
Trong hệ thống giáo dục 10 năm, những nội dung thuộc khóa trình Lịch sử dân tộc từ 1858 cho đến ngày nay, được giảng dạy ở cấp III, bắt đầu từ lớp 9(Học kỳ II) và tiếp tục ở lớp 10,cho đến khi học sinh hoàn thành chương trình phổ thông.Những nội dung Lịch sử chủ yếu được trình bầy trong SGK và được truyền tải đến người học, thuộc phạm vi Lịch sử Cận đại (1858-1945) và Hiện đại VN(1945-Đến ngày nay),có thể nói đã được định hướng với những mục đích phục vụ cho những nhu cầu chính trị trước mắt(Chúng tôi không có ý phê phán, bởi vì điều đó là cần thiết và đó chính là lịch sử), tuy nhiên cho đến ngày hôm nay,vơi những yêu cầu cũng như những nhiệm vụ chính trị mới, có thể nói toàn bộ hệ thống,chương trình, nội dung cùng với những cấu trúc cấu thành SGK phổ thông hiện nay đã trở nên lạc hậu, không thể tương thích ,do đó không thể đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi đối với sự phát triển của xã hội và con người VN.
Tình trạng đó càng trầm trọng hơn với những quy định bất thành văn về tính pháp lệnh của SGK,trong cái “vòng kim cô” đó những người trực tiếp đứng lớp truyền tải kiến thức tới học sinh, vói danh phận chỉ là những công chức giáo dục không có thể làm gì hơn ngoài những nỗ lực do lòng tự trọng, để không tự biến mình thành nhữngcái loa, lịch sử vốn mang trong mình những giá trị tự thân, giờ đây bỗng trở thành một thứ công cụ minh họa cho chủ trương, đường lối, chính sách v.vv...và như thế thử hỏi làm sao lịch sử nói chung, lịch sử dân tộc nói riêng,với đày đủ sự sinh động và những mầu sắc của sự luân hồi của nhân tình thế thái,lại có thể đến được với những học sinh ở lứa tuổi 16,17đang ở những năm cuối của bậc PTTH.
Xem xét một cách cụ thể toàn bộ hệ thống cũng như các cấu trúc của chươngtrình,nội dung cũng như cách trình bầy lịch sử trong SGK lịch sử phổ thông hiện nay rất dễ nhận thấy những bất cập(Chúng tôi sẽ không nói tới dự án thay SGK đang triển khai), những nội dung lịch sử chủ yếu được truyền tải tới người học trong chương trình cấp III (Nay là THPT) thuộc phạm vi lịch sử Cận đại VN từ 1858 đến 1945 và lịch sử Hiện đại VN từ 1945 đến ngày nay,hơn thế nữa với một định hướng đã được xác định về măt nguyên tắc, vai trò mang tính quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng VN là phải thuộc về ĐCSVN và nội dung lịch sử này đương nhiên sẽ phải có một vị trí thích đáng trong toàn bộ khoá trình lịch sử dân tộc của bậc phổ thông, học sinh năm cuối cấp để có thể vượt qua các kỳ thi tốt nghiệp TH và tuyển sinh ĐH khối C buộc phải nắm được những nội dung lịch sử từ 1919 cho đến nay. Chúng ta cũng được biết các yêu cầu có tính nguyên tắc đối với những người xây dựng chương trình đồng thời cũng là các tác giả của SGK, đó là việc phải luôn luôn nắm vững tính Đảng và tính Giai cấp và đương nhiên sau đó mới là tính khoa học,phải chăng đã có đã có một bước lùi trong việc xác định các nguyên tắc để xây dựng một nền Văn hóa VN-năm 1943 trong bản “Đề cương Văn hóa VN” tác giả Trường Chinh nguyên là
Tổng Bí thư ĐCS Đông Dương đã đưa ra các nguyên tắc “Khoa học-Dân tộc-Đại chúng”-Và cũng để triển khai thực hiện các mục đích , yêu cầu đã dược định hướng trên,nguyên tắc đồng tâm cũng đã được xác định như một nguyên tắc chủ đạo trong việc xây dựng chương trình(Tham khảo sách “Hướng dẫn giảng dạy lịch sử cấp III
phổ thông”-NXBGD),theo đó lịch sử dân tộc từ nguồn gốc cho đến 1858 sẽ được dạy chủ yếu ở cấp II( Nay là THCS),sự khác biệt chủ yếu trong các nội dung sẽ được
trình bầy trong SGK cấp II và câp III cũng như các kiến thức cơ bản được truyền tải tới người học cũng đã được xác định không phải ở số lượng và nội dung các sự kiện đã được cung cấp, để từ đó đi đến hy vọng có thể hình thành các khái niệm lịch sử,rút ra những kết luận mang tính khái quát và những bài học lịch sử.Hướng dẫn mang tính chỉ đạo trên dù với mục đích như thế nào đi nữa cũng đã phạm phải một số sai lầm cơ bản, trước hêt là về nhận thức luận nói chung và nhận thức lịch sử nói riêng,
trước hết cần phải khẳng định về mặt phương pháp luận: số lượng và nội dung các sự kiện lịch sử mà người học cũng như các nhà nghiên cứu tiếp thu được sẽ là một cơ sở
quan trọng nếu không muốn nói quyết định, để nhận thức lịch sử. Chủ trương nguyên
tắc đồng tâm dù vô tình hay cố ý các tác giả SGK có thể nói đã phủ nhận các quy luật cơ bản của nhận thức.Thử hỏi với một số lượng cũng như nội dung các sự kiện lịch sử rất hạn chế được tiếp thu cấp II hoặc THCS với năng lực nhận thức cũng rất hạn chế tâm, sinh lý lứa tuổi, có thể hy vọng gì ở bậc học cao hơn,người học sẽ có những nhận thức đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn về lịch sử,ngõ hầu có thể hình thành khái niệm, để có những kết luận khái quát và cả những bài học kinh nghiệm,phủ nhận cảc
phạm trù lịch sử,vội vã khái quát, coi đó là quy luật, là logic, hậu quả để cho ngày lại
cho ngày hôm nay đối việc dạy và họclịch sử ở bậc học phổ thông quả là đã quá rõ ràng.Có thể nói không còn quá sớm nhưng cũng chưa phải là muộn, để bắt đầu cho những đổi mới mang tính cách mạng cho việc dạy và học lịch sử ở bậc phổ thông trung học.
Từ một vài nhận xét về nội dung, chương trình,SGK lịch sử như trên, chúng tôi mạnh dạn thử đưa ra một vài đề xuất như sau ,mong được sự đóng góp của các quý vị đại biểu và các bạn đồng nghiệp.
Trước hết, cần thiết phải có sự đổi mới trong tư duy về chức năng giáo dục của bộ môn lịch sử.Lịch sử trước hết là một khoa học,những giá trị mang tính khoa học của lịch sử sẽ là một đảm bảo có quyết định cho hiệu quả của giáo dục lịch sử, vì vậy có thể nói, bộ môn lịch sử chỉ có chức năng giáo dục một cách gián tiếp, đây cũng chính điểm mạnh của khoa học nói chung và khoa học lịch sử nói riêng, có lẽ cũng không cần phải gì nhiều hơn khi chúng ta đang sống trong thời đại của nền kinh tế trí thức,khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,rất tiếc cho đến nay người ta vẫn chưa chịu hiểu đúng về một điều tưởng như đã là hiển nhiên.Sai lầm trong quan niệm về chức năng giáo dục của bộ môn lịch sử, áp đặt một cách khiên cưỡng việc giáo dục tư tưởng chính trị một cách trực tiếp đã phá hỏng thế mạnh vốn có của khoa học lịch sử.Người ta thường hay nói “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống” cần phải hiểu như thế nào cho đúng về quan niệm trên, trước hết là những bài học đã được rút ra từ chính lịch sử, người xưa có nói “Thất bại là mẹ thành công” thế thì tại sao chỉ có thắng lợi,cũng như chỉ có chiến thắng, dù chỉ là của một trận đánh nhỏ mới được coi là những bài học lịch sử, phải chăng bên cạnh những thành công hơn thế nữa để có những vinh quang còn có vô vàn những hy sinh mất mát và cả nhũng bài học kinh nghiệm vẫn còn nguyên giá trị cho hậu thế.Chúng ta đều biết vào đầu thế kỷ XX,nhận xét về thực trạng xã hội và dân trí của nước ta,các sĩ phu có tư tưởng tiến bộ và yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đều nói tới cái“ngu” và cái “hèn”, thậm chí Phan Bội Châu còn chỉ ra tới “năm cái ngu”,bài học lịch sử đó đã được hậu thế tiếp thu như thế nào? Nếu khuôn khổ của SGK phổ thông có hạn chế thì hãy để cho bản thân sự kiện lịch sử nói lên những điều cần nói chứ đừng gò ép một cách khiên cưỡng các bài học lịch sử,mọi sự áp đặt một cách chủ quan,duy ý chí chắc chắn sẽ phải trả một giá đắt
Chúng ta không phủ nhận việc xây dựng một nền giáo dục có định hướng,cũng như phải có những mục tiêu cụ thể trong thời điểm lịch sử cụ thể, vấn đề là ở chỗ những yêu cầu và mục tiêu trước mắt đó có được xác định trong một tổng thể mang tính chiến lược và được coi như một bước đi ban đầu có giá trị của sự đột phá,mở đường, hay vẫn chỉ coi như một “giải pháp tình thế”thực chất chỉ là để chữa cháy.
Nếu đã xác định mục đích “xây dựng một nước VN giầu mạnh, công bằng,dân chủ và văn minh” và coi đó như là một mục tiêu mang tính chiến lược, thì trước hết cần phải xây dựng “ một xã hội công dân và một nhà nước pháp quyền”,chủ thể của xã hội hiện đại đó, phải là những con người mang đầy đủ ý thức và trách nhiệm công dân,cũng có thể khẳng định trong xã hội công dân, ý thức chính trị cao nhất chính là ý thức công dân.
Như vậy việc xây dựng lại toàn bộ hệ thống cũng như các cấu trúc chủ yếu của chương trình, nội dung SGK lịch sử phổ thông hiện hành đang được đặt ra một cách cấp bách.Trong phạm vi của một cuộc Hội thảo, chúng tôi thử đưa ra một vài đề xuất có tính tham khảo, mong được các quí vị đại biểu và các bạn đồng nghiệpcó quan tâm cùng trao đổi, thảo luận, ngõ hầu tìm ra hướng đi cho một vấn đề đang được đòi hỏi phải được giải quyết để đáp ứng nhu cầu phát triến của giáo dục phổ thông cũng như của đất nước hiện nay
Trước hết để có thể thay đổi một cách toàn diện, cơ bản hệ thống ,chương trình,nội dung SGK lịch sử,cần phải loại bỏ một nguyên tắc có tính truyền thống nhưng đã trở nên lạc hậu, đó là nguyên tắc đồng tâm,những hạn chế của nguyên tắc này,như đã trình bầy ở trên xin phép không nhắc lại.
Toàn bộ hệ thống cũng như những cấu trúc của SGK lịch sử phổ thông,sẽ phải được hình thành từ việc xác định quá trình hình thành và phát triển của đất nước và con người VN bao gồm cả hai hoạt động dựng nước và giữ nước,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở “Các vua Hùng dã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”,như vậy lịch sử dân tộc VN đâu phải lúc nào cũng chỉ có chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc, tất nhiên đó là một đặc điểm nổi bật của lịch sử dân tộc,bên cạnh đó những hoạt động trong lao động và sản xuất mang tính sáng tạo của quá trình dựng nước để hình thành “một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc”
cũng là một đặc trưng, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử.Như vậy những hiểu biêt tối thiểu về nền văn hóa và văn minh mang tính truyền thống cũng như đương đại của dân tộc không thể thiếu được trong hành trang kiến thức của học sinh trung học sẽ là những người chủ tương lai của đất nước.
Với quan niệm như trên, chúng tôi đề nghị hệ thống và những cấu trúc chủ yếu của SGK lịch sử phổ thông(phần lịch sử VN) sẽ được chia làm hai phần, tương ứng với hai nội dung: lịch sử dân tộc và lịch sử văn hóa, văn minh, trong đó ở PTCS, học sinh sẽ được học toàn bộ lịch sử dân tộc,những kiến thức cơ bản mà các em đã tiếp thu được ở bậc học này sẽ là những cơ sở quan trọng để tiếp cận với những nội dung lịch sử thuộc phạm trù văn hóa và văn minh ở bậc PTTH( lịch sử văn minh TG được học song song với lịch sử văn hóa,văn minhVN ở PTTH)
Chúng tôi nghĩ rằng hệ thống và cấu trúc trên, phù hợp với các quy luật về nhận thức,
kiến thức lịch sử của học sinh được xây dựng từ cơ bản đến nâng cao một cách vững chắc, đồng thời cũng phù hợp các quy luật về tâm, sinh lý lứa tuổi Trên đây là một vài đề xuất mang tính định hướng, chủ yếu là để tham khảo, mong có được sự phản hồi từ quý vị đại biểu, các bạn đồng nghiệp và những người có quan tâm.
29.10.2005

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2010

Việt minh suýt thua ... (P2)

(để tăng độ tin cậy, các tư liệu trong “VM suýt thua…” tôi không lấy từ các trang tin trên mạng, kể cả trang tin đáng tin cậy. Tuy nhiên, do tóm tắt nhiều trang vào một vài dòng nên sự tóm tắt có thể bị thiên lệch).

1.1. Chiến lược của Việt minh (VM): “Lấy nông thôn bao vây thành thị. Lấy miền núi là chính, lấy đồng bằng là phối hợp” (bị chi phối nặng nề nguyên lí của Trung quốc (TQ).
Về kế hoạch: “…hướng chiến lược chủ yếu trong Đông-Xuân 1953-1954 vẫn là Tây Bắc và Thượng Lào…”.

1.2. Chiến lược của Pháp: Chính phủ Pháp không đưa ra được chiến lược chính trị ở Đông dương, nên Nava đành đề ra là “tạo cơ hội để Pháp rút khỏi Đông dương trong danh dự”. Về quân sự là “…giành lại thế chủ động để dẫn tới tỉ số 1/1 về quân sự”, và kế hoạch “đạt đến défense indirecte” của Nava như sau:
Bước 1: Ổn định hậu phương, bỏ hàng rào Đờ-la-tua (hệ thống tháp canh) để xây dựng 44 tiểu đoàn cơ động chiến lược.
Bước 2: Dùng một phần lực lượng cơ động lập ra các “gai nhọn” (tập đoàn cứ điểm) cắm sâu vào cơ thể VM tại các “huyệt xung yếu”. Lấy đó làm bàn đạp tấn công hậu cứ VM, tạo nên các chiến thắng quân sự, phục vụ cho cuộc “hòa đàm” về chính trị.

1.3. Các “huyệt xung yếu”: Các gai nhọn sẽ cắm “…ở vị trí sao cho trước khi chúng tiếp tục tấn công thì chúng phải tấn công cứ điểm hoặc phải bao vây cứ điểm bằng lực lượng rất lớn…”. Nava “nhất trí với VM” là Tây Bắc và Thượng Lào vẫn là hướng chiến lược chủ yếu.

2.1. Quá khứ Tây Bắc: Tướng Salăng, người tiền nhiệm của Nava, đã lập tập đoàn cứ điểm Nà sản và cụm Lai châu. Tháng 1/1953, Salăng tính lập tập đoàn cứ điểm Điện biên phủ (hãy gọi là GONO) nhưng vì nhiều lí do nên tới 21/6/1953 (ngày Salăng “trả gậy” cho Nava) vẫn chưa làm được. Nava “nhất trí với Salăng” là Nà sản và Lai châu không phải là “huyệt xung yếu” ở Tây Bắc và Thượng Lào.

2.2. Thời cơ xây dựng GONO: VM đưa 3,5 vạn chủ lực và 20 vạn dân công lên giải phóng Tây Bắc, uy hiếp Thượng Lào. Đây là giọt nước trào để ngày 20/11/1953 Nava triển khai GONO.

2.3. VM và Pháp đã “nhìn nhau mà gắp”: hai bên cùng gia tăng lực lượng lên Điện biên. VM từ 3 f lên các f chủ lực, f Công-Pháo, một số e độc lập. Pháp từ 6 lên 12 d (cuối chiến dịch là 17 d) chưa kể lực lượng đảm bảo.

3.1. Pháp-phương án phòng ngự GONO: Nava khẳng định, do GONO ở quá xa hậu cứ VM nên VM chỉ có thể có một phương án đánh GONO là “đánh nhanh thắng nhanh”.
Vì vậy Nava đã xây dựng GONO theo phương án bóp chết VM trong vài ngày nếu họ tấn công theo kiểu này, “…có thể tiêu diệt phần lớn sinh lực địch ngay trong ngày đầu tiên”.

3.2. VM-về cách đánh nói chung:
- Sau thất bại thảm hại trước tập đoàn cứ điểm Nà sản, VM đã lo ngại về việc áp dụng các hình thức chiến thuật của cố vấn TQ, bởi tổn thất quá nhiều người.
- Cố vấn TQ: “…nhược điểm của các đ/c là ít quân quá…”

3.3. 10/1953. Hội nghị Bộ chính trị về kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 53-54:
- Chúng ta phải “…trở về với truyền thống quân sự Việt nam. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc … Người của ta không nhiều (như TQ) nên chỉ có thể thắng, không được bại. Bại là hết vốn…”.
- 19/11/1953. Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch hoạt động ở Tây Bắc:
Đợt 1: f 316 đánh Lai châu. Kết thúc chiến dịch vào cuối tháng 1/1954. Nghỉ 20 ngày.
Đợt 2: “…tấn công GONO, thời gian ước tính 45 ngày… Chiến dịch khởi đầu vào tháng 2/1954, sẽ kết thúc vào đầu tháng 4/1954 … Quân số tổng quát của chiến dịch sẽ là 42.000 quân và toàn bộ pháo binh, công binh, lực lượng phòng không… Hậu cần bước đầu phải huy động… Dân công chỉ tính từ trung tuyến trở lên là 14.500 người… Thời gian tiến hành từ tháng 12/1953…”.

3.4. VM và phương án đánh GONO:
- 6/12/1953. Tổng quân ủy trình Bộ chính trị kế hoạch đánh GONO: “…ước tính trong 45 ngày… Ta mới có kinh nghiệm đánh công kiên với địch cỡ 1 d ... Nà sản nhỏ hơn GONO rất nhiều mà ta đã bị tổn thất lớn (do áp dụng chiến thuật áp đảo bằng quân số)…”
- 12/1/1954. tướng Giáp: “…ngay bây giờ đánh GONO theo chiến thuật “moi tim” đã khó…”.

4.1. TQ và phương án đánh GONO: Cho tới giờ G, trong cuộc họp với các tướng VM, cố vấn TQ vẫn nhất quán chiến thuật “moi tim địch” đánh cấp tập trong 3 đêm 2 ngày.
- Tướng VM: Pháo của GONO rất mạnh, pháo ta lại nằm trong lòng chảo, vậy giảm thương vong bằng cách nào?
- Cố vấn TQ: do bất ngờ về pháo 105, nên trong đêm đầu tiên, hỏa lực ta sẽ tiêu diệt toàn bộ pháo địch.
- Tướng VM: không quân địch mạnh hơn không quân Tưởng (cố vấn trao đổi kinh nghiệm TQ đánh quân Tưởng), giảm thương vong cho bộ đội bằng cách nào?
- Cố vấn TQ: khi sang ngày thứ nhất thì quân ta đã xen kẽ với quân địch rồi, không quân địch mất tác dụng. Đồng thời Pháo phòng không 37 là con bài bất ngờ (sẽ áp đảo không quân).
- Cuộc họp nhất trí giờ G ngày N là 17g 21/1/1954.
(Sau chiến dịch, nhiều tướng đã bày tỏ về việc tuy không đồng ý với kiểu đánh "moi tim" nhưng đã ... im lặng trong cuộc họp).

4.2. May mà dốc núi quá cao, vực thẳm quá sâu:
- Dự kiến pháo 105 “kéo vào” trong 3 ngày nhưng sau 7 ngày pháo mới vào vị trí.
- Lệnh: ngày N lùi lại 5 ngày.
- Đêm 25/1 GONO bắt được 1 trinh sát VM. Lệnh: lùi ngày N thêm 24 giờ.
- Sáng 26/1 tướng Giáp hội ý riêng với cố vấn TQ (4.3); ngay sau đó hội ý với các tướng VM, ra lệnh: Các đơn vị rút ngay. Kéo pháo ra.

4.3. Thỏa thuận với cố vấn TQ.
Sáng 26/1, tướng Giáp gặp cố vấn VQ.Thanh (chỉ nửa giờ):
- Cố vấn: tại sao đ/c không cho đánh theo kiểu “moi tim địch”?
- Tướng Giáp: 1/Pháo ta chưa tập đánh hợp đồng sẽ không áp chế được pháo địch, trong khi ta đánh ban ngày; 2/ không quân Pháp mạnh hơn không quân Tưởng, cao xạ ta lại không có kinh nghiệm nên không khống chế được địch; 3/ nếu đêm đầu ta không diệt được pháo địch thì hôm sau sẽ hết quân. Chúng tôi không có nhiều quân như các đ/c.
- Cố vấn: “…(sau một thoáng suy nghĩ) đồng ý đổi “moi tim” bằng “đánh bóc vỏ". Tôi sẽ thuyết phục đoàn cố vấn…”.

5.1. Số lượng viện trợ của TQ cho chiến dịch GONO.
- 24 pháo 105 và 3.600 đạn (18% yêu cầu của chiến dịch). Trước đó VM đã “ém” được 11.000 đạn 105 chiến lợi phẩm trong chiến dịch Biên giới, 440 viên 105 lấy từ mặt trận Trung Lào.
- 1.700 tấn lương thực (6,8% yêu cầu của chiến dịch).
- Một số hỏa tiễn H6 “…đưa tới vào cuối thời gian của chiến dịch…”.
- 7.500 viên 105 “…đưa tới khi chiến dịch đã kết thúc …”.

5.2. Pháp vét gần hết lính dù cho GONO: Cuối chiến dịch, khi GONO yêu cầu thả thêm lính dù thì Hanoi trả lời “…hết rồi. Hiện dự trữ cho đồng bằng Bắc bộ chỉ còn 1 d Dù và cả Đông dương chỉ còn 2 d Dù…”.

Hình: ... suỵt ...

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Bài hát theo yêu cầu



Ước gì
Sáng tác: Võ Thiện Thanh ,hát : Mỹ Tâm
( Tạ Việt Chiến K3 yêu cầu )


Em đã sống những đêm trời có ánh trăng chiếu vàng
Em đã sống những đêm ngoài kia biển ru bờ cát
Ước gì anh ở đây giờ này
Ước gì anh cùng em chuyện trò,
cùng nhau nghe sóng xô ghềnh đá ngàn câu hát yên bình
Em đã biết cô đơn là thế mỗi khi cách xa anh
Từng đàn chim cuối chân trời biếc tìm nơi bình yên
Ước gì anh ở đây giờ này
Ước gì em được nghe giọng cười,
và hơi ấm đã bao ngày qua mình luôn sát vai kề
Em xa anh đã bao ngày rồi, nghe như tháng năm ngừng trôi
Khi xa, em nhớ anh thật nhiều, này người người yêu anh hỡi
Ước gì em đã không lỡ lời
Ước gì ta đừng có giận hơn để giờ đây cô đơn vắng tanh
Đời em đã vắng anh rồi
Ước gì cho thời gian trở lại
Ước gì em gặp anh một lần,
em sẽ nói em luôn nhớ anh và em chỉ có anh thôi..

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2010

Ôn tân tri cố

(Bài này viết 08, gửi anh em để tham khảo, nhân chuyện Hà Đông mới nhắc mấy hôm nay về sử ta - TCk3)


Đầu năm nay, chuẩn bị cho loạt bài 50 năm đường Trường Sơn, nhóm phóng viên chúng tôi đến Tân Kỳ – Nghệ An, nơi có di tích và tượng đài kỉ niệm km 0 con đường huyền thoại này. Gặp người lặn lội đi làm hồ sơ di tích, chúng tôi ngạc nhiên thấy ông không trả lời những câu hỏi “Tại sao lấy đây (ngã tư đặt tượng đài) làm ki – lô - mét 0?”, “Sao không thể lấy lên trên, lùi xuống dưới hoặc sang trái, sang phải?”, “Vai trò của làng Ho, khe Hó thế nào?”… Dù sao, loạt bài tuyên truyền về đường Trường Sơn vẫn hoàn thành, in ra. Nhưng nó để lại cho những người thực hiện sự bối rối, có lẽ giống như khi ta xem phim về chiếc xe tăng đầu tiên vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Có những câu hỏi “hiện ra”: quá khứ là cái như ta hằng học, hằng ghi nhận hay chỉ gần gần như thế, khó khăn hơn là không hẳn như thế? Lịch sử gần đã vậy thì lịch sử xa còn di dịch đến thế nào? Nghĩ vẩn vơ, rồi lại nhớ đến câu của Blaga Đimit’rôva, bà nhà thơ Bungari rất thân thiết với Việt Nam thời đánh Mỹ: “Lịch sử Việt Nam trộn lẫn với huyền thoại”.
Sau nhiều “chặng” chinh chiến hoặc dài hoặc ngắn, xen giữa là vài “đợt nghỉ” ngắn ngủi, đến năm 1954, một nửa đất nước bước vào công cuộc “xây dựng”. Tiếng là “hoà bình” nhưng những ngày đó vẫn rầm rập bước quân đi, vì miền Bắc còn nhiệm vụ chi viện, giải phóng miền Nam, đương đầu với chiến tranh phá hoại. Đặc điểm chính trị – xã hội ấy quy định cho công việc của khoa học xã hội nói chung, ngành nghiên cứu sử nói riêng những quan điểm, những phương pháp, cách tiếp cận…, nhiều khi còn hệ trọng hơn cả tính khoa học. Sự kiện, con người, giai đoạn càng gần thì ảnh hưởng trên càng lớn. Cho nên, không lạ gì là thời kỳ này, những nhà khảo cổ, nghiên cứu cổ sử lại được độc lập hơn bên cận đại. Làm sử hiện đại càng khó…
Chẳng hạn, người Pháp sang xâm lăng, chấm dứt nền độc lập Đại Việt đã kéo dài ngót hai nghìn năm, thế thì đương nhiên đã là người Pháp thẩy đều là thực dân; những gì họ “bỏ lại” đất nước này chỉ để phục vụ cho sự đô hộ. “Giặc núp sau bóng chúa”, nên ảnh hưởng của những giáo sĩ tạo lập gia quốc ngữ, đào tạo nên lớp trí thức, văn nghệ sĩ thuộc địa phải bị hạn chế. Chẳng hạn, những ai Để mất nước vào tay quân Pháp, triều đình Nguyễn, đương nhiên phải mắc tội tày đình nhất. “Cõng rắn cắn gà nhà” mặc nhiên là dấu vết duy nhất vương triều này để lại. Sự ngắn gọn, chắc nịch của thành ngữ được vận dụng hằn một vệt quá sâu trong các nghiên cứu, phổ biến ra sách giáo khoa, để rồi “đóng đinh” trong nhận thức xã hội. Rồi đương nhiên tất thảy những gì, những ai dính líu đến Tây thì đều xấu xa, “tay sai phản động”.
Những năm sáu mươi có lẽ là “cao trào” phê phán nhà Nguyễn. “Quốc sử quán” - tức Viện Sử học, sách giáo khoa… đều khẳng định cách nhìn này. Cũng khó làm khác đi vì đó là thời chiến, khoa học xã hội phải phục vụ các nhiệm vụ chính trị, chưa hẳn được tồn tại hoàn toàn với những mục đích tự thân. Nhưng ngay từ thời kỳ đó, không phải đã không có những nhận thức “khang khác”. Theo GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử ngày nay, chính viện trưởng Viện Sử học hồi ấy, ông Trần Huy Liệu, từng “thổ lộ”, tất nhiên không công khai: “Nói Tây Sơn có công thống nhất đất nước tôi cứ thấy thế nào…”. Đây là điều khả dĩ thống nhất với đánh giá của Trần Trọng Kim (người ông Liệu rất không ưa) trong Việt Nam sử lược, rằng Nguyễn Phúc ánh đã “đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương nam”.
Kể thì cũng lạ. Bởi vì trước Trần Trọng Kim, sử liệu và vô số những đánh giá khác đã cho thấy cả những điều tích cực về nhà Nguyễn. Lê Quý Đôn, một “người của chúa Trịnh”, khi nhậm trị ở Thuận Hoá đã viết trong Phủ biên tạp lục về một Nguyễn Hoàng rất đẹp : “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình cũng được nhờ”.
*
Đất nước yên hàn. Mối nguy trực tiếp, sát sạt về một sự đe doạ từ bên ngoài đã tàm tạm lùi ra xa, khiến người có quyền định đoạt không còn khiến các khoa học xã hội như một công cụ. Đó là những điều kiện để giới nghiên cứu được độc lập theo đòi một phương pháp khách quan, khoa học, tôn trọng sự thực lịch sử hơn. Những tư liệu xuất hiện dưới dạng gốc, chứ không phải “thứ cấp” hoặc bị cắt xén. Những nhà nghiên cứu viết điều mình nghĩ. Những “đa”, “đề” cỡ Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giầu, Võ Văn Kiệt che mát các hoạt động khoa học. Các hội thảo đã sôi nổi cả về phần “thảo”, chứ không chỉ là cái “hội” với mọi thứ đã “nhất trí cao” trước khi diễn ra. Sáng ra một hình ảnh Phan Thanh Giản giầu lòng yêu nước thương dân, vì trung quân mà bị đóng đinh trong câu “Phan Lâm mãi quốc / Triều đình khí dân”. Sự hình thành miền đất Nam Bộ được gắn liền với những tên tuổi “khả nghi” kiểu Lê Văn Duyệt, hoặc chưa mấy ai biết đến, như cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích – những cựu thần phục Minh phản Thanh từ Trung Hoa chạy sang khai phá…
Tháng 10 – 2008, hội thảo “”Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 19” do Hội Khoa học lịch sử và tỉnh Thanh Hoá gây ảnh hưởng lớn theo những chiều khác nhau. Thu hút lãnh đạo, nhân dân “Quý hương” – tỉnh Thanh, các dòng hoàng tộc Nguyễn, đã đành, nó quy tụ nhiều tên tuổi trong giới nghiên cứu các vùng miền, cả giới khoa học Anh, Pháp, Hà Lan, Trung Quốc… Thời kỳ “Quảng Nam quốc” sáng lên với công cuộc nam tiến, chinh phục xong tộc Chăm… Các vua Nguyễn, điển hình là Minh Mạng, được tôn vinh với công hoàn thành thống nhất lãnh thổ, quản lý hành chính. Về văn hoá, hiếm có một vương triều nào để lại được ba di sản được UNESCO công nhận như nhà Nguyễn với cố đô Huế, phố cổ Hội An (vật thể) và nhã nhạc cung đình (phi vật thể). Những nghiên cứu có tính phát hiện rất thú vị, như Hội An đánh dấu một tư duy mở, giao thương ra thế giới và khu vực, khác hẳn cách nghĩ bảo thủ, khép kín, độc tôn của phong kiến, càng khác cái “bản chất” “sợ biển ngại rừng chỉ loanh quanh đồng bằng của người Việt”. Như Nho giáo Đàng Trong có tính chất “dân gian”, thực tế, không quá “cử tử trường ốc” như Đàng Ngoài… Như Tây Sơn, thật ra là một phong trào nông dân với đủ cả nồi da nấu thịt, tranh giành quyền lực… Vai trò chúa Trịnh cũng khác, chả phải chỉ gây ra sự phân tranh, họ cũng thúc đẩy cuộc mở mang lãnh thổ.
Dầu sao, trong “nẻo rẽ” mới, các nhà khoa học đủ tỉnh táo để nhận rằng bên cạnh những điều được bổ sung trên, nhà Nguyễn vẫn là anh để mất nước. Công là công, tội là tội, không thể quên được một Nguyễn ánh đã mời 5 vạn quân Xiêm sang, ký hiệp ước Versailles với Pháp. Độc tôn Nho giáo, khinh bỉ lũ “ngạ quỷ hồng mao”, nhà Nguyễn bảo thủ lạc hậu, để mất nước là đương nhiên. Và cũng chả thể xoá bỏ những gì Tây Sơn đã làm được. Đó là sự khách quan về phương pháp, đem lại sự công bằng lịch sử. Người xưa có những giỏi giang và hạn chế khác với thời nay, bắt họ phải giống ta là vô lối.
Mang lại nhiều tư liệu, nhận thức khác trước, hội thảo trên không chỉ có ý nghĩa với triều Nguyễn, tỉnh Thanh, mà còn đánh dấu mốc về phương pháp, mức độ chuyên nghiệp hoá việc nghiên cứu sử. Những giả cứ, phẩm bình không thể “nhất trí” ngay, theo người ta về lọ mọ tìm hiểu thêm, là cái được của hội thảo. Hình như là có thế thì Ăng – ghen mới bảo “lịch sử luôn luôn phải được viết lại”.
Thế giới “phẳng”, nhiều thông tin, cứ liệu mới về các giai đoạn, nhân vật, sự kiện trong quá khứ tiếp tục được đưa ra, khiến ta rơi vào những nỗi bối rối khác. “Lịch sử như một sợi chỉ”, hình dung ấy thật tù mù mà cũng chả chính xác, nhưng lại ám ảnh dai dẳng. “Sợi chỉ” thì có thể rút ra cho “kim chỉ có đầu” được, nhưng có khi lại thật rối rắm, càng gỡ càng rối. Nhưng nói thế là muốn thể hiện cái cảm giác bất chợt xuất hiện khi nhìn vào những “lỗ hổng” chưa được khoa học lịch sử giải quyết, hoặc những phát hiện “mới tinh” đòi hỏi sự nhìn nhận không thể giống cũ.
Chẳng hạn, cái nhận thức ta có 4000 năm lịch sử, một ngày đẹp trời được “nói lại cho rõ” là “mấy nghìn năm” thôi, tức là chưa dài lâu đến thế đâu. Ta đinh ninh đất nước từ Âu Lạc, An Dương Vương tới nay có ngọn nguồn từ nền văn minh sông Hồng, trung tâm là người Việt, cứ thế lan toả xuống phía Nam, và kiên cường trụ vững trước thế lực từ phương Bắc. Nhưng nhiều nghiên cứu mới đây cho biết trên những vùng đất “quy tập” về Đại Việt đã có cư dân, thổ ngơi, văn hiến riêng biệt, không thể cứ “duy văn hoá người Kinh” mà soi chiếu. Nhu cầu về sự thống nhất trong tinh thần dân tộc, rất cần thiết, đã có lúc làm đơn giản nhiều sự kiện có ý nghĩa rất lớn nhưng phải được nhìn nhận đa chiều. Hà Nội chưa khôi phục lại tên phố cho công chúa Huyền Trân vừa chưa thoả đáng với người con gái hy sinh thân mình cho vương triều Trần thu được một vùng đất lớn, vừa che đi một mảng về sự mở mang cương vực của đất nước. Hoặc sự kiện cuộc mít tinh ngày 17-8-1945 ở Nhà hát lớn, bên tổ chức là Tổng hội Viên chức - tất nhiên lập thời Trần Trọng Kim - đã để Việt Minh cướp diễn đàn, thì liệu có ai trong đó lại là cộng sản?
Dường như cách đây hơn bốn chục năm, khi đề cương Lịch sử Việt Nam, cuốn thông sử của thời đại còn đang được tính toán, đã có một vấn đề đặt ra, rằng nên “nghiêng” về mảng dựng nước hay giữ nước? Nói theo cách khác, đây là tương quan giữa “võ công”, để mở mang, bảo vệ đất nước, với “văn trị” - để cho nó ổn định, phát triển. Thời phong kiến xếp “sĩ” lên đầu, còn “thương” đứng sau cả “nông, công”, nay có nên dùng lại thứ bậc ấy? Chuyện chưa đi đến đâu, nhưng rõ ràng đến nay đây vẫn còn là thời sự.
Là bởi vì “quan điểm” “được làm vua thua làm giặc” đã là chính thống trong nhiều thế kỷ làm sử. Hồ Quý Ly hạn chế số ruộng đất, nô tỳ của quốc thích nhà Trần, phát hành tiền giấy thay tiền kim loại, xứng bậc nhà cải cách lớn. Nhưng ông thường bị coi là một “điểm đen”, không thể sánh với Trần Thủ Độ – cũng “cướp ngôi” đấy chứ, vì đã để mất nước vào tay quân Minh. Nguyễn Huệ dùng binh cái thế trước quân Xiêm, Mãn Thanh, dễ được “quên” đi những chuyện ông lục đục với Nguyễn Nhạc. Chính vì sợ hở lưng với ông anh cả mà Nguyễn Huệ không thể truy đuổi Nguyễn ánh về phương Nam đến tận cùng, để rồi sau này bị quật lại. Kế vị ông, Quang Toản cũng xử với con Nguyễn Nhạc khá tệ. Đấy có phải là một lý do để Quang Trung, sau khi thống nhất sơn hà, không định đô ở Thăng Long với đám “kẻ sĩ Bắc Hà”?
Đấy là chuyện xa xa. Còn gần gụi thì những gì có đóng góp cho cuộc sống phát triển trong lòng một chế độ chính trị bị phụ thuộc ngoại bang vẫn “lép” so với những người có công đánh bật ngoại bang ấy đi. Buôn bán như Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi, làm báo, trước tác như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, vì đều là trong “thời Tây”, thành thử đều “có vấn đề” cả. Thợ nấu ăn ngon, con hát giỏi càng vắng bóng. Họ rất phức tạp. Nhưng thời thế nó thế, công tội đến đâu đều nên minh xét. Đơn giản hoá cuộc sống, phân định mọi thứ đều ra “bên địch” với “bên ta” không phải là một thái độ khoa học khách quan, vì thật hiếm có ai thập toàn như Nguyễn Trãi, giai đoạn nào “trong vắt” như thời Lê Thánh Tông, và ngược lại.
Ta hằng trách học sinh, thanh niên không quan tâm, bàng quan tới môn học lịch sử, thuộc sử Trung Hoa – giờ đây là sử Hàn Quốc – hơn sử mình. Điều ấy có thật, và lý ra thì nhiều nguyên nhân lắm. Nhưng định hình, “là” phẳng, “trói chặt” quá khứ vào một hình hài nhất định, “mầu” thì chỉ hoặc trắng hoặc đen, không coi nó là một đối tượng còn “cựa quậy”, diễn biến để tìm hiểu tiếp tục thì chính những người có tuổi cũng thấy nhàm.

Trường Chiến K3

ĐIỆN BIÊN PHỦ-QUA TÀI LIỆU

( Trao đổi cùng HCQ, HDDTK3 xung quanh một vấn đề lịch sử, trước đây vào các dịp kỷ niệm 4o năm-1994 và 50 năm-2004 ,tôi đã có một số ý kiến và tham luận trong các Hội thảo khoa học có liên quan tới sự kiện này,nay nói lại để các bạn cùng bình luận)

Nói đến Điện Biên Phủ 1954, các nhà nghiên cứu và những người có quan tâm thường đặut ra những câu hỏi như ĐBP nằm ở đâu trong " kế hoạch Navarre" cũng như chủ trương chiến lược của ta trong Đông Xuân 1953- 1954 ( theo cách trình bầy của các tài liệu mang tính giáo khoa , phổ biến kiến thức phổ thông, thì " kế hoạch Navarre" bao gồm hai bước, còn chủ trương chiến lược của ta "tập trung mở các cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược ở đó địch yếu nhưng không thể bỏ"- lưu ý ĐBP địch không hề yếu mà ngược lại rất mạnh.

ĐBP dường như là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử quân sự nằm ngoài quy luật của các cuộc chiến tranh thông thường. Cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài 9 năm từ 1946 đến 1954 đã kết thúc ở vùng rừng núi thuộc Tây Bắc VN, cách Hà Nội 200km đường chim bay, chứ không phải là ở những trung tyâm đầu não về kinh tế , chính trị, văn hóa - xã hội của chế độ thuộc địa đương thời như Hà Nội hay Sài Gòn, kết cục này nếu xét theo cách nhìn nhận dưới góc độ mang tính chính thống về một thắng lợi "đỉnh cao,có ý nghĩa thời đại" thì dường như không được phản ánh đầy đủ trong cuộc đấu tranh ngoại giao tạii Hội nghị Geneve cũng như kết quả của Hội nghị thông qua các văn bản của Hiệp định Geneve về Đông Dương 1954.
Xét cho cùng tất cả những vấn đề trên hoàn toàn có thể lý giải được, nếu có một phương pháp tiếp
cận và giải quyết vấn đề một cách khách quan và khoa học
Trước hết cần xác định những vấn đề xung quanh chủ trương chiến lược Đông -Xuân 53-54
( theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp c hỉ là kế hoạch tác chiến Đông- Xuân 53-54, xung quanh khái niệm "chủ trương chiến lược" và việc sử dụng khái niệm này cần phải được xem xét một cách nghiêm túc). Từ các nguồn tài liệu hiện có như Hoàng Văn Thái- Cuộc tiến công chiến lược Đông -Xuân 1953-1954-nxb QĐND 1984 cho biết, từ tháng 1/1953 Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN đã nghiên cứu và xây dựng phương án tác chiến theo chỉ đạo cuả Hội nghị BCH TƯ IV.
Một câu hỏi lớn được đặt ra , đòi hỏi phải có câu trả lời" Chủ lực của ta sẽ đánh vào đâu" nói cách khác đâu sẽ là hướng hoạt động chủ yếu trong hai năm 1953-1954?
Cũng đã có sự cân nhắc khi phân tích để lựa chọn giữa Trung Du, đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc( Lai Châu và Nà Sản), câu trả lời cuối cùng là Nà Sản, nhưng bất ngờ từ 8 đến 12/8/1953 H.Navarre đã cho rút bỏ toàn bộ tập đoàn cứ điểm này ( Nà Sản được hình thành theo chủ trương của R.Salan). Vậy là phải xác định lại hướng tấn công chủ yếu của chủ lực . Theo tài liệu trên "Lai Châu không thể là hướng tấn công chủ yếu.Thượng Lào, Trung Lào, Bình Trị Thiên địch tuy yếu nhưng quá xa khó tiếp tế, Nam Bộ chưa có điều kiện đánh lớn, Trung Du và đồng bằng Bắc Bộ cũng không thể là hướng tấn công chủ yếu,cho nên trước mắt chỉ sử dụng từng bộ phận nhỏ của chủ lực đánh ở đây với mục đích là để rèn luyện.
Tuy nhiên cho đến đầu tháng 9/1953 do đã phần nào nắm được "kế hoạch Navarre" nhưng do chưa có thể nắm được toàn bộ ý đồ chiến lược cũng như phương thức tác chiến của địch, cho nên chủ trương chọn Lai Châu và Trung Lào với mục đích phân tán lực lượng cơ động chiến lược của Navarre đang tập trung ở đồng băng Bắc Bộ.
Các tài liệu hiện có như Võ Nguyên Giáp- ĐBP điểm hẹn lịch sử, Văn kiện Đảng về ĐBP, các bài viết của các nhà nghiên cứu Hoàng Minh Phương, Trần Trọng Trung ch o biết, từ ngày 19 đến 23/11/1953 Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng đã triệu tập cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên để phổ biến kế hoạch tác chiến Đông -Xuân 1953-1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định:
" Hướng chính là Tây Bắc, kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch,tranh thủ nhân dân,giải phóng Lai
Châu và mở rộng căn cứ kháng chiến,uy hiếp Thượng Lào để phân tán địch,tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tác chiến sau này.Lực lượng sử dụng hai đến ba đại đoàn. Hướng phụ là Trung Lào,lực lượng sử dụng hai trung đoàn.Hướng phối hợp là đồng bằng..." Trước đó vào tháng 10 đã có cuộc họp của Bộ Chính trị để bàn về kế hoạch tác chiếni Đông -Xuân 1953- 1954, Bác Hồ đã kết luận Hội nghị trên tinh thần chọn Tây Bắc là hướng hoạt động chính.
Như vậy Chiến dịch Tây Bắc II đã được khởi động và từng bước hình thành. Ngày 26/11/1953 Bộ tư lệnh tiền phương của chiến dịch đã được hình thành và lên đường đi Tây Bắc bao gồm Tổng tham mưu phó Hoàng Văn Thái, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục cung cấp Đặng Kim Giang và Cục phó cục tác chiến Đỗ Đức Kiên.
Cniến dịch Tây Bắc II dự kiến chia làm hai đợt ( chỉ là dự kiến bởi vì sau này đã có sự thay đổi căn bản so với kế hoạch ban đầu) :

Đợt 1: Đại đoàn 316 đánh Lai Châu, kết thúc vào cuối tháng 1/1954, sau đó nghỉ khoảng 20 ngày để chấn chỉnh và củng cố để tiếp tục đánh ĐBP.

Đợt 2 : Tấn công ĐBP thời gian dự kiến 45 ngày, nếu địch không tăng cường có thể rút ngắn hơn
Chiến dịch sẽ kết thúc vào đầu tháng 4/1954, sau đó sẽ tiếp tục phát triển sang Thượng Lào uy hiếp Luông Phabăng.

Ngày 6/12/1953 tờ trình của Tổng quân ủy gửi Bộ Chính trị nêu rõ " Thời gian tác chiến ở ĐBP ước độ 45 ngày, dự kiến bắt đầu tháng 2/1954"
Sau này khi cuộc chiến đã chấm dứt, người Pháp cứ day dứt mãi với câu hỏi"Tại sao ĐBP" H.Navarre đã trả lời,mục đích của việc hình thành tập đoàn cứ điểm ĐBP không phải chỉ là " ĐBP sẽ là một cái cối xay thịt nghiền nát chủ lực của VM" mà còn là thực hiện ý đồ ngăn chặn sự phát
triển của VM sang Thượng Lào" nhưng chính giới Pháp lại cho rằng VM hoàn toàn có thể bỏ qua
ĐBP nếu họ vẫn muốn tiếp tục thực hiện chiến dịch Tây Bắc- Thượng Lào.
Tương tự như chính giới Pháp , người VN cũng có thể đặt vấn đề , tại sao ta không tiếp tục thực hiện chiến dịch Tây Bắc -Thượng Lào như chủ trương đã được hoạch định.

Thứ Sáu, 18 tháng 6, 2010

Việt minh suýt thua ở Điện biên phủ, nếu như...

Rất nhiều người cho rằng, do hồi đầu, Tập đoàn cứ điểm Điện biên phủ (TĐCĐ) có ít quân nên Việt minh xài kiểu “đánh nhanh thắng nhanh”, rồi do sau đó, do TĐCĐ tăng quân nên Việt minh bèn chuyển qua kiểu “đánh chắc tiến chắc” (đánh lấn). Tuy nhiên, sự việc không đơn giản như vậy. Để góp phần làm rõ vấn đề này, tôi xin đưa một số liệu sau:

Theo hồ sơ Quân đội Pháp, kế hoạch tác chiến của Tướng Nava cho TĐCĐ như sau (và rất chắc chắn khi tướng Nava khẳng định TĐCĐ chỉ cần một phương án tác chiến - NBS):

"... Trận chiến sẽ tiến triển như sau:
-Giai đoạn 1: địch tập trung binh lực - trong vài tuần.
-Giai đoạn 2: địch tiếp cận và tiếp xúc – từ 6 tới 10 ngày.
-Giai đoạn 3: địch tấn công – trong vài ngày.
-Giai đoạn 4: địch tháo chạy.

Do đó, nhiệm vụ phòng thủ (của TĐCĐ) sẽ là:
-Giai đoạn 1: trì hoãn sự vận động của địch bởi những hoạt động dưới đất và trên không.
-Giai đoạn 2: tiến hành oanh tạc để đánh bật địch khỏi Lai châu.
-Giai đoạn 3: chặn các cuộc tấn công của địch (tại TĐCĐ). Bắt chúng phải trả giá đắt trong những trận đó bằng những trận phản công.
-Giai đoạn 4: khuyếch trương việc địch rút chạy …”

“... Cơ số dự trữ cho TĐCĐ gồm: 9 ngày ăn, 8 ngày xăng-dầu, 6 cơ số đạn cho từng D bộ binh, 6,5 cơ số đạn cho pháo 105, 7 cơ số đạn cho pháo 155, 8 cơ số đạn cho cối 120, 9 cơ số đạn cho tăng M24…”.

Số liệu cho thấy, TĐCĐ sẽ phòng ngự chỉ trong một khoảng thời gian tối đa là 8 ngày. Nói cách khác, theo Nava, địch chỉ có thể dùng cách đánh duy nhất là tấn công vỗ mặt, ồ ạt, mãnh liệt (đánh nhanh thắng nhanh). Do vậy, TĐCĐ đã được xây dựng để chống đỡ và tiêu diệt rất hiệu quả những kẻ tấn công TĐCĐ theo kiểu đánh nhanh thắng nhanh.

(Để chống cuộc tấn công ồ ạt, chỉ riêng về hàng rào của TĐCĐ “… những mạng lưới dây thép gai dày từ 50 tới 70 met vây quanh từng trung tâm đề kháng. Trong các trung tâm này, dây thép gai được vây quanh từng điểm tựa. Các hướng địch có thể thâm nhập đều bổ sung mạng lưới dây thép gai và các bãi mìn thường, mìn đĩa, mìn napan ngầm …”).

Hồi đó, qua trinh sát và dự báo, cả hai bên đều biết tỏng các cuộc di chuyển của nhau (có tài liệu): Khi Pháp biết Việt minh đang đưa một lực lượng rất lớn (lớn hơn dự kiến cũ của Nava) lên Điện biên, thì Pháp đã gấp rút bổ sung quân cho TĐCĐ. Tức không phải do Pháp tăng quân ở TĐCĐ mà Việt minh thay đổi kiểu đánh, mà ngược lại, do Việt minh tăng quân nên Pháp phải tăng quân theo.

Ý kiến của một binh nhì (tôi):
1. Như vậy nếu Việt minh đánh theo lối đánh nhanh thắng nhanh thì chắc chắn sẽ bị “toi”: Tướng mà cứ nhăm nhăm đưa quân vào thế trận do địch dàn dựng, gài bẫy thì, hoặc là tướng ngu dốt, hoặc là tướng đó muốn mượn tay địch diệt quân mình.
2. Các tướng của ta không ngu và không có ý định giết quân mình, vậy thì ai đây?