Thứ Ba, 1 tháng 6, 2010

Đám cưới con gái bạn. (Chuyện các bố)



Thống kê của YouTube cho thấy tại thời điểm này đã có 82 lượt xem cái clip trong bài "Đám cưới con gái bạn" ở dưới. Vậy mà chỉ có độc một còm của TL! Thật nẫu ruột, thôi đành đưa lên đây chút thông tin không chính thức của bàn K3 tại đám cưới vậy. Hay ở chỗ mâm K3 được rôm rả nhờ có 1 anh K2 tham gia. Tui có 6 cái clips kiểu này, xin đưa lên đây 1 cái để góp vui. Đám cưới con rất vui, các bố cũng sướng chả kém.


Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Đám cưới con gái bạn.



AE ta có nhiều hoàn cảnh, tình huống chẳng giống nhau. Cho dù TDHD nhận định " Đại đội mình có khoảng 180 đứa thì có đến 120 số phận na ná nhau" ...Vậy số phận Tiến Nhái có giống với 120 tên kia không? Sống, hoạt động ở Hà Nội trong khi vợ con đóng đô ở SG. Ngày 29/5 là ngày cưới của cô con gái thứ 1 (nói vậy chắc phài có cô thứ 2?). MT bay vô, có phải  lo tổ chức hay không tui không rõ lắm nhưng dự thì chắc chắn phải rùi. Đám bạn bè K3 chỉ biết được qua tin nhắn của TBLL phía Nam " Tran Minh Tien. Moi cac ban Troi khoa 3 den du dam cuoi con gai Tran Phuong Nhung, tai khach san CONTINENTAL SAIGON, 132 - 134 Dong Khoi Q1 tp HCM, vao luc 17h30 ngay thu bay 29 thang 5, 2010, vi o xa nen khong gui thiep cuoi den tan tay, mong cac ban thong cam. Tr M Tien". Có lẽ do tin nhắn không tới được tất cả các bạn SG hoặc bị ngập trong hàng đống tin rác khác nên tuy được tổ chức vào thời điểm thuận tiện ( chiều thứ 7) địa điểm tốt (KS bốn sao tại trung tâm - chỉ hơi khó kiến chỗ gởi xe máy) mà số bạn trỗi K3 đến gom được một bàn. Bù lại, đến dự toàn là những các nhân vật  đình đám - nổi tiếng từ xưa trong làng bồ ta bồ tây mà tới nay vẫn là những anh hào trong các lĩnh vực của mình.
Đám cưới con bạn là dịp gặp nhau vui vẻ , vừa là chúc mừng cho con cháu, vừa là dịp tám với nhau của lũ bạn già lâu ngày mới gặp lại. Tui đưa lên đây những hình ảnh chính thức của tiệc cưới và sự góp mặt của anh em mình để các bạn không đến dự được cùng biết.


Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

Hai Đức Chúa Ông

Truyện ngắn của Trần Chiến
Ông cả Ngộ biết rằng mình phải đến nhà trưởng Thìn hôm nay, ngay sáng nay. Mai kia ra thì cứt trâu đã hoá bùn rồi. Nhưng cái việc phải giáp mặt này nó bắt nhớ quá nhiều điều ông muốn quên. Lâu nay, ông hằng tính nát nước đến sự liên minh này. Hôm qua, thao thức cả đêm, để rồi sáng nay phải châm ấm chè, xem nên nói điều gì, nên bỏ câu gì. Đúng là ông phải chủ động sang bên ấy, vì trưởng Thìn có lý do để hận ông hơn.
Họ Chu, do cả Ngộ đứng đầu, năm mươi năm nay hiềm khích với họ Nguyễn của trưởng Thìn. Thời đế quốc họ Nguyễn phát đùng đùng, thay nhau làm hào lý, việc làng toàn ngồi mâm tiên chỉ. Tráng đinh họ Nguyễn nhiều người được học hành, nói tiếng Tây làu làu, lang bạt sang làm ăn tận Pháp, Mỹ. Trưởng Thìn hồi chín năm làm lý trưởng. Đứng ở cửa đình, lão thẳng tay nện trống thúc sưu, cứ ngũ liên cả buổi như hộ đê, cả làng mặt xanh như đít nhái. Đến khi Thìn cùng trương tuần tay thước vào nhà ai - cố nhiên, kể cả họ Nguyễn – thì nhà ấy tha hồ chắp tay “con cắn rơm cắn cỏ…”. Được cái là lão cũng nương tay, chẳng bắt ai ra giữa đình khảo hèo.
Đến năm năm ba, mọi bề đổi hẳn. Địa phương quân về đánh bốt Vân Ổ, dẹp hết hội tề. Đội bắt rễ ở nhà cố Lương, định tỷ lệ địa chủ trong làng là năm phần trăm, dĩ nhiên họ Nguyễn đa tiên chỉ lĩnh nhiều suất nhất. Con cái đang đi học trường kháng chiến bị đuổi về. Trưởng Thìn phải mặt bôi gio trát trấu, quỳ giữa đình cho bần cố nông kể hết chuyện cho vay đòi trả lãi đến đoạn “con gà nhà tao lạc sang vườn nhà mày không thấy về”.
Lệ là thế. Vít cành tre thì nó quật trả vào mặt. Con trai cố Lương là Chu Văn Ngộ vào thanh niên, nông hội, dần dần tham chính trong làng. Qua mấy lớp học về xâu chuỗi, bắt rễ, qua bình dân học vụ i tờ ít, anh đứng trong đội ngũ, trở thành chủ chốt ở xã. Lại hô hào dân công đắp đê, làm nghĩa vụ lương thực cho nhà nước tích luỹ vốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, nay mai máy cày sẽ chạy trên đồng thẳng cánh cò bay như nông trang bên Liên Xô. Lại kêu gọi thanh niên đi bê đánh Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam. Rồi chống mê tín, bỏ tượng trôi sông Lồ Ồ. Rồi cưa hoành phi câu đối đem về thưng vách chuồng trâu, bụt ngồi trên đình chùa cứ nhấp nhổm như lửa cháy dưới đít. Những ngày hoạt động sôi nổi ấy, thanh niên họ Chu có điều kiện thoát ly, ra công trường xưởng máy làm, hoặc về thủ đô học nên bác sĩ, kỹ sư. Đám con cái họ Nguyễn, ngược lại, nem nép một bề, học hết lớp bảy đừng hòng tính chuyện lên cấp ba. Em ruột trưởng Thìn phải gửi sang huyện bên học, nức tiếng cả tỉnh vì được đi thi toàn quốc. Có giấy ở trung ương tư về cho đi đại học Bách khoa ở Hà Nội, chính quyền xã ỉm đi, mấy tháng sau mới đưa ra thì đã quá kỳ chiêu sinh. Nhưng mà quyết vượt vũ môn, cả họ Nguyễn góp tiền đem cậu ta lên trường tỉnh học lại, thi lại, đón lõng giấy gọi đại học từ trung ương về. Từ đấy, con cái hai họ gặp nhau chan chát ở Hà Nội, cộng tác làm việc với nhau, chẳng biết có nhớ đến hiềm thù nội tộc…
Sang những năm tám mươi, cả Ngộ về hưu, sang làm chủ tịch mặt trận Tổ quốc. Sinh hoạt ở tổ phụ lão với trưởng Thìn, ông giáp mặt hàng ngày, song tuyệt nhiên nhạt nhẽo, giao đãi gọi là. Hai họ bây giờ phương trưởng bằng nhau, cùng có giáo sư, tiến sĩ làm việc ở thủ đô, lũ thanh niên nam nữ ve nhau, lập gia đình tán loạn. Chiến tranh rồi hoà bình. Lại chiến tranh, lại hoà bình, bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi, còn sống mấy nỗi mà làm mặt lành mặt giận mãi. Vẫn biết thế, mà hai lão trưởng tộc không thể đến với nhau.
Cho đến những việc mới đây xẩy ra ở đền Úc Phụ, bà Lành được tụi lãnh đạo nhiệm kỳ mới của xã o bế định làm những việc quá thể đáng, thì hai họ đều không chịu nổi. Mẹ nó chứ, cái con mụ họ Ngô ấy tưởng được ô dù che đỡ thì giẫm đít bụt à? Nhưng mình mình – dù là chủ tịch mặt trận Tổ quốc - đứng ra cản nó thì cũng khó. Phải tìm. Cái khó là chẳng biết trông cậy vào ai ngoài lão đầu họ Nguyễn.
Ấm chè mộc đã nhạt thếch, nắng ngoài ngọn tre dạt vào góc sân, ông cả Ngộ vẫn ngồi im phắc, mặt như táo bón. Anh con trưởng đi thăm đồng về, gặng: “Sao bảo bố sang ông trưởng Thìn cơ mà?”.
- Thế lúc nẫy anh bảo tao sang có việc, lão ấy bảo sao?
- Ông ấy bảo mời ông sang. Thôi, ông sang đi. Việc trọng, các cụ phải ngồi với nhau chứ.
- Lão ấy cũng bảo việc trọng à?
- Không bảo. Nhưng con biết. Việc các cụ quan tâm giống nhau cả.
*

- Chào ông!
Ông cả Ngộ bước vào sân, đủng đỉnh chào, vừa đủ nhỏ để trong nhà nghe tiếng mà không ra chiều vồ vập quá. Ông trưởng Thìn đang xỉa răng chanh chách trên sập cũng chậm rãi bước xuống. “Mời ông vào”, lời nói nghe đủ lịch sự mà cũng rõ là khách khí lắm. Nhưng ông cả Ngộ còn nán lại ngoài sân, ngắm nghía căn nhà. Đây là chỗ nhà ngang trưởng Thìn được giữ lại sau kỳ cải cách, trước kia nó cũng rách rưới lắm, giờ đã thay bằng nhà hai tầng đúc bê tông, chỗ nào chỗ nấy sáng choang. Đặc biệt là quanh giếng chi chít những chậu cảnh, dễ cũng tinh xảo, có giá bằng của nhà ông.
Trưởng Thìn thấy khách còn vơ vẩn ngoài sân thì quay vào, lại xếp bằng trên sập, nhưng cũng quát đứa cháu tắt ngay cái đài đang đít cô đít cậu choang choác. “Lão không ra đón ta ngoài sân. A, lão cũng đánh ấm chén sẵn sàng rồi đấy chứ”, cả Ngộ nghĩ, cứ đủng đỉnh, khủng khỉnh cho đến khi trưởng Thìn lên tiếng “Mời ông vào”.
- Chè ngon đấy, ông nhỉ.
- Thằng em tôi mới đi nghỉ Bắc Thái, gửi về một cân, Tân Cương chính hiệu.
- Thảo nào, cứ mộc thế này uống mới hay.
- Tôi tính rồi, ướp sen ướp nhài chỉ được hương chứ vị thì vứt.
Ấm chè, sang tuần thứ hai, cứu cho đoạn vào chuyện khỏi nhạt nhẽo. Hai lão già chuyển sang mùa màng, năm nay dông bão lắm quá, thuỷ lợi phí ngày một tăng. Rồi cũng hết. Bèn vào việc: “Tôi sang đây định bàn việc đền Úc Phụ. Làng ta có bà Lành định làm thế, ông tính sao?”. Ông Thìn nghiêm ngay sắc mặt, lừ lừ đứng dậy thay ấm chè khác. Rồi đuổi chó xua gà mãi, mới ngồi xuống. “Thì có người đem thả bụt trôi sông trước đây, nay họ mới có cớ làm thế chứ”. Giọng ông buông sõng, ra điều muốn tới đâu thì muốn, đây vô can, không nhúng tay.
Ông cả Ngộ bèn giải thích:
- Hồi ấy, tôi làm chủ tịch xã thật, nhưng đang đi học trên trường đảng tỉnh, không biết việc ấy. Ông Kháng là phó chủ tịch nội chính chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đem Phật bỏ trôi sông Lồ Ồ. Rồi ông ấy bị kỷ luật, sau lại chết tức tưởi chứ còn đâu.
- Bao nhiêu là việc nữa, ông Thìn bùng ra. Tam quan đền làng đẹp nhất miền Bắc tính đem giật đổ, may mới mất con sấu trên cột. Chuông đồng bị dỡ, đem ghè ra bán cân. Ông còn để cho những đứa vo thần báng bổ đem hoành phi câu đối trên đình về thưng chuồng trâu. Thượng điện thì để thuốc sâu, hậu cung tam bảo thành kho chứa phân đạm ráo.
- Đấy là do tồn tại lịch sử, chứ có phải do chính quyền xã chủ trương đâu. - Cả Ngộ đã nóng mặt lắm, nhưng kinh nghiệm công tác bao nhiêu năm bảo ông phải dằn lại.
- Lại còn lấy đá trên gò đem trải đường, xe kìn kìn đi lại mấy tháng, vơi cả núi Đụn. Chả, dân không kêu thì bây giờ tan cả đình chùa, lấy đâu chỗ thờ cúng nữa. Suýt nữa thì mất cả giếng Tiên, dấu chân ngựa trời. Ông không nhớ hồi bé chăn trâu, thằng trẻ con nào đã uống nước giếng Tiên mãi, hở?
- Ông biết một mà không biết mười - Cả Ngộ sẵng giọng -. Nói cho ông biết, ngày kháng chiến, hội tề các ông ngồi đánh chén trong đình, tôi là du kích nấp trên cửa võng. Định thả lựư đạn xuống nhưng tiếc cái đền quá. Những tảng đá xanh chân cột trạm đài sen, rồi hương án, cỗ kiệu, điện thờ, cả nước chẳng nơi nào có vật đẹp hơn thế. Nên lại thôi. Tôi chỉ vê hòn cứt dơi thả vào bát canh lòng gà bí xanh ở mâm ông thôi. Ông ác lắm, làm lý trưởng gây bao nhiêu tội, chết là đáng. Nhưng tôi tha ông vì cái đền làng ta.
Trưởng Thìn mặt xám lại, nhìn trừng trừng vào cả Ngộ, rồi lại giãn ra, bần thần: “Ờ ờ, tôi ngỡ con dơi ỉa vào bát canh thật”. Rồi lại cất giọng lạnh tanh:
- Ông cũng ác như con rắn độc. Sao ông quy họ Nguyễn nhiều địa chủ thế? Sao ông giữ giấy gọi đại học của thằng Trực nhà tôi? Cả xã này có ai nhiều liệt sĩ chống Mỹ như họ tôi không, mà hôm họp trong diện ấy các ông làm khó dễ? Động cái dân công động cái đắp đê, là thế nào?
- À, thế thì để tôi cắt nghĩa. Đội cải cách quy định xã ta bẩy phần trăm địa chủ, tôi xin mãi mới xuống được năm phần trăm. Họ ông nhiều lý dịch lắm ruộng, quy thế là đúng, ai cãi được. Nhưng tôi thấy ông nắm quyền hương xã, làm gì là bị Tây thúc, đối xử với bà con không đến nỗi nào, nên còn nương nhẹ đấy. Còn việc giấy gọi đại học là lý do khác, do chủ trương không cho con em địa chủ lọt vào hàng ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa nên phải giam lại.
“Kể ra, cái việc họ ông trong diện liệt sĩ bị ngăn cản thì tôi làm sai thật. Việc ấy tại tôi”.
Ông Ngộ chùng giọng xuống, rồi điềm nhiên đứng dậy. “Tôi sang bàn việc bà Lành định thay tượng Đức Chúa Ông ngoài đền. Nhưng thấy khó nói chuyện quá. Chào ông, tôi về”.
Ông Thìn ngồi bó gối ôm điếu cày, mặt còn đỏ gay, không đứng dậy tiễn. “Không dám, chào ông”, giọng còn đầy thù hận. Hai ông trưởng chia tay như thể sắp về huy động trai tráng trong họ đến phá nhà thờ Tổ của nhau không bằng.
Ngang qua gốc sy giếng làng cũ, cả Ngộ gặp thằng cháu làm thư ký uỷ ban, nó báo: “Chủ tịch bảo nay mai thay tượng ông ạ”. Ông sẵng giọng: “Mày sang mà bảo cái lão trưởng Thìn, tao không biết!”.

*

Thế mà quá Ngọ sang Mùi được tẹo, cả Ngộ thấy trưởng Thìn sang nhà mình. Đi như xộc vào, chẳng để ý đến bộ điệu khủng khỉnh của chủ nhân, “Này ông, rằm tháng sáu họ định thay tượng Đức Chúa Ông thật đấy”, ông ta nói luôn.
- À, thế ra ông cũng muốn bàn chuyện ấy với tôi kia đấy.
Cả Ngộ làm cao. Trưởng Thìn đấu dịu ngay. “Tình hình khẩn trương lắm rồi. Tôi với ông không ngồi với nhau là có tội đấy”.
“Thế này ông ạ…”, giọng trưởng Thìn ôn hoà, những lời chắc đã được ngẫm rất kỹ. “Tôi với ông, họ tôi với họ ông đều có chỗ không phải với nhau. Thời thế nó bắt thế, cờ đến tay ai phải phất. Nhưng bây giờ có kẻ định phạm vào cái chỗ linh thiêng nhất của làng. Báng bổ quá lắm. Trong xã chỉ có họ Chu với họ Nguyễn là đương đầu nổi với chúng. Tách nhau ra là chết. Không phải chỉ có đợt thay tượng này, mà được đà, bọn quan lại cường hào mới sẽ được thể đè ta nhiều chuyện khác. Ai chứ ông với tôi đều đã làm lý dịch, còn lạ gì…”
“Còn lạ gì… Hừ, sao lại so thời lão làm lý trưởng với thời Việt Nam dân chủ cộng hoà, ta làm chủ tịch xã”, cả Ngộ mỉa mai nghĩ. Nhưng ông cũng phải công nhận rằng truởng Thìn nghĩ phải trong tình thế này. Làng Vân Ổ còn dăm bảy họ khác, nhưng rặt lũ tép riu. Xưa nay quyền bính những chỉ nằm trong tay hai họ Chu và Nguyễn. Ngày bé, thằng Ngộ con mõ Lương và thằng Thìn con chánh Xuân cũng hay tha thủi bên gò Úc Phụ chơi, đứa chăn trâu, đứa đánh khăng. Đền có nhiều bàn thờ, ở giữa là Đức Huyền Thiên Trấn Vũ có công giúp Thục An Dương Vương trừ lợn lang gà trắng xây nên thành Ốc. Hai bên là những thổ địa, Mẫu Thượng Ngàn, ông Khổng Tử, bà Thị Kính. Ngộ và Thìn ban thờ Đức Chúa Ông cai quản mười tám vị sơn thần trông nom dương gian. Khoái, vì cụ từ hay gọi vào cho phẩm oản, nải chuối, quả na tạ từ ban, cũng vì tượng Đức Chúa Ông thật đẹp, ngắm mãi không chán. Ngài mặc phẩm phục màu nâu đỏ, cầm thanh đao nhỏ, một chân dận hia, chân kia để trần, trông mộc mạc mà lại thoát tục. Đặc biệt là đôi mắt nghiêm nghị, lúc hiền từ, nhìn kỹ lại rất dữ. Các cụ trong làng bảo người thợ nào tô đôi mắt ấy là chín chắn lắm.
Đền Úc Phụ, Ngộ có một trận để đời không thể quên được. Ngày mười lăm tuổi, chơi trốn tìm, chả biết kiêng cữ gì cả, cậu cùng cái Na rúc vào vòm cuốn tò vò dưới ban thờ Đức Chúa Ông. Chỗ ấy chật lắm, phải ép sát vào nhau mới khỏi lộ. Trong cõi ẩm mốc, nhớp nháp, mùi bồ kết, mùi mồ hôi từ cô bé đánh thức trong Ngộ một cái gì cậu chả bao giờ biết đến. Cậu mân mê mái tóc Na, úp mặt vào ngửi hít. Bỗng cô bé cầm tay Ngộ úp lên ngực mình, chỗ nhu nhú. Lâu lâu, Na đẩy tay Ngộ ra, bảo “Tay đằng ấy người lớn rồi nhưng mắt đằng ấy còn trẻ con lắm”.
Rồi Na lớn lên, lấy chồng, Ngộ thấy như mình mất cái gì. Mãi sau này, đận cháu chắt rồi, mỗi lần đến trước Đức Chúa Ông, cả Ngộ thấy thực khó ngăn mình khỏi chui vào cái lỗ tò vò ẩm mốc dưới ban thờ. Đít Ngài, đối với ông, mãi mãi là nơi bí ẩn, vừa thiêng vừa tục nhất đời.
Vào những ngày hai họ Chu, Nguyễn tranh nhau trị vì hương xã và thẳng tay trị nhau, cô bé Lành của họ Ngô lớn lên, theo ông chú ra Hà Nội làm ăn. Cô buôn hàng sắt, vốn lớn lắm, phát đạt ầm ầm, thỉnh thoảng thấy về làng đầu u xi răng trắng, kể chuyện đi bơi, giao du với người này người nọ. Cô có ba đời chồng và một đống con, khi lên bà thì đốc chứng đồng bóng, đền phủ nào cũng đi, càng xa xôi sức càng khỏe. Bạn bè cô ở hội Chân Tâm tín ngưỡng, cũng cùng hội buôn, tháng nào cũng hành hương cúng lễ, chẳng ngày sóc vọng nào không đèn nhang; chừng như các bà buôn đều cúng lễ khoẻ, Tiên Phật độ trì họ chẳng ít.
Khi cả Ngộ còn đương chức chủ tịch, bà Lành đánh xe về, bàn: “Làng ta là đất văn vật, đền Úc Phụ xưa có tiếng là thiêng, đề nghị uỷ ban, mặt trận tổ quốc cho lập hồ sơ để xin bằng công nhận di tích lịch sử của bộ Văn hoá, tốn kém đâu tôi xin cung tiến”. Lời nói phải quá, uỷ ban bèn cử cụ thống Đào nhiều chữ nhất làng đi lục lại những văn tự, gia phả, viết lại sự tích đền. Lại lôi tấm bia đá kê dưới ao làm chỗ rửa chân lên dựng lại nhà bia ở chỗ cũ. Những tam bảo, quán Tiên, đều Mẫu, bao nhiêu bộ hoảnh phi câu đối, cái bị Tây đốt, cái tự phá hồi tiêu thổ kháng chiến, cái bị mai một hồi báng thần bổ thánh dần dần được khôi phục lại, mới đầu còn dấm dúi sau ra công khai. Đền Úc Phụ được công nhận di tích lịch sử văn hoá, đón bằng của trên rầm rộ, thu hút thập phương đến ùn ùn.
Rồi bà Lành về hẳn làng, ủng hộ nhà trẻ dăm chục bộ quần áo mới cho đàn cháu và các cô, xây gian phụ sản ở trạm xá, có cả dụng cụ y tế. Chính điện đền Úc Phụ sáng choang khi bà cho bóc lớp gạch, tương truyền có từ đời Trần, thay bằng cả nghìn viên gạch hoa Đà Nẵng. Nước trên đền thiếu lắm, phải xuống tận giếng đất khiêng, bà cho xây đôi bể chứa cả nghìn gánh nước mưa, tha hồ việc làng, cúng lễ. Lại trình bày với uỷ ban xã và các cụ (bấy giờ ông Ngộ đã sang làm mặt trận tổ quốc): “Tôi nay đã già, hồi tâm làm việc thiện, xin các cụ các bác cho về ở đền hàng ngày bao sái đèn hương. Cũng như nhời Tiên Phật dạy, kẻ có căn đi đâu về đâu rồi cũng phải về núp dưới bóng đền bóng chùa thôi mà”.
Vẫn là lời nói quá phải, chẳng đụng đến quyền lợi của ai, nên chẳng bị chối từ. Huống hồ bà Lành ăn chay tuần ba ngày, và lôi về đền bao nhiêu bạn buôn, công đức nặng tay lắm.
Đền Úc Phụ mở hội lại, ba năm nay mời liền liền đội nữ quan ở Hà Nội về làm lễ. Thập phương kéo đến cả vạn người xem rước vua Thục giả, thần Rùa Vàng giả kín cả cánh đồng, riêng tiền giữ xe đem về cho xã vài chục triệu. Công đức thì vô kể, sẻ lại cho ban di tích xong, xã thu cũng gấp vài lần thuế công thương của mấy chục công ty tư nhân. Rồi mượn người hay chữ soạn tờ gấp in sự tích ngôi đền bán cả vạn tờ. Hàng quán rạp riệc dựng lên bán bánh dày, trứng luộc cùng khánh, xuyến, xà tích, bao người được nhờ trong mấy ngày lễ. Úc Phụ khuyếch trương được thanh thế, hội đền nức tiếng một vùng khiến quan viên các làng lân cận sốt tiết, cũng chạy đi lập hồ sơ xin bằng công nhận di tích cho mấy cái miếu bé con con của họ. Bỗng chốc thu bộn tiền thật đàng hoàng, hình như chẳng có gì dễ bằng tổ chức lễ hội thật to, dân tình nơi nơi đến mở hầu bao ra chóng vánh quá.
Có dịp ông Hoạt già, trưởng ban quản lý di tích, trẩm đi đâu mất chục triệu tiền công đức, xã bèn củng cố lại, đưa bà Lành lên phó ban, tất nhiên trưởng phải là chủ tịch mặt trận tổ quốc. Tiếng là đầu đàn, nhưng nhiều việc cả Ngộ thấy mình chân chất quá, cứ phải hỏi ý kiến bà Lành quảng giao, bạt thiệp. Dần dà bà ta tự động quán xuyến, chỉ hỏi ý kiến các cụ gọi là. Phương chi, cậu Đoàn đương kim chủ tịch xã là người họ Ngô, gọi bà Lành là cô, luôn luôn quyết đoán việc đền theo ý bà. Cũng ấm ách! Chẳng hạn như khi bà tự thuê người biết tiếng Tây viết lên hòm công đức mấy chữ Contribution nghĩa là “Đóng góp” gì đó, các cụ kêu, bà bảo để thế thì tây đầm đến đền ta phải tòi tiền ra. Chẳng thuận lắm, nhưng cho là việc nhỏ, các cụ cho qua không bàn lại. Vả lại, Chu với Nguyễn hai họ lớn nhất có bao giờ bằng mặt với nhau đâu mà ỷ dốc phản đối.
Nhưng đến cái sự thay tượng thì thật quá thể. Cách đây nửa tháng bà Lành đề nghị họp ban di tích, có chủ tịch xã dự. “Là tôi muốn xin ý kiến các cụ”, bà trình bày. “Mấy năm nay, đền làng được sang sửa nhiều, như may lại xiêm áo cho Tam Toà Thánh Mẫu, tô tượng, viết lại các bức hoành. Chỉ còn tượng Đức Chúa Ông trên ban bên phải đã cũ quá rồi. Phẩm phục màu nâu, trông Ngài tối xì xì, sứt miếng ngay cổ. Tôi bàn là ta nên thay tượng mới đẹp đẽ hơn. Thế ạ…”
Các cụ ớ người ra. Quá bất ngờ. Ai mà có thể ngờ được. Cả Ngộ phản ứng đầu tiên: “Thay thế nào được! Ngài đã có bao nhiêu năm rồi, linh thiêng là ở bản thân bây giờ chứ”.
- Thì ta hô thần nhập tượng. Đức Ngài lại dời sang “nhà” mới ngay. – bà Lành điềm nhiên.
- Thế tượng cũ bà định bỏ đi đâu? - Trưởng Thìn nóng nảy lên tiếng.
- Dạ, tôi hỏi thầy đã kỹ. Để Ngài nghỉ dưới giếng mắt rồng, vẫn có linh khí ngàn xưa tụ lại, mà còn mát nữa.
Giọng trả lời vẫn ngọt ngào, tự tin lắm. Nhưng các cụ đâu có chịu, rằng chưa ai làm thế bao giờ, đẻ chuyện gây tốn kém, rằng… Bà Lành không đáp lời. Thì ông chủ tịch xã lên tiếng, không phải phân trần nữa mà là quyết định:
- Thưa các cụ, đảng uỷ, hội đồng và uỷ ban nhân dân chúng tôi đã họp bàn xong. Ngày rằm tháng sáu này sẽ rước Đức Chúa Ông mới và thay bức hiện nay. Việc này hoàn toàn do bà Lành cung tiến, không ai phải bỏ tiền ra cả. Đây, các cụ xem quyết định của uỷ ban. Đã có hiệu lực rồi.
Cả Ngộ ớ ra. Chức trưởng ban di tích của ông té ra chẳng là cái đinh mục với bà phó. Đêm ấy ông càng phải tủi phận, nhận ra thời binh quyền của họ Chu đã qua.

*

Trước rằm tháng sáu, ông cả Ngộ triệu tập hội nghị bất thường các đảng viên họ Chu. Tiếng cả thế, nhưng cánh họ Chu trong xã chỉ còn giữ những chức èng èng như thu tín dụng, khuyến nông, thuỷ lợi, còn bao nhiêu vai vế quan trọng khác họ Ngô đã chia nhau cả rồi, sớt lại gọi là cho các họ khác. Bởi vậy, hội nghị mở rộng ra cả các bô lão trong họ.
Mở đầu, cả Ngộ mời mọi người uống chè Thái của trưởng họ Nguyễn biếu. “Hai họ phải kết hoà hiếu để chống lại đứa quỷ trá cậy của”. Rồi ông nói cụ thể hơn chuyện Đức Chúa Ông, bà Lành được uỷ ban xã ủng hộ. Mọi người đều nhất trí thế là giẫm đít bụt, làm hỏng những truyền thống đã có tự nghìn năm.
Bên họ Nguyễn, trưởng Thìn cũng quán triệt cho mọi người nguy cơ mất hết cổ vật của tổ tiên và cũng đạt được nhất trí cao. Hai họ Chu, Nguyễn thảo một giác thư lên văn hoá huyện văn hoá tỉnh, cậy người thân quen quà cáp để chuyện gở đừng xảy ra. Nhưng có vẻ như đã quá muộn. Hai họ lại định rằng đến ngày ấy nhất định phải tụ họp lên đền tranh đấu, kẻo rồi ảnh hưởng đến cả long mạch. Táo gan thật. Dám làm chuyện tày trời.
Rằm tháng sáu nhằm đúng chủ nhật. Từ sáng sớm, ban di tích đã đủ đầy trên sân đền, cả thảy sáu cụ, trừ bà Lành đi thỉnh tượng bên Hà Bắc. Ngoài ra còn có các bô lão trong xã, nhất nhất đều muốn giữ lại Đức Chúa Ông đương vị. Đám thanh niên đến cũng nhiều, phần vì hiếu sự, nhưng hai ông trưởng họ điểm mặt thấy yên lòng, khối đứa họ Nguyễn họ Chu.
Hút thuốc lào vặt, uống rượu vã mãi, rồi ô tô chở tượng mới cũng về đến nơi. Có mươi bà buôn ở Hà Nội hay đóng nữ quan trong các đám rước. Đồ nghề trên xe khuân xuống mãi mới hết. Bà Lành dõng dạc chỉ huy mấy thanh niên khiêng Ngài lên nhà tiền tế. Bên này, cả Ngộ và trưởng Thìn trố mắt nhìn, chỉ thấy lụa điều phủ kín, có vẻ to hơn Đức Chúa trong kia. Không hiểu bên trong thế nào.
Trước sự chứng kiến của Ngô chủ tịch xã, hai bên chủ khách chào hỏi nhau trịnh trọng, lịch sự, nhưng bên trong như bài binh bố trận thế nào. Ông cả Ngộ thay mặt ban di tích và các cụ trong làng cảm ơn các bà bên Hà Nội đã không quản xa xôi mà lui tới ngôi đền nhỏ bé của chúng tôi. Bà hội trưởng Chân Tâm tín ngưỡng đáp rằng đây là chốn thần tiên, đến được là có cơ duyên lắm, xin phép các cụ vào thắp hương. Tuần trầu nước đã qua. Kính thưa, cảm tạ mãi, bà hội trưởng có lời:
- Chúng tôi ăn chay nằm mộng, chọn ngày lành tháng tốt, hôm nay rằm tháng sáu dọn mình sạch sẽ sang đây. Trên có uỷ ban, dưới là các cụ ở ban di tích, xin cung tiến quý đền một đôi lọng, mười mâm nhôm to, một trống đại, hai đỉnh đồng cùng bộ bát bửu.
“À vâng!”. Món cung tiến quá to khiến cả Ngộ ngỡ ngàng, chỉ đáp lại được vậy.
“Hội Chân Tâm tín ngưỡng xin biếu uỷ ban xã Vân Ổ mười triệu đồng tiền mặt, vì đã góp phần ủng hộ phong trào uống nước nhớ nguồn, quay về với tổ tiên”.
Cả Ngộ và trưởng Thìn nhìn chủ tịch Ngô Tiến Đoàn tiến lên nhận tiền, cảm ơn, đưa mắt cho nhau. Ra họ gớm thật, cho cái thằng tham này há miệng mắc quai cái đã. Để rồi xem.
“Bà Ngô Thị Lành có hỏi ý kiến chúng tôi về pho tượng Đức Chúa Ông hiện nay, đã cũ rồi và không được oai phong mấy. Nếu thay Ngài bằng một tượng mới to đẹp hơn thì thu hút được thập phương đến nhiều hơn, thanh thế đền Úc Phụ càng lớn. Chị em chúng tôi nghĩ thế cũng phải, vậy xin ý kiến quý uỷ ban và các cụ”.
- Việc này chúng tôi đã bàn và đồng ý rồi, Ngô chủ tịch xã lên tiếng. Tượng cũ cổ lắm, không còn thích hợp với thời đại mới nữa. Phải mở cửa ra mới được. Dân tình thập phương đều chỉ thích đến chỗ đền đài nguy nga, đồ thờ lộng lẫy. Ý định của các bác ở hội đây và bà Lành rất hợp với sở nguyện chính quyền và dân xã. Chúng tôi xin chấp nhận và cảm ơn tấm lòng vàng này.
Ông cả Ngộ há hốc mồm, uất quá không nói được. Đến khi ra lời thì chả thành bài bản gì. “Việc này chưa từng có bao giờ. Từ thuở còn chăn trâu, chúng tôi đã quen thân với Ngài, thọ lộc của Ngài, khi nải chuối khi phẩm oản. Bây giờ thay tượng là dứt khoát không thể được.
- Thì có phải đem Ngài trôi sông báng bổ như năm xưa cụ làm chủ tịch xã đâu. – Bà Lành nói kháy – Chúng tôi chỉ định đưa Ngài xuống giếng Mắt rồng cho mát mẻ thôi mà. Việc hô thần nhập tượng mới đã có chuẩn bị, khấn đúng bài các cụ tổ ta dùng khi xưa. Có gì đâu mà bác cả Ngộ gây khó khăn làm vậy.
- Không được. Dứt khoát là Đức Chúa Ông y như bây giờ. Bà đừng có mà cậy của đòi thay đổi tất cả. Bà quen đi xa về gần mấy chục năm nay rồi, có biết tình cảm làng quê với Đức Chúa Ông, với ngôi đền này như thế nào đâu.
- Bác cả Ngộ không được nóng nảy thế, giọng Ngô chủ tịch xã chắc nịch. Bà Lành đây có chân tâm mới cung tiến như vậy. Hơn nữa đền chùa cải tiến, đổi mới, thiên hạ đổ đến nhiều thì mới có tiền công đức mà thay đổi bộ mặt làng xã. Hay là ông muốn chúng ta cứ nghèo hèn quê kệch mãi, hả?
- Anh thì chỉ biết có tiền! – Ông cả Ngộ đốp trả - Thằng Phương con nhà Tròn trốn đi di tản năm xưa, các anh lên án bao nhiêu. Mà năm ngoái nó ở Mỹ về, mới thăm hỏi một tẹo đã tôn thành Việt kiều yêu nước. Đừng có lộng giả thành chân, giẫm đít bụt.
- A, này… - Chủ tịch xã lắp bắp – Ông đừng hỗn với chính quyền. Tháng chín tới hết nhiệm kỳ, đảng uỷ bầu lại sẽ cách ông khỏi chức chủ tịch mặt trận tổ quốc. Rồi cũng tong khỏi chân trưởng ban di tích, cho mà biết.
- Tôi còn ngồi đây thì đừng hòng bê Đức Chúa Ông vứt xuống giếng!
Cả Ngộ đỏ mặt tía tai, chân giẫm bành bạch. Ông đứng ngó quanh tức tối. Quái, lão trưởng Thìn bàn bạc quyết tâm làm vậy, mà bây giờ đ. thấy hé răng. Thì ông đương đầu cũng chẳng sao. Được cái bên kia, con mẹ Lành và các bà Chân Tâm tín ngưỡng cũng im phắc.
Đang căng thẳng, thốt nhiên một ông lão từ nhà thờ chạy ra. “Các ông các bà xem kìa, tượng Đức Chúa Ông trên ban mồ hôi cứ rịn ra”.
Ai nấy sợ cứng người lại, kể cả bà Lành. Chỉ riêng chủ tịch xã điềm nhiên: “Ngài mừng đấy, vì sắp được xuống Mắt rồng tắm mát". Đoạn quay lại bảo đám trai tráng: “Các cậu còn đợi gì nữa, vào thắp hương xin phép, rồi hạ Ngài xuống đi”.
Chẳng ai bảo sao. Ông cả Ngộ đần người ra, bất lực nhìn đám trai họ Ngô rục rịch chuẩn bị đòn khiêng. Thì trưởng Thìn lên tiếng, giọng điềm đạm và sang sảng, hệt ngày còn là lý dịch:
- Không hạ xuống được đâu. Làm thế vừa trái đạo trời, vừa sai phép nước. Thứ nhất, tượng Đức Chúa Ông có tự bao giờ không biết, chỉ thấy khi lớn lên đã có Ngài rồi. Ngài tuy nâu sồng mộc mạc thật nhưng lại hun đúc khí thiêng bao đời. Thứ nhì, khi xin bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá, trên đã kiểm kê bao nhiêu tượng, bao nhiêu hoành phi câu đối, đến từng bức cửa võng chạm con gì bông hoa gì cũng vào sổ cả rồi. Nay hạ Ngài xuống bỏ ra ao Mắt rồng, liệu có phải xâm phạm di tích lịch sử không? Các ông uỷ ban có chịu trách nhiệm được không?
Chủ tịch xã không dám hé môi. Lý sự của lão già làm quan một thời cứng cáp quá.
- Cổ vật mới là của quý! - Giọng trưởng Thìn lại càng sang hơn - Lọng vàng bát bửu mâm nhôm trống đại các bà cung tiến chúng tôi xin nhận và cảm tạ hết lòng. Nhưng đó là đồ mới, có tiền là mua được. Chứ như đây, bạc tỷ có làm được vầng đá mọc dưới đít tượng Đức Quán Thánh không, mỗi năm lại nhô lên mấy phân đấy. Ông chủ tịch nói không phải. Thập phương đến đây vì các pho chư Tiên chư Phật đã có từ lâu đời, đâu phải vì mấy bức hoành mới tô vàng choé. Tôi nói lại chuyện cũ, bà Lành cho bật những viên gạch trạm rồng có từ đời Trần ở trong điện để lát đá hoa vào cho sáng choang lên, cũng là dốt nát rồi – Ông đột ngột hỏi – Bà đặt làm tượng Đức Chúa Ông mới này hết bao nhiêu tiền?
- Da, mất hai mươi hai triệu, bà Lành lí nhí đáp.
- Thôi, thế này, tôi đề nghị… Bà Lành là người có tâm đức, tuy hơi hợm của một tỵ. Tượng đã thỉnh về đây, thì đưa cả lên ban, ta thờ cả hai Đức Chúa Ông một lúc. Ý kiến chúng tôi là vậy. Dứt khoát không bỏ Ngài xuống ao Mắt rồng được.
Trưởng Thìn đứng dậy, quay hẳn sang các bà Chân Tâm tín ngưỡng: “Nếu các bà không đồng ý thì mang cả bát bửu lọng vàng cùng các thứ đem đi đâu cho thì đi”.
*
Tượng Đức Chúa Ông trên ban được kê dịch sang trái, lấy chỗ cho Đức Chúa Ông mới. Thoạt nhìn đã thấy khác nhau lắm. Bên này thì nâu đỏ mộc mạc, một chân để trần, đôi mắt vừa dữ lại vừa hiền. Pho bên kia bằng gỗ mít tô đỏ rực, hai chân đều dận hia, đôi mắt xếch ngược, lông mày dựng đứng như tranh trong sách Tầu. Rồi ngai, ngù, rồi mũ cánh chuồn vàng choé. Vì đôi con ngươi là hai hòn bi bằng thuỷ tinh nên lúc nào trông Ngài cũng như lúc nào, vô hồn và ít sinh khí hơn Ông cũ. Nhưng Đức Chúa Ông mới ngồi trên ngai vàng, tầm vóc cao hơn, nên khi đặt lại tượng, các cụ trong làng nhất quyết đôn thêm cái bục dưới đít Đức Chúa Ông cũ. Phải cho bằng nhau, phải thế. Không thì lại nhất bên trọng nhất bên khinh.
Đêm đến, ông cả Ngộ ngồi xếp bằng dưới chân tượng cũ. Cái bát hương chỉ cắm một nén nhang đỏ đọc như mắt người. Lòng ông mang mang hỗn độn. Lạy chư Phật chư Tiên, bây giờ có hai Đức Chúa Ông thì ai cai quản mười tám vị sơn thần coi sóc dương gian? Cái lão trưởng Thìn lý sự ghê thật, không bên nào đồng ý nhưng bên nào cũng phải theo. Bây giờ họ ông phải đoàn kết với họ Nguyễn thôi. Hai họ mà mạnh thì làng mới mạnh, không để lũ quỷ trá hợm của làm càn mãi. Dầu thế nào các ông phải giấy rách giữ lấy lề, khôi phục lề thói làng xã, truyền thống dân tộc cho bọn trẻ còn có cái để quay về với Tổ Tiên chứ.
“Lạy Đức Chúa Ông, Ngài ở với chúng con”
Bên phải ông Ngộ, bà Lành ngồi trước Đức Chúa Ông của bà, bát hương còn mới tinh ngùn ngụt như đám cháy. Bà đang nghĩ gì? Bà ấy còn định làm gì với ngôi đền của chúng ta nữa đây?
T.C

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

HỒI ẤY

Đầu năm 1969 khóa 3 NVT đã trở thành khóa 3 của Trường ĐHKTQS với phiên hiệu mới là Đại đội 135 và đóng quân tại Thậm Thình-Vĩnh Phúc. Đó là thời kỳ toàn khóa đang ôn thi tập trung để chuẩn bị vào năm thứ nhất. Giữa đêm ngày 3/9 có lệnh báo động và được thông báo tin A1 (mật danh của Bác qua điện báo) bệnh nặng, đêm đó qua đi trong linh cảm chẳng lành. Ngày hôm sau là tin đến, tất cả rơi vào hụt hẫng..., rồi thì lúc tập trung thành đám đông, khi tụ lại thành nhóm nhỏ...Rạng sáng ngày hôm sau nữa, toàn khóa còn khoảng 70% quân số, lại một ngày nặng nề trôi qua. Rồi rạng sáng của ngày kế tiếp, toàn khóa còn khoảng 30% quân số...Ngày tiếp theo, số còn lại nhận được lệnh "cho về nghỉ phép tới ngày N có mặt tại đơn vị".
Thế là từ trước ngày 9/9, toàn khóa đã có mặt tại Hà Nội để viếng Bác và tham dự Lễ truy điệu tại Quảng trường Ba Đình.
Ngày N, toàn khóa có mặt tại đơn vị không thiếu một người. Hôm sau, tất cả số quân "đã về Hà Nội khi chưa được phép" đều tự viết đơn xin nhận kỷ luật của nhà trường...
Rồi cũng qua một kỳ thi vào đại học trong năm ấy, toàn khóa không còn là một đại đội 135 nữa mà tách ra theo các ngành chuyên môn như cơ điện, xây dựng, điện tử...
Một năm sau, vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác (19,5/1970), tôi có làm một bài thơ "Bác về" và xin chép lại :

"Tám mươi tuổi vẫn còn xuân",
Bác cười, Bác nói với nhân dân mình.
Trời cao lồng lộng bóng hình
Bạc phơ mái tóc nghĩa tình, Bác ơi!
Vạn bồn mây đã ngừng trôi
Kết Bông Sen giữa đất trời quê hương
Bác về, với vạn tình thương.


XN.K3

120 Năm Ngày sinh Bác Hồ



Hồ Chí Minh
Nhật ký trong tù

折字

Chơi chữ


囚人出去或為國
患過頭時始見忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;

Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.


Người thoát khỏi tù ra dựng nước,


Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!
Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù () bỏ chữ nhân (), cho chữ hoặc () vào, thành chữ quốc (). Chữ hoạn () bớt phần trên đi thành chữ trung (). Thêm bộ nhân () đứng vào chữ ưu () trong “ưu sầu” thành chữ ưu () trong “ưu điểm”. Chữ lung () bỏ bộ trúc đầu () thành chữ long ().
Nguồn : Thái Nhi

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

Báo cáo thi đua của một dũng sỹ



Đây là câu chuyện của ĐĐ Bình K3, "Bí thơ chi bộ" chúng tôi. Câu chuyện với giọng văn chiến sỹ khi báo cáo thành tích chiến đấu này là để phản hồi một số còm men ở bài Gặp nhau mừng chiến thắng của một số bạn không phải k3. Chuyện đi bộ đội của ĐĐ bình đã được kể ở đây.

Tôi Đoàn Đức Bình sinh 12/02/1949, lên Trường Trỗi tháng 03/1965 cũng vinh dự được là học sinh Trỗi.
Tháng 01/1966 nhập ngũ,đi B 11/1966. Đến chiến trường Tây Nguyên (Gia Lai) 04/1967.Tháng 05/1967 tôi đánh trận đầu tiên vào đồn Lệ Trí (Gia Lai),11/1967 đánh giao thông đường 19 cách thị xã GiaLai 14 km về phía đông,giữa cầu AJun và cầu Xàguồng. Tôi là tổ chặn đầu,dùng 'bộc phá gánh' lao ra chặn chiếc xe GMC đầu tiên của đoàn xe quân Mỹ hơn 100 chiếc.Trong trận này chúng tôi cùng E95 tiêu diệt gọn 100 chiếc xe vận chuyển xăng dầu và phượng tiện chiến tranh của Mỹ tiếp viện lên PLâycu. Đánh trận này tôi đã được bằng 'Dũng sỹ diệt cơ giới' đầu tiên. Xuân Mậu Thân 68 đơn vị tôi-X18,Tỉnh đội GiaLai, được giao nhiệm vụ đánh chặn quân tiếp viện từ An Khê lên Plâycu, giữa cầu Hàra và AJun,phía tây đèo Măng Jang do C trưởng Đậu Quang Sự chỉ huy.Sau 5 ngày chiến đấu chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ chặn quân tiếp viện.Trận này tôi và đ/c Nguyễn Viết Bối tiếp tục bám đường độc lập đánh lẻ từ tháng 02/68 tới 06/68. Kết thúc đợt, tôi được tặng thêm 03 bằng 'Dũng sỹ diệt xe cơ giới'. Từ tháng 07/68 đến ngày 03/08/68 tôi được chi bộ gọi từ phía trước về hậu cứ để kết nạp Đảng. Từ tháng 09/68 tôi cùng đ/c Bối được giao nhiệm vụ đánh tiêu hao sinh lực địch (tiêu diệt xe tăng bảo vệ cầu Hàra,AJun và XàGuồng),trong đợt này tôi dùng B40,B41 diệt 02 xe tăng M18 của địch và được tăng tiếp 02 bằng 'Dũng sỹ diệt xe cơ giới'. Năm 1969,tôi cùng B2 do B trưởng Trần Trọng Toán chỉ huy phối hơp với C1,E95 tiếp tục đánh quân Mỹ chi viện từ An khê lên Plâycu tiêu diệt 20 xe cơ giới của địch.Trận này tôi được tặng thêm 02 bằng 'Dũng sỹ diệt xe cơ giới'. Tháng 09/69 tôi trở về hậu cứ, trên đường về tôi gặp chiến sỹ của ta ai cũng đeo băng tang,tôi hỏi 'ai chết mà chúng mày đeo tang nhiều thế?', họ quát lại 'mày không biết gì à? Bác Hồ Mất rồi!', tự nhiên tôi sụp xuống và òa lên khóc. Sau đó tôi tiếp tục chiến đấu và được thêm 01 bằng 'Dũng sỹ diệt xe cơ giới' nữa.
Tháng 11/1969,tôi được lên đường ra Bắc học.Lúc này tôi mới biết tôi được tặng thưởng 02 Huân chương 'Chiến công Giải phóng' hạng 3.
Bằng dũng sỹ và huân chương,1980 Cục Chính sách TCTC mới giao lại cho tôi.
Dũng sỹ và huân chương, bản thân tôi đã quên lâu rồi, nhưng do 35 năm ngày GPMN, AMK3 nói lại chuyện tôi có 8 bằng dũng sỹ, nên tôi mới nêu lên để các bạn thông cảm với tôi. Tôi nghĩ còn nhiều người chiến đấu kiên cường, lập nhiều chiến công hiển hách đã không còn sống tới ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, mà nào họ có đếm xem mình có bao nhiêu huân chương hay bằng dũng sỹ đâu?
Với tôi được sống tới ngày hôm nay cùng các bạn là Hạnh Phúc lắm rối!

Bình ngọng K3.

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2010

Bói cá?


Dịp nghỉ lễ dài ngày vừa qua, tui chạy xuống Cần Giờ. Qua bắc Bình Khánh là chạy một mạch theo con đường mới làm vẫn còn đang chờ lún. Những cánh rừng đước, mắm ngút ngàn trải dài dọc đường đi. Qua nhiều cây cầu  bê tông lớn và cuối cùng là cây cầu nổi tiếng Dần Xây, qua ngã ba sông. Nơi đây quang cảnh tuyệt đẹp khi nhìn xuống từ trên cầu. Rừng mọc sát tới mép nước mênh mông. Biển Cần Giờ không thuận tiện cho tắm biển vì nước có nhiều phù sa, tuy thế trẻ con vẫn vô tư nô đùa với sóng. Bù lại các loài sinh vật khá phong phú. Trẻ con mò theo kè đá bắt cua, ốc mượn hồn...mấy bà tranh thủ kiếm hàu. Tui bắt gặp một chú chim săn cá ngay bên bờ nước. Khi sóng đánh vô, chú chạy lên chỗ cao hơn, khi sóng rút, chú quay lại và tranh thủ săn mồi. Tôi không biết tên chú chim này là gì, nghe nói bói cá có bộ lông sặc sỡ và nhỏ như con chào mào. Chú chim này to cỡ con chim cu, chân cao và rất nhanh. Chắc phải nhở tới chiên gia TM giúp nhận diện.

Chạy sóng
Trở lại, rình và...
chộp! miếng mồi không được lớn lắm...nhưng có nhiều để thưởng thức suốt ngày

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2010

65 năm Ngày Chiến Thắng Phát-xít Đức.




NGÀY CHIẾN THẮNG.





День Победы
Музыка: Д. Тухманов Слова: В. Харитонов
День Победы, как он был от нас далек,
Как в костре потухшем таял уголек.
Были версты, обгорелые, в пыли, -
Этот день мы приближали как могли.

Điệp khúc :

Этот День Победы
Порохом пропах,
Это праздник
С сединою на висках.
Это радость
Со слезами на глазах.
День Победы !
День Победы !
День Победы !

Дни и ночи у мартеновских печей
Не смыкала наша Родина очей.
Дни и ночи битву трудную вели -
Этот день мы приближали как могли.

Điệp khúc

Здравствуй, мама, возвратились мы не все...
Босиком бы пробежаться по росе !
Пол-Европы, прошагали, пол-Земли, -
Этот день мы приближали как могли.
Điệp khúc .

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

56 năm Ngày Chiến thắng trận Điện Biên Phủ



HOAN HÔ CHIẾN SỸ ĐIỆN BIÊN
Tố Hữu

Tin về nửa đêm
Hoả tốc ! Hoả tốc !
Ngựa bay lên dốc
Đuốc chạy sáng rừng
Chuông reo tin mừng
Loa kêu từng cửa
Làng bản đỏ đèn đỏ lửa...

Hoan hô chiến sỹ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp
Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp !
Vinh quang Tổ quốc chúng ta
Nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà !
Vinh quang Hồ Chí Minh
Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi
Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại !
Kháng chiến ba ngàn ngày
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như huân chương trên ngực
Dân tộc ta, dân tộc anh hùng !
Điện Biên vời vợi nghìn trùng
Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta
Đêm nay bè bạn gần xa
Tin về chắc cũng chan hoà vui chung...

Hoan hô chiến sỹ Điện Biên
Chiến sỹ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn !
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định mở đường
cho xe ta lên chiến trường tiếp viện

Và những chị, những anh, ngày đêm ra tiền tuyến
Mấy tầng mây, gió lớn mưa to
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn, xương tan thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh
Hỡi các chị, các anh
Trên chiến trường ngã xuống !
Máu của anh chị, của chúng ta, không uổng :
Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng,
Lũ chúng nó phải hàng, phải chết,
Quyết trận này quét sạch Điện Biên !
Quân giặc điên
Chúng bay chui xuống đất
Chúng bay chạy đằng trời ?
Trời không của chúng bay
Đạn ta rào lưới sắt !
Đất không của chúng bay
Đai thép ta thắt chặt !
Của ta, trời đất, đêm ngày
Núi kia, đồi nọ, sông này của ta !
Chúng bay chỉ một đường ra :
Một là tử địa, hai là tù binh.
Hạ súng xuống, rùng mình run rẩy
Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm !
Nghe trưa nay, tháng năm mồng bảy
Trên đầu bay, thác lửa hờn căm !
Trông : bốn mặt, luỹ hầm sập đổ
Tướng quân bay lố nhố cờ hàng
Trông : chúng ta cờ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng !
Hoan hô chiến sỹ Điện Biên !
Tiếng reo núi vọng sông rền
Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ
Bác đang cúi xuống bản đồ
Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo...
Từ khi vượt núi qua đèo
Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày
Tin về mừng thọ đêm nay
Chắc vui lòng Bác, giờ này đợi trông


Đồng chí Phạm Văn Đồng
Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ
Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành
Ngày mai, vào cuộc đấu tranh
Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smít
Anh sẽ nói : "Thực dân, phát xít
Đã tàn rồi !
Tổ quốc chúng tôi
Muốn độc lập, hoà bình trở lại
Không muốn lửa bom đổ xuống đầu con cái
Nước chúng tôi và nước các anh
Nếu còn say máu chiến tranh
Ở Việt Nam, các anh nên nhớ
Tre đã thành chông, sông là sông lửa
Và trận thắng Điện Biên
Cũng mới là bài học đầu tiên !"

05 - 1954.

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010

Giọt Tây Nguyên tí tách

  Năm ngoái tôi vào Tây Nguyên đi vội làm hùng hục uống quần quật. Chuyến năm nay thư thả hơn, có thì giờ “nếm náp” cảnh vật, con người - cả mới lẫn cũ, mà chưa thể là “tiêu biểu” của vùng đất được. Không vào vùng sâu rất khó tìm ra “gương mặt tiêu biểu”, khi hội diễn văn nghệ cỡ huyện có cả Then Tày, múa Chuông Dao, Quan họ Kinh… cạnh “đặc sản bản địa” cồng chiêng.
  Quốc lộ 14 xuyên Tây Nguyên trước thênh thang, có thể nhìn thấy cột bụi cao ba chục thước rong chơi trên đồi vắng. Giờ thì y như sông Hồng đoạn qua các đô thị, nó bị nhốt chặt. Dã quỳ không đung đưa cả vạt thành sóng mạnh, mà thưa thớt, đem về nhà cắm héo rũ ngay. Nhà gạch của người Kinh, sơ sài hay “hoành tráng lệ”, đều kè kè mặt đường, thỉnh thoảng chen vào căn nghĩa địa nhiều thập ác, vết tích của một làng Ba na hay Ê đê. Đôi chỗ “hàng rào” xây hở ra, trông thấy thung lũng lác đác nhà và bạt ngàn cà phê, khiến bật ra câu hỏi “Ô, thế cuộc sống dưới ấy thế nào nhỉ?”.
  Buôn Ma Thuột (tức “buôn của bố ông Y Thuột”), thủ phủ Đắc Lắc, khu công quyền và dân cư không có vẻ đặc trưng phố núi lắm. Phẳng phiu về địa hình, ít bản sắc kiến trúc, thật ít “đồng bào” đi bộ đeo gùi, thật nhiều tiếng Quảng, tiếng Bắc. Nổi bật là tượng đài xe tăng ở Ngã Sáu, toà biệt điện Bảo Đại, những gốc đa, long não còn tơ mà to cỡ cổ thụ trăm tuổi ngoài Thủ đô, vì đất quá tốt. Nhưng chịu khó ra ven ngoại, mà phải đi bộ, thì được chứng kiến một cuộc sống khác, thực hơn, có lẽ thế, với những cộng đồng dân cư, tôn giáo đa sắc hết sức.
  Đó là đường Phan Chu Trinh chạy rất dài, rẻo cuối ngự toà Giám mục duyên dáng mô phỏng nhà dài Ê đê. Duyên dáng là phải, vì do các sơ Thuỵ Điển, Pháp xây cách nay trăm năm có lẻ. Rẽ trái một chút là đụng buôn Akô Dhông của ca sĩ Y Zắc, một địa điểm du lịch. Xinh đẹp, phải nói thế, với những khuôn viên xén tỉa cẩn thận, dậu hoa chi chít bướm bay, “Shop Thổ cẩm” có cả khung cửi. Nhà già làng Ama H’rin chuyên tổ chức những đêm rượu cần cồng chiêng, khách Tây được múa với rốc ráp bên những cô gái đen giòn mình mẩy chắc nịch. Nhưng Akô Hdông không còn bến nước, một trong những biểu trưng buôn làng. Tôi đi tìm, người ta chỉ vào cái khe tù đọng vương vãi túi ni lông. Khoảng rừng thiêng, nơi cúng thần cây thần rừng lần cũng khó, người đàn ông tóc xoăn tít gặp trên đường hỏi gì cũng chỉ “Ừ!”. Lại nhớ câu ngậm ngùi cho văn hoá rừng của phó chủ tịch hội Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính: “Không giữ được đâu…”.
  Đó là phường Tự An dưới lũng thấp, chỗ cư trú của những tập người lên (hoặc vào) trước năm ’75, chi chít những kiến trúc tôn giáo. Bốn giờ chiều, chuông nhà thờ đổ dồn bên chuông chùa, tiếng trống phách đàn đáy đền Mẫu, những bà cụ khăn vấn áo dài, có nhẽ nói giọng Kim Sơn Phát Diệm. Chùa Phổ Minh mới trùng tu nguy nga ngự trên đồi, xuôi xuống cổng có tấm bia công đức ghi tên Phật tử hiến đất, “đạo hữu” - tức người Công giáo - bán đất cho chùa, và đôi rồng đá lớn cỡ đôi trong điện Kính Thiên Hà Nội, tất nhiên “mới cứng”. Có cảm giác các tôn giáo đều đang “hoằng dương” ở đây, trong khi bên chính quyền lại ấp ủ ý đồ làm một con hồ nương theo suối Ea Tam. Lũng thấp, êm đềm, mà có thể sẽ rất “nóng”.
  Buôn Ma Thuột có chừng mươi ngôi chùa, tuổi cao nhất là Khải Đoan, bà Từ Cung mẹ ông Bảo Đại làm năm 1950 để “kỉ niệm” mình – Đoan Huy hoàng hậu - với vua Khải Định, nguy nga đúng kiểu “chùa vua”. Thầy trụ trì tịnh xá Ngọc Quang thấy tôi chịu khó hỏi, chịu khó nghe, muốn tặng bộ Nam Hoa Kinh, tôi thưa không dám, vì tâm chưa tĩnh, chỉ xin cuốn “Nghi thức tụng niệm” mỏng.
  Giáp đường Phan Bội Châu gặp Điện Biên Phủ toạ đình Lạc Giao, ông Phan Hộ đưa dân Kinh từ Khánh Hoà lên xin tù trưởng Ama Thuột cho lập năm 1928. Đình là cấu trúc văn hoá – tôn giáo của người xuôi, hình như cả Tây Nguyên chỉ có ngôi này. Lạc Giao thờ thần hoàng bản thổ là Đào Duy Từ, mà hình như cụ Đào chỉ để lại dấu ấn Luỹ Thầy ngoài Quảng Bình chứ không khai phá gì trên cao nguyên sất. “Tôi gốc Nam Bộ, ba làm hội đồng nên như là có căn trông đình vậy”, ông trông coi tên Nguyễn Văn Bẩy tự giới thiệu trước khi châm chuyện quá khứ. “Buôn Ma Thuột xưa có chợ lợp tranh tre, gọi là “chợ Xổm” vì ngồi xổm bán. Rồi chính quyền cũ xây ngôi nhà lồng, họp đông đúc lắm, người Thượng ra thành từng đoàn để tránh cọp, nay phá đi, phá luôn hai nhà dài vĩ đại, rất tiếc. Đình Lạc Giao có suối Đốc học chảy phía trước làm Minh đường, bốn giờ chiều không ai đến nữa vì cọp về. Năm bảy lăm bị bom, rồi làm kho lương thực xập xệ, đến thời ông Lạng người Ninh Bình làm chủ tịch tỉnh mới trùng tu được, là 2005. Nhiều người không biết cứ gọi “đền”…
                                                                              

Mới xuống dốc lại quành lên dốc  
Đưa thăm xa thôi lại thăm gần  
Chưa tròn buổi phố chừng muốn hết  
Đã gì đâu mà em mỏi chân…
…Nay mai ta lại về với núi  
Đứng làm tượng đá ở sườn non…

  Tác giả của những câu thơ “hờn dỗi” ấy là Tạ Văn Sỹ, đang cầm phần thơ trong báo văn nghệ Kon Tum, một thời “kiêm” chạy xe ôm. Chiếc xe cà tàng có thể hỏng bất cứ lúc nào, ai ngờ lại chở một hồn thơ đi cả sáu tư tỉnh thành của đất nước, đến nỗi mấy cha Hội Nhà văn Việt Nam bảo sẽ đưa nó vào bảo tàng Hội, chừng nào… Lần này “hồn thơ” chở tôi dọc dọc phố núi Kon Tum, kể đây là chỗ đứng lại của giáo sĩ Thừa sai ở Bắc Tây Nguyên, sau chính quyền thực dân lập nhà ngục nổi tiếng. Đến thôn Kon Rơwang ở phường Thắng Lợi, ông chỉ cây kơ nia ngót trăm tuổi đứng cạnh ngôi nhà rông văn hoá (?), tiếc nuối: “Cái cây biểu tượng của Tây Nguyên này muốn hạ phải thấm nước vào lưỡi cưa, vì nhựa rất dẻo, còn khi khô đinh đóng vào còn quẹo. Chất độc khai quang của Mỹ không làm gì được kơ nia. Nó đã được trồng ở lăng Bác. Thế mà giờ tìm ở mấy đô thị Tây Nguyên thực khó”… “Kon Tum là “ngôi làng của ao hồ, đầm lầy” quanh dòng Đăk Bla, nhưng hình thái ấy đang biến mất, vì toà ngang dãy dọc mọc lên chiếm chỗ. Tôi đi Mường Khương – Lào Cai, thấy khi xây thị trấn người ta giữ lại khu rừng thiêng của người Mông, tới Ninh Bình ngắm được cây lộc vừng hai trăm tuổi, dân tranh đấu để thoát khỏi cơn điên quy hoạch. Thế là so sánh, là ý kiến, đến nỗi có người bảo tôi ghét Kon Tum".
  “Ghét” thế nào chứ như ông thi sĩ gốc Bình Định này thì phải ơn những ý ấy rồi. Sỹ quá yêu Kon Tum, hiểu nó từ trong hồn cốt, trân trọng những giá trị cội rễ. Và tôi thấy mình thật may mắn tới xứ này được ông làm “hướng dẫn”.
  A Jar lại là một may mắn khác. Vị trí thức bản địa này đang ngồi chân hội thẩm nhân dân toà án thành phố, giơ tay biểu quyết trong các cuộc họp HĐND tỉnh, phiên âm phần tiếng Xê đăng, Ba na của báo Kon Tum dân tộc ra a bờ cờ cho bà con đọc…, nghĩa là một “cầu nối” Kinh Thượng khá điển hình. Thế nhưng đoạn đường để có tưng nấy vị trí lại không dễ đi chút nào.
  Sinh năm 1947 ở Đăk Hà, chú bé A Jar sáng sủa được hưởng lộc từ chính sách sắc tộc của chế độ cũ, về thị xã học tiểu học, theo trung học ở Huế. Tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chính dưới Sài Gòn, anh về Phú Bổn làm Trưởng văn phòng Hội đồng tỉnh, vài tháng thì Tây Nguyên về tay Giải phóng. Có chữ “nguỵ” sau lưng, A Jar đi học tập ba tháng, về nhà lấy Y Pứk người Ba na, về làng vợ ở. Bắt đầu quãng đời kiếm sống, gùi sáu chục ký gạo muối đi Sa Thầy bán, mua về mật ong, thức rừng. Đời là chiếc xe lên rồi xuống, nắng mưa thay đổi lòng chán chường, như người ta đi thế chỉ thấy vất nhưng con người có chữ nghĩa trong đầu nó vật cho khổ hơn. 20 năm sau vận đổi, bắt đầu được dùng, bắt đầu tham gia…
  Nhà A Jar ở Plei Đon (Làng Gò), bên ngôi nhà rông nóc loăn xoăn “ngọn” rau dớn. Hơn mười năm qua, ông biên dịch 24 bộ sử thi, mỗi bộ “gỡ” từ khoảng 10 băng cát xét 90 phút, làm nửa năm thu triệu hai. NXB Khoa học xã hội đã in 10 bộ Ba na, 4 bộ Xê đăng trong số đó. Rồi dạy tiếng dân tộc cho cán bộ, bộ đội, khảo cứu phong tục, sưu tầm truyện cổ “Giông, Giỡ mồ côi từ nhỏ”, “Măng Lăng vu cáo cho Duông ăn cắp”. Tự học tiếng Anh, Pháp, bị vợ nhiếc “Muốn làm tổng trưởng à?”, đến khi hướng dẫn “tua” ba ngày đem về trăm đô, bà lại mừng húm. Tức thị đã qua thì chật vật kiếm sống, nhưng cái “tâm trạng trí thức” nó lại hành.
Dưới gốc nhãn già, trong cái nắng khô khốc, A Jar giỡ những nỗi…
  “Cán bộ đi thu âm trường ca bên Văn hoá là người Kinh, gặp nghệ nhân ngay ngắn không sao. Nhưng phải ông uống rượu, ông nhớ nhớ quên quên, tệ nhất là ông “tái bản” những đoạn đã đọc để “câu giờ” lấy tiền thì rất lộn xộn. Nhiều từ cổ thì phải hỏi người già. Và ai ngờ di sản lại lọt cả những chữ “24 giờ”, “chính sách” mới toanh vào nữa”.
  “Tôi thích sử thi, có giá trị mà không bận bịu chính trị. Mà mình dân tộc lại biết tiếng Kinh, làm từ khâu sưu tầm đến biên soạn, dịch thì mới kỹ. Tôi đã nhặt trên trăm câu tục ngữ Ba na, bao giờ đong đầy mong ra được sách, anh bảo phân theo hôn nhân, sản xuất, thời tiết… có nên không? Còn chuyện cổ viết lại thì chủ vị, xuống dòng nên thế nào nhỉ...?”
  A Jar ngoài sáu mươi, không còn nhiều thời gian lắm, muốn chỉ làm con kiến tha di sản (cũng đang “bay” theo người già) về. Nhưng cái sự chuyên nghiệp chưa nuôi nổi “kiến”…
                                                                          
                                                                        
So với Buôn Ma Thuột, Kon Tum, nhà cửa, chợ búa, con người bên Plei Ku cũng “tương tự”, nhưng đèo dốc nhiều, khí hậu mát hơn, ấn tượng phố núi rất rõ. Có những con dốc dựng ngược veo veo cánh sáo chao, những con đường đi mỏi chân không chán, tưởng đã tận lại quành sang nẻo khác. Nhà thơ Văn Công Hùng ở Hội Văn nghệ Gia Lai kể với cái giọng rền, rất hóm: “Xưa có lệ cúng Giàng con heo, nhưng cái đuôi cứ bị trai làng cắt ăn mất. Giàng giận đánh cái “bùm” thành Biển Hồ, tức cái hồ cấp nước ăn cho thành phố bây giờ. Và Plei (làng) có cái tên “Cu” (đuôi). Tôi làm quyển sách đầu tiên kể chuyện cổ dân tộc, đưa tích này lên đầu, bị ông trong thị uỷ đòi đuổi vì nói xấu địa phương…”.
  Tôi ở Wừu, con phố có cái tên đọc “đau cả mồm”, ngồi trên đỉnh dốc nhâm nhi câu “Uống cà phê phin không được “vội” như chè Thái”, “phát hiện” đơn giản mà mới mẻ với người Bắc vô. Thật lạ, ly nước trên bàn cứ trôi, giống như hồi sáng ăn mì Quảng thìa đũa chạy rần rần khi xe qua. Nhìn xuống, cái chỗ mình ngồi dông dốc, đầu này bước lên bậc thật cao, đầu kia nhào xuống chỗ thỏm. “Xứ này cái gì cũng nghiêng thế à?”

  Mùa thu trườn qua ngã tư 
 Người xe người xe đông cứng 
Mùa thu tiếng còi như thét
Em trùm mùa thu Ninja. 

Văn Công Hùng không đáp, mà đọc thơ làm hôm ra Hà Nội. Đến là tử tế!

Chú thích ảnh: Buôn Akô Dhông, Ban Mê Thuột, nhà dài Ê đê bên nhà gạch xây

  T Chiến 2009.

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2010

Gặp nhau mừng chiến thắng.

Được bí thơ thông báo có các bạn ở thủ đô vào cùng kỷ niệm 35 năm giải phóng, tui dự buổi liên hoan của công ty khoảng nửa tiếng rồi biến về địa điểm họp chi bộ. Các đại biểu từ HN đều là các CCB từng tham gia chiến dịch HCM năm đó T Hùng, T Kỳ, khi đó ở B2 cùng P Tiến. T H Đông F367, TM Đức PK Miền...Mọi người gặp nhau vui vẻ. Thành phần CB cũng đông hơn, có cả các DV thường ít họp lần này cũng tới như L Công, V Chiến, C Nhân...

T Hùng và TT Việt là hai CCB 30/4 từ thủ đô vào

T Kỳ, H Đông cũng là các CCB từ Hà lội

Trong hình này còn có PT Sinh đến từ Hải Phòng, vào trước nhóm T Hùng mấy ngày.

Nghe tin có chiến hữu từ HN, T Thắng K4 có mặt ngay.

Những người bạn cùng khóa (HVKTQS)

Đang gặp nhau vui vẻ, TV có chương trình gì đặc sắc nhỉ?

Thật trùng hợp, phụ huynh TH Đông cũng đang ở SG và đang trả lởi phỏng vấn trên chương trình TH giao lưu của những CCB tham gia giải phóng SG 35 năm trước. Trong khi cụ được mời trân trọng trên sân khấu giữa dinh Thống Nhất thì ông con cũng là CCB cùng các chiến hữu ngồi giao lưu trong căn tin nhỏ của học viện HK trên đường NTT. Cũng phải thôi, hầu hết anh em ta, nếu may mắn thì cũng chỉ tham gia được phần cuối của cuộc kháng chiến. Ngoại trừ d/c bí thơ chi bộ của chúng ta, với tám bằng dũng sỹ! 
Hôm sau, đúng 30/4 hội đại biểu HN sẽ chiêu đãi các bạn SG tại Cây Sứ

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2010

Lục thập hành như nguyện!


Do bận việc riêng, tui không được tham gia chuyến đi dã ngoại cùng mấy AE trong chi bộ Bình N. Sau chuyến đi, AE phấn khởi lắm, nhắc hoài các thu hoạch bổ ích từ chuyến đi bằng xe hơi tới khu nghỉ dưỡng Bình Châu với các suối nước nóng giúp phục hồi sức trẻ. Rồi thẳng tiến về thành phố biển Vũng Tàu sôi động với nhiều kỷ niệm  vui tươi sống động, mà vài kỳ họp chi bộ sau chuyến đi AE vẫn còn bình luận chưa dứt. Vũng Tàu 20 năm trước từng là địa bàn hoạt động của tui, tuy nhiên theo mô tả của AE thì nay đã khác xa, còn Bình Châu thì tui chưa tới (xa nhất mới chỉ đến Long Hải). Thiệt là tiếc quá, nếu không phải vì còn chút kẹt đời, đến giờ này vẫn còn phải cố làm việc thì tui cũng đã có thể vui vẻ cùng anh em! Dẫu sao, sinh hoạt chi bộ nào đều cũng rất có ích bởi đó là trí tuệ tập thể mừ! Trong cuộc họp gần đây, sử gia Công còm phát một câu ai cũng tâm đắc :" Người xưa có câu lục thập hành như nguyện..." Quả là chí lý, các cụ sáu sọi thì còn gì phải lăn tăn nhỉ, thích gì làm thôi, bất cứ chuyện gì! (làm được hay không là chuyện khác!). Tui tự nhủ, vậy thì sao tui không tự đi Bình Châu ? tự sướng? Mục tiêu chính là dò la thêm vài vũng nước để khi có điều kiện rủ HCQ đi bơi lặn cho đã. Tuy phải sau tui một năm HCQ mới tới cái tuổi "hành như nguyện" trên thực tế thì hắn đã hành như nguyện từ lâu rùi. 
      Tui không có xe hơi, cũng chẳng có bằng lái bốn bánh mà đã là đi dò la thì không thể nhảy xe đò được, làm sao tạt ngang, tạt ngửa? Chỉ còn cách quay lại với 2 bánh. Tiêu chí là xe phải khỏe, chạy đường dài, dễ điều khiển, không cần bẳng A2. Thế là lọ mọ lên mạng tìm ở mấy cái diễn đàn Biker xem loại nào phù hợp. Qua tìm hiểu mới thấy dân mình cũng mê moto gớm, mà thị trường cũng rất sẵn để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của dân chơi. Từ những con "khùng" hàng chục ngàn đô Harley Davidson, Triumph, Ducati...đến các em lai Tàu cỡ trên dưới ngàn đô. Tui cố tìm một con moto thật sự, xài côn chứ không phải xe tự động, sẵn phụ tùng, dễ bảo trì...Tất nhiên ở VN thì Honda là nhãn hiệu thông dụng nhất. Sau vài ngày tìm kiếm, tui tăm được một con Honda CBR 150 mới chạy 6 tháng, giá cũng phù hợp và quan trọng nhất là mua của chính chủ. Sau khi xem xe, tui quyết định lấy liền. Đây là dòng xe thể thao, tính năng tốt, không quá lớn như các xe phân khối lớn thông thường mà cũng không quá nhỏ như những xe số tự động phổ biến hiện nay. Động cơ 4 thì loại DOHC một xy lanh 150cc công suất 19 ngựa (xe Honda Air Blade 110cc 11 ngựa), làm mát bằng dung dịch, trọng lượng 115Kg và có tốc độ tối đa 160 Km/h. Chỉ có điều kiểu dáng xì po không phù hợp với cái tuổi hành như nguyện này lắm, mặc dù rất phù hợp với ông con 19 tuổi. 
Với chú ngựa sắt này, tui đã làm một chuyến đi Hồ Cốc - Bình Châu thuộc Bà Rịa-Vũng Tàu đi về trong ngày vào dịp nghỉ giỗ tổ Hùng Vương vừa qua.
  Sau đây là vài hình ảnh chuyến đi.
Xuất phát từ nhà lúc 6h00 sáng, chạy theo đường ngã 4 ga ra xa lộ Đại Hàn, xa lộ Hà Nội rồi QL 51. 
7h15 nghỉ ăn sáng tại Long Thành - khu căn cứ của Lothamilk -(Bò sữa Long Thành). 7h35 lại lên đường.  Suốt dọc đường đi đến Bà Rịa chỉ chạy 60 Km/h do qui định cho xe mô tô chỉ  được phép vậy. Chốc lại gặp biển cảnh báo lớn:" Đoạn đường này thường xuyên tổ chức bắn tốc độ..." 

Từ Long Thành tui chạy một mạch đến ngã ba Bà Rịa - Vũng Tàu thì quẹo vô Thị xã Bà Rịa nhắm hướng Long Điền chạy thẳng. Giờ đã không còn là QL nữa, tui chạy 80Km/h quãng 25 Km thì đến đây: Lối đi Hồ Cốc. Chuyến đi bắt đầu có ý nghĩa từ đây. Sau cổng trào này là bắt đầu rừng nguyên sinh suốt chặng đường 6Km đến bờ biển.

Phía trước - rừng,

Phía sau - cũng rừng, không khí trong lành...

Biển Hồ Cốc mới được đưa vào khai thác du lịch, vẫn còn rất hoang sơ. Cảnh trên hình là điểm đông du khách nhất trên tuyến 15 Km bở biển này

Một điểm được đánh dấu có thể là nơi bơi lặn tiềm năng: Bãi cát, nhiều vách đá với điều kiện không có sóng lớn. Suốt dọc đường bờ biển từ Hồ Cốc đến Bình Châu thì đây là một điểm đẹp, sát ngay đường.

Đơn thương độc mã, tui tự chộp cho mính một kiểu kỷ niệm ở điểm dừng này (lần sau phải mang chân máy để còn tự chụp).

Tiếp tục lên đường tới khu nghỉ dưỡng Bình Châu. Suốt tuyến đường hơn chục Km này là dọc theo bờ biển xinh đẹp đầy nắng và gió.

Bắt gặp những cảnh đầm phá nên thơ. Bác TM có ở đây thì tha hồ mà săn.

Dừng ngựa ngắm cảnh, đi xe đò sẽ chẳng có những cơ hội như thế này.

Chỗ này ngay sát biển nhưng không phải là biển, hai bên bờ vẫn là rừng tràm.

Rong ruổi, la cà mãi rồi cũng tới khu nghỉ dưỡng Bình Châu. Ở đây có nồi nước sôi diệu kỳ đêm ngày tuôn chảy biến vùng đất này thành khu nghỉ ngơi, an dưỡng lý tưởng. Cái rì sọt này nằm giửa rừng nguyên sinh, đi lại bên trong khu nghỉ dưỡng tui có cảm giác như hồi nào sống trong rừng Đại Từ, Bắc Thái.

Một tiếng ngâm chân trong nước khoáng 37 độ C. Thư giãn, nghe nhạc qua cái Walkman

và ngắm bầu trời xanh thẳm trên đầu. Công còm quá là có lý...Thập lục hành như nguyện!... Chết, suối nước nóng linh nghiệm quá đà rùi! Thực tế là  Lục thập....

   Sau khi tìm hiểu thêm các dịch vụ chăm sóc, nghỉ dưỡng khác như suối khoáng 80 độ C luộc trứng gà, hồ bơi nước khoáng 37 độ C, tắm bùn....15h00 tui lên đường trở về nhà. Dọc đường về nghỉ một chặng tại thị xã Bà Rịa uống cà phê cho tỉnh táo và khi qua Long Thành lại ghé căn cứ Lothamilk mua sữa tươi, sữa chua và trái cây cho mẹ Đốp và thằng ku ở nhà. 
Hy vọng rằng chuyến sau sẽ có thêm bạn đồng hành. Điểm đến thì vô kể, chỉ riêng Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ cũng cả chục rùi....chưa kể xa hơn, hay cao hơn.